Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
BÁO CÁO ĐỀ DẪN HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ
“DẠY HỌC CHO HỌC SINH LỚP 1 CÓ KHÓ KHĂN VỀ ĐỌC”
Nguyễn Thị Ly Kha *
.
PREFACE INTERNATIONAL CONFERENCE
“TEACHING FIRST YEAR STUDENTS
WITH SPECIAL NEEDS IN READING”
Kỹ năng đọc có ảnh hưởng quyết định đối với kết quả học tập. Hội Dyslexia
của tổ chức UNESCO ước tính trong tổng số trẻ đang đi học có 8% đến 10%, cá
biệt có những nơi lên đến 17% (trong đó 90% là trẻ em nam) có khó khăn về
đọc, mặc dù chỉ số IQ của những HS này từ mức trung bình trở lên và trẻ không
bị dị tật gì về cơ quan phát âm, lẫn cơ quan thị giác, thính giác [6]. Các nhà
nghiên cứu cũng ước tính chứng khó đọc ảnh hưởng tới 3% - 10% dân số thế
giới (dẫn theo [1], [3]). Có những nhà giáo dục học cho rằng thực trạng HS Việt
Nam “ngồi nhầm lớp”, như báo chí vẫn thường đề cập, có nguyên nhân từ thực
tế: nhiều HS mắc chứng khó đọc nhưng không được phát hiện và can thiệp trị
liệu kịp thời [2], [6]. Khó đọc là một chứng tật bẩm sinh. Trẻ mắc chứng khó đọc
sẽ có cơ hội và điều kiện thuận lợi để có thể khắc phục được tật này, đồng thời
giảm được nguy cơ suy kém các kỹ năng xã hội nếu chứng khó đọc ở trẻ được
phát hiện và can thiệp sớm ngay từ những năm đầu tiểu học, thậm chí ngay ở
giai đoạn trẻ học mẫu giáo [6]. Việc tìm kiếm và thực hiện các giải pháp trị liệu
chứng khó đọc đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới từ thế kỷ trước và
càng ngày càng có nhiều phương tiện, biện pháp hỗ trợ trị liệu chứng khó đọc
một cách kịp thời và có hiệu quả đáng ghi nhận. Song ở Việt Nam ngoài các
nghiên cứu của các tác giả Trần Trọng Thuỷ, Võ Thị Minh Chí (2009), Bùi Thế
Hợp (2013) cho đến nay hầu như chưa có một nghiên cứu nào cung cấp một
bức tranh toàn cảnh về chứng khó đọc của HS lớp 1 nói riêng và chứng khó đọc
của HS Việt Nam nói chung; cũng chưa có một nghiên cứu nào công bố một hệ
của HS lớp 1.
Việc hình thành kỹ năng đọc và viết cho trẻ trước khi vào lớp 1, được
PGS.TS. Nguyễn Thị Hạnh, Viện Nghiên cứu Giáo dục Việt Nam, nhìn nhận từ
bình diện tiếp cận tổng thể, xem việc hình thành kỹ năng tiền đọc, tiền viết là nội
dung trọng tâm trong hoạt động chuẩn bị cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi sẵn sàng đi học
lớp 1, với các giải pháp “cho trẻ tiếp cận từ nghĩa đến các chữ cái và quy tắc kết
hợp chữ để tạo tiếng, từ, câu”, “khuyến khích trẻ nêu ý tưởng cần biểu đạt đến
dùng các chữ cái và quy tắc kết hợp chữ để ghi tiếng, từ, câu biểu đạt ý tưởng
thành văn bản đơn giản”...
Quan tâm đến vấn đề dạy đọc cho HS lớp 1, TS. Vũ Thị Ân, ĐHSP TPHCM
bàn đến việc dạy đọc cho trẻ cần chú ý đến những ảnh hưởng của hệ thống âm
vị tiếng Việt, cũng như “cần tuân thủ nguyên tắc từ dễ đến khó, từ đơn giản đến
phức tạp”, “dung lượng của ngữ liệu và tốc độ dạy phải phù hợp với mức độ lĩnh
hội của trẻ”... Tác giả cũng đặt câu hỏi “có nên dạy học đọc sớm cho trẻ hay
không?”, “làm thế nào để có giờ học vui và hiệu quả”?...
Từ việc “bao quát các tư liệu liên quan đến dạy học đọc ở bậc tiểu học để
tìm hiểu và phát hiện những điểm tương đồng hoặc khác biệt trong cách hiểu các
khái niệm cơ bản về dạy đọc giữa các nhà nghiên cứu giáo dục ngôn ngữ trong
nước và quốc tế”, TS. Hoàng Thị Tuyết, ĐHSP TPHCM, cho rằng những khác
biệt ở “cách hiểu về đọc thành tiếng và đọc thầm, về các thành tố tạo nên năng
lực đọc nói chung và khả năng đọc lưu loát, về tính đa diện phức hợp của cơ chế
đọc hiểu cũng như đọc lưu loát theo hướng phát triển người học trở thành người
đọc độc lập”, buộc phải suy nghĩ về việc hợp lý hóa việc dạy và học đọc Tiếng
2
Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
Việt ở tiểu học, trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn, nhất là ở hai lớp đầu cấp tiểu
học. Trong đó, yêu cầu đọc lưu loát là một kết quả tiêu điểm nhất thiết phải đạt
pháp dạy từ vựng như trò chơi ngón tay cái, trò chơi đúng - sai, hoàn thành câu
minh hoạ ý nghĩa từ... của các bài viết đều có tác dụng tương hỗ giúp nâng cao
hiệu quả của hoạt động dạy học đọc cho HS ở các lớp đầu cấp.
Qua nghiên cứu bổ dọc trên số lượng 62 trẻ, từ lớp lá đến lớp 1 tại một số
trường của TPHCM bằng chương trình huấn luyện về ý thức âm vị để phát triển
khả năng nhận biết, suy nghĩ và thao tác trên các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ,
đặc biệt là âm vị, của trẻ em tuổi mẫu giáo, TS. Huỳnh Mai Trang, ĐHSP TPHCM
3
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
cho rằng việc thực hiện các chương trình huấn luyện phát triển ý thức âm vị
trong giai đoạn cuối mẫu giáo là một bước chuẩn bị có hiệu quả tích cực rất đáng
ghi nhận cho việc học ngôn ngữ viết ở đầu tiểu học.
Từ thực trạng nhiều phụ huynh của trẻ 5-6 tuổi rất băn khoăn giữa việc nên
hay không nên cho trẻ học đọc trước chương trình lớp 1, và qua nghiên cứu
thực nghiệm, tác giả Nguyễn Thị Thanh Trúc, Trường CĐSP Trung ương
TPHCM kết luận việc sử dụng trò chơi đọc truyện qua tranh là một giải pháp hữu
hiệu vừa đáp ứng nhu cầu vui chơi của trẻ vừa phát triển các kiến thức, kỹ năng,
nhất là phát triển kỹ năng tiền đọc, nhằm chuẩn bị cho trẻ học đọc ở trường tiểu
học một cách có hiệu quả.
Qua một nghiên cứu thử nghiệm bài tập Tự nhiên và Xã hội cho HS lớp 1,
tác giả Phạm Phương Anh đề xuất những cải tiến về nội dung, hình thức của các
bài tập Tự nhiên và Xã hội nhằm hỗ trợ rèn kỹ năng đọc, viết cho HS lớp 1 theo
quan điểm tích hợp trong dạy học ở các lớp đầu cấp tiểu học.
Chủ đề 2: Chẩn đoán học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc có 12 báo cáo
bàn đến dưới các góc độ cơ sở lý luận, cách thức chẩn đoán, vai trò của chẩn
đoán nhằm phát hiện sớm để hỗ trợ kịp thời, đúng phương pháp cho HS có khó
khăn về đọc.
test đánh giá, phương pháp đánh giá của các nhà khoa học, các nhà giáo dục
học Liên bang Nga, như bài tập yêu cầu trẻ kể trình tự, bài tập sao chép nhịp
điệu, sao chép chuỗi hành động, lặp lại các con số, qua các trò chơi “Nhịp điệu”,
“Nắm tay - lòng bàn tay và nắm cạnh bàn”; hoặc test “Chẩn đoán nhanh ngôn
ngữ nói của HS lớp 1” tìm hiểu về mức độ cảm giác vận động của lời nói về các
nội dung nhận thức âm vị, tình trạng của các kỹ năng vận động, cấu trúc ngữ
pháp lời nói, vốn từ, kỹ năng sử dụng từ, kỹ năng tạo lập văn bản của HS; bài
mẫu cùng kỹ thuật đánh giá khả năng nhận thức âm vị...
Qua nghiên cứu “Hỗ trợ HS lớp 1 khó đọc tại trường tiểu học”, ThS. Nguyễn
Thị Kim Hoa, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và tác giả Nguyễn Ngọc Linh,
Viện Nghiên cứu xây dựng phát triển xã hội học tập, đã mô tả quy trình, công cụ,
cách thức đánh giá để chẩn đoán HS khó đọc, như sử dụng Bảng kiểm phát hiện
khó khăn về đọc, viết, tính toán của Trung tâm quốc gia về khó khăn về học Hoa Kỳ nhằm phát hiện những HS nghi ngờ mắc chứng khó đọc, dùng Trắc
nghiệm trí tuệ trẻ em Wechsler-IV, tiếp theo đó là việc sử dụng Bộ công cụ đánh
giá khả năng học tập của HS tiểu học...
Qua báo cáo “Dạy học đọc từ tiếp cận tâm lý học thần kinh – một cơ hội
cho trẻ khó đọc”, PGS.TS. Võ Thị Minh Chí, ĐHSP Hà Nội giới thiệu các triệu
chứng, các lỗi chính thuộc dạng khó đọc kiểu quang học giúp cho việc chẩn
đoán được đúng đắn, tránh tình trạng “dán nhãn”, tình trạng chẩn đoán sai.
Với bài viết “Chứng dyslexia với chất lượng học tập của HS lớp 1”, TS. Trần
Thị Thu Mai, ĐHSP TPHCM trình bày tình trạng gây cản trở sự phát triển của các
kỹ năng ngôn ngữ của trẻ như khó khăn khi đọc và đánh vần, viết chính tả; kỹ
năng nhận biết âm vị kém; nhầm lẫn phương hướng, không nhớ trình tự các
bước của một thao tác, học vẹt những điều không có nghĩa, khó làm toán, khó
học xem đồng hồ, kỹ năng tổ chức, sắp xếp kém... Tác giả Trần Thị Tú Uyên
cũng nêu những biểu hiện chính về tâm lý của HS lớp 1 mắc chứng Dyslexia,
giúp GV có thêm những dấu hiệu để nhận diện đúng trẻ có khó khăn về đọc.
Bài “Phát hiện để can thiệp sớm cho trẻ có khó khăn về đọc” trình bày kết
quả nghiên cứu của Joseph K. Torgesen và các cộng sự trong thời gian hơn 20
năm. Bài viết đề xuất các biện pháp và hệ thống các kiểu bài kiểm tra trẻ lớp cuối
Nam, khuyến nghị khi chẩn đoán trẻ khó đọc tránh nhầm lẫn với đặc điểm ngôn
ngữ chưa hoàn thiện ở trẻ và đặc điểm phương ngữ. Sự phân biệt này không chỉ
giúp cho việc đánh giá khả năng đọc, viết của học sinh lớp 1 mà còn giúp can
thiệp sớm cho khoảng 10% học sinh ở tiểu học gặp khó khăn về đọc, viết do
nhiều nguyên nhân khác nhau.
Khảo sát mẫu quá trình âm vị ở trẻ em Việt Nam, chuyên viên Âm ngữ trị
liệu của Bệnh viện Nhi Đồng 1, Đỗ Thị Bích Thuận và Hoàng Văn Quyên cung
cấp một mô tả khởi đầu về những lỗi phát âm, các quy trình âm vị được tìm thấy
trong lời nói của trẻ Việt Nam nói tiếng Việt với hy vọng từ kết quả nghiên cứu
này và những nghiên cứu trong tương lai về mẫu quy trình âm vị sẽ cung cấp
nguồn tư liệu cho hoạt động giảng dạy, điều trị cho trẻ có khó khăn về lời nói.
Chủ đề 3: Hỗ trợ cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc
Giúp đỡ, hỗ trợ HS lớp 1 có khó khăn về đọc được nhiều tác giả quan tâm
dưới nhiều bình diện can thiệp hỗ trợ tâm lý, vận động, tri nhận không gian, nhận
thức âm vị, nhận thức chính tả, mở rộng vốn từ, cùng hệ thống bài tập, phương
6
Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
pháp, phương tiện dạy học... Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 21 báo cáo về
vấn đề này.
Qua báo cáo “Dạy học đọc từ tiếp cận tâm lý học thần kinh – một cơ hội
cho trẻ khó đọc”, PGS.TS. Võ Thị Minh Chí, ĐHSP Hà Nội khẳng định “Dạy đọc
cho trẻ khó đọc do chậm phát triển các vùng chức năng trên não là hoàn toàn
khả thi, nếu trẻ được chẩn đoán đúng về định khu vùng chậm phát triển (dưới
góc độ Tâm lý học thần kinh) và có tác động phù hợp với mức độ phát triển hiện
có ở trẻ”. Tác giả tập trung giới thiệu các lỗi chính thuộc dạng khó đọc kiểu
quang học như khó đọc kiểu loạn ngôn, khó đọc kiểu loạn ngữ nghĩa, cùng các
triệu chứng và phương pháp chính trong dạy đọc chỉnh trị cho trẻ khó đọc kiểu
7
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
hiện nay tại một số trường tiểu học trên địa bàn TPHCM, từ đó đề xuất một số
giải pháp nhằm thực hiện công tác quản lý này tốt hơn.
Tác giả Robert Dupré, chuyên viên hoạt động trị liệu Hội AMPHORE Pháp,
với báo cáo “Mất phối hợp giữa động tác nhìn và không gian” đã trình bày hội
chứng rối loạn phối hợp giữa động tác mắt và không gian với những phân tích cụ
thể. Tác giả cũng giới thiệu các bài kiểm tra trắc nghiệm nhận thức thị giác và
các phương pháp can thiệp trị liệu, cung cấp các chiến lược cho GV và phụ
huynh trong việc hỗ trợ các HS có khó khăn về vấn đề này.
“Báo cáo một trường hợp khó khăn về học do mất phối hợp động tác nhìn không gian” của BS Lê Tường Giao, Bệnh viện Nhi Đồng 1 mô tả việc can thiệp
trị liệu cho 1 HS khó khăn về học do mất phối hợp động tác nhìn - không gian.
Sau 3 tháng, tập luyện cơ mắt, tái huấn luyện động tác nhìn theo một chương
trình CD có sẵn trong 20 tuần liên tiếp, với tổng số thời gian khoảng 60 giờ; thực
hiện các bài tập huấn luyện sự xác định vị trí và sự tương quan trong không gian,
kết quả môn hình học của HS Ph. từ 0/3 điểm được nâng lên 2/3 điểm.
Qua nghiên cứu thực nghiệm “Hỗ trợ HS lớp 1 khó đọc tại trường tiểu học”,
ThS. Nguyễn Thị Kim Hoa, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, tác giả Nguyễn
Ngọc Linh, Viện Nghiên cứu xây dựng phát triển xã hội học tập, mô tả vắn tắt
quá trình tiến hành hỗ trợ nhóm HS lớp 1 khó đọc ở một trường tiểu học, thuộc
thành phố Hà Nội đồng thời giới thiệu một mô hình hỗ trợ và các bài tập cùng
biện pháp sử dụng chúng.
Biện pháp “Mở rộng khoảng cách giữa các chữ cái cải thiện việc đọc cho
người mắc chứng khó đọc” với công cụ giúp cho kỹ thuật này được TS.
Johannes C. Ziegler, Phòng Thí nghiệm Tâm lý học tri nhận, Trung tâm Nghiên
cứu khoa học Quốc gia và Đại học Aix-Marseille, Pháp giới thiệu và mô tả. TS.
Johannes cho rằng biện pháp tăng khoảng cách giữa các chữ cái trong các từ và
giữa các từ trong văn bản sẽ có hiệu quả đáng kể trong việc cải thiện tốc độ đọc
quan cùng biện pháp trò chơi, tác động cá nhân và tác động trong nhóm nhỏ.
Nghiên cứu thử nghiệm 35 bài tập nhận thức chính tả có ứng dụng công
nghệ thông tin can thiệp trị liệu cho 3 HS lớp 1 ở Trường Tiểu học Đ.V.N,
TPHCM trong sự đối chứng với nhóm HS lớp 1 mắc chứng khó đọc, các tác giả
Huỳnh Thanh Trúc, Võ Thị Tuyết Mai, Phạm Tường Yến Vũ, Vũ Ngọc Mai Nhi,
Võ Ngọc Nhi, SV năm thứ 4, Khoa Giáo dục Tiểu học ĐHSP TPHCM cho biết với
thế mạnh về đa hiệu ứng, màu sắc, âm thanh, bài tập nhận thức chính tả có ứng
dụng công nghệ thông tin đã giúp HS lớp 1 mắc chứng khó đọc khắc phục nhầm
lẫn các âm vần khi đọc, viết. Đồng thời tốc độ đọc, viết của các em cũng tăng lên
rõ rệt.
Nghiên cứu về tác dụng của bài tập mở rộng vốn từ qua thực nghiệm cho
một nhóm HS lớp 1 được chẩn đoán mắc chứng khó đọc, PGS.TS. Nguyễn Thị
Ly Kha cho rằng bài tập mở rộng vốn từ cũng là một loại bài tập có tác dụng tích
cực trong việc cải thiện năng lực đọc cho trẻ có khó khăn về đọc. Kiểu bài tập
này cần được tiến hành đồng thời với bài tập thức âm vị, nhận thức chính tả, đọc
lưu loát và đọc hiểu.
Tìm hiểu hệ thống bài tập rèn kỹ năng đọc và phân biệt âm vần trong SGK
Tiếng Việt 1, tác giả Nguyễn Thị Thu Trang nhận xét có không ít bài tập chưa
phù hợp với HS có khó khăn về đọc. Phác thảo và thực hiện thử nghiệm bài tập
có ứng dụng công nghệ thông tin cho 4 HS lớp 1 có khó khăn về đọc, tác giả cho
rằng hệ thống bài tập này hứa hẹn sẽ hỗ trợ một cách hiệu quả cho những HS
lớp 1 khó đọc.
Qua bài viết “Trẻ khó học và một số biện pháp dạy trẻ khó học, TS. Lê Thị
Minh Hà, Trường ĐHSP TPHCM, cho rằng với trẻ khó học cần sử dụng các biện
pháp dạy học: giải quyết các nhu cầu học tập và sinh hoạt của trẻ, quan sát trẻ
9
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
bài viết “Vai trò của GVCN lớp với HS mắc chứng khó đọc” cho rằng để giúp trẻ
mắc chứng khó đọc, trong dạy học, người GVCN ngoài việc nắm đặc điểm tâm,
sinh lý của trẻ cần phối hợp vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp, và kết hợp
phụ huynh để có thêm những kinh nghiệm giúp đỡ trẻ.
Trực tiếp dạy học HS lớp 1, tác giả Nguyễn Thị Mỹ, giáo viên Trường Tiểu
học Nhuận Đức, huyện Củ Chi TPHCM trình bày những kinh nghiệm, những khó
khăn qua bài viết “Dạy học môn Tập đọc cho HS lớp 1 đọc kém”.
Do giới hạn của thời gian tập hợp bài viết cho Hội thảo và do giới hạn số
10
Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
trang của một Kỷ yếu Hội thảo, nhiều nghiên cứu về dạy học cho HS có khó
khăn về đọc chưa được tập hợp và giới thiệu trong Kỷ yếu này, hy vọng sẽ được
các tác giả công bố ở những Hội thảo khoa học, ở những tạp chí khoa học khác.
Qua 46 báo cáo tham luận có thể nói bức tranh dạy học cho HS lớp 1 có khó
khăn về đọc ở TPHCM nói riêng và Việt Nam nói chung đã được phác hoạ khá
rõ nét trên các phương diện: lý luận, thực tiễn, giải pháp... Ban Tổ chức Hội thảo
hy vọng rằng những tham luận được trình bày trên diễn đàn, cũng như những
bài viết được đăng trong kỷ yếu sẽ được quan tâm chú ý, thảo luận tại Hội thảo
và sau Hội thảo, để sau Hội thảo chúng ta sẽ có những tác động tích cực hơn
nữa, hiệu quả hơn nữa đối với hoạt động dạy học cho học sinh lớp 1 có khó
khăn về đọc.
Thay mặt Ban Tổ chức Hội thảo, Ban Biên tập Kỷ yếu Hội thảo, chúng tôi xin
được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Ban Giám hiệu, Phòng
Khoa học Công nghệ và Môi trường - Tạp chí Khoa học, Phòng Hợp tác Quốc tế
cùng các phòng ban chức năng Trường ĐHSP TPHCM, Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ
Giáo dục và Đào tạo, NXB Đại học Sư phạm TPHCM, Khoa Vật lý Trị liệu và
Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM, Ban điều hành Chương trình
Phạm
Ngọc
Thanh
(2010),
“Khó
khăn
sid=7&nid=2342.
6.
Trường ĐHSP TPHCM (2013), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế “Dạy học
cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”, NXB Đại học Sư phạm TPHCM.
7.
UNESCO (2010), Report of World Dyslexia forum, Paris.
11
học
tập”,
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
ĐỂ CÓ THÀNH CÔNG CỦA HỌC SINH
TRONG GIỜ HỌC TIẾNG VIỆT
NHỮNG NGÀY ĐẦU ĐẾN TRƯỜNG
Lê Phương Nga *
*
GS.TS. Trường ĐHSP Hà Nội.
12
Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
6 – 7 tuổi quả thật sẽ chẳng “vui thật là vui” chút nào. Chính vì vậy, để giúp
HS vượt qua được cửa ải này, tạo được động cơ và hứng thú học tập tiếng
mẹ đẻ cho các em, ngay từ những ngày đầu các em đến trường, người GV
tiểu học cần biết tổ chức quá trình dạy học theo một chiến lược lạc quan:
chú trọng vào mặt thành công của HS.
Để tuân thủ nguyên tắc dạy học lạc quan, trước hết chúng ta phải tạo
động cơ, hứng thú học tập tiếng Việt bằng cách cho HS thấy lợi ích của việc
học tập nói chung, của học chữ nói riêng. Trẻ em cho rằng học là một sự
chịu khổ, một cực hình, người ta phải học để tránh một tương lai đen tối sẽ
đến trong hơn 10 năm nữa. Chúng ta nên nói về lợi ích của việc học một
cách tích cực và thiết thực hơn: “Con mà biết chữ thì thật là thú vị. Cô có
thể viết cho con lời nhắn, con có thể đọc truyện…”, “Con làm được một đồ
chơi đẹp, vẽ được một bức tranh đẹp, làm thế nào để mẹ và cô biết là của
con. Hãy học để viết tên mình nhé”, “Và đây là căn nhà đầy đồ chơi. Chìa
khóa để mở có ghi một chữ, ai biết đọc sẽ mở được ngay”, “Còn đây là một
vương quốc thật diệu kỳ dành cho những người biết đọc, biết viết”…
Thật ra mỗi giai đoạn của cuộc đời có hạnh phúc của chính nó chứ
không chỉ nhằm chuẩn bị cho giai đoạn sau. Học là hạnh phúc không chỉ vì
những lợi ích nó sẽ mang lại mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự
học. Chính vì vậy, bên cạnh việc giáo dục tính mục đích, tính kỷ luật, ý
thức về trách nhiệm v.v…, các nhà sư phạm phải tổ chức cuộc sống ở
và chữ “dờ” (d) lại cứ lẫn? Tại sao có mỗi “ai” với “ay” lại cứ viết lộn
hoài? Tại sao lại phải nhảy như choi choi, không chịu ngồi cho yên? v.v..
Người GV tiểu học phải có sự hiểu biết về HS, hình dung thấy hết
những khó khăn mà các em gặp phải trong học tập để bình tĩnh trước những
sai sót của các em và có biện pháp phòng ngừa. Họ phải biết tự bảo “Ấy,
như thế mới là HS tiểu học” và biết cách hướng dẫn trẻ em tránh những sai
lầm. Thay vì đứng che mất cả bảng viết một chữ O và quay lại yêu cầu HS
“Các em hãy viết chữ O, cố gắng viết cho tròn”, cô giáo sẽ hướng dẫn viết
chữ O trên một khung chữ hình chữ nhật với bốn điểm tọa độ là 4 điểm
giữa của các cạnh khung chữ. Và việc viết chữ O được phân tách ra thành 4
bước từ tọa độ 1 đến tọa độ 2, từ 2 đến 3, từ 3 đến 4, từ 4 đến 1. Đó là một
quy trình tối ưu có khả năng cho kết quả có chữ O tròn trặn như hình quả
trứng cho những em thuận tay phải. Việc nhầm các con chữ b, d, p, q ở HS
là tất yếu vì 4 con chữ này đều được tổ hợp từ 2 nét, nét con kín và nét sổ
thẳng, chỉ có cách kết hợp, tức là vị trí tương đối của 2 nét này (phải, trái,
trên, dưới) thay đổi mà thôi. Trong khi đó khả năng nhận biết mối quan hệ
của các yếu tố, khả năng định vị của trẻ em còn yếu. Nhờ biết được điều
này, GV không than thở về những nhầm lẫn ở HS mà giới thiệu những mẫu
chữ này trong thế đối chiếu với nhau, đưa ra trước những điểm phải lưu ý
khi nhận diện.
14
Hội thảo Quốc tế “Dạy học cho học sinh lớp 1 có khó khăn về đọc”
Việc tuân thủ một đường hướng dạy học đặc biệt cho trẻ em tiểu học
không chỉ thể hiện trong việc lựa chọn nội dung dạy học và tổ chức các
bước lên lớp. Đây là đòi hỏi dành cho những người soạn chương trình và
viết SGK và tài liệu hướng dẫn giảng dạy. Ở đây chúng ta chỉ nói đến
15
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
một hồi: “Thế mà cũng đòi giơ tay. Giơ tay xung phong rồi còn hỏi cô hỏi
gì. Lần sau biết thì giơ tay, không biết thì thôi nhé. Ngồi xuống!”. Cô giáo
thứ hai vẫn từ tốn nói: “Con biết giơ tay xây dựng bài, thế là tốt. Nhưng lần
sau con nhớ nghe hiểu câu hỏi rồi mới xung phong trả lời nhé. Còn bây giờ
hãy chú ý nghe hiểu câu hỏi của cô”. Chúng ta dễ dàng đoán được hai kết
cục khác nhau. Em HS trong trường hợp thứ nhất sẽ không dám giơ tay xin
phát biểu nữa. Còn em HS trong trường hợp thứ hai sẽ biết chú ý hơn và
vẫn tự tin xung phong phát biểu trong những lần sau đó.
Cái gì sẽ giúp cho HS nhiều hơn: chỉ ra thật nhiều lỗi ở các em hay là
chú trọng vào những kết quả thành công đã đạt được? Cái gì có lợi cho các
em hơn: đau khổ vì thất bại hay vui sướng vì thành công? Chúng ta lấy một
ví dụ, HS đang tập viết vào bảng con. Mắt cô giáo chợt sáng lên (dường
như là vui sướng) khi phát hiện ra một em viết sai, không đúng mẫu. Cô
cầm ngay bài viết của em đưa ra trước lớp yêu cầu các em khác nhận xét.
Thế là 4, 5 em thay nhau nói về những sai sót của bạn mình. Cô giáo cho
rằng như thế là “phát huy tính tích cực của HS”, là “dạy học bằng tập thể”.
Cô đã sai lầm. Không nên bêu xấu trẻ em trước tập thể. Lẽ ra cô nên nhắc
em HS này xem lại để tự chữa chữ viết của mình. Một ví dụ khác, trong bài
viết chính tả của Tuấn có chữ “bàno” và cô giáo đã không thương tiếc: “Sao
Tuấn viết sai lạ lùng thế? Làm gì có chữ “bà no” hay “bàn o”, không thể
tưởng tượng được”. Ở đây cô giáo đã sai lầm, sai lầm trong việc xác định
nguyên nhân của sự kiện và sai lầm cả trong cách thức làm việc với HS. Lẽ
ra cô phải nhận xét: Tuấn thật là giỏi, bạn định viết chữ “bàng” nhưng đã
kịp nhận ra và chữa lại cho đúng thành “bàn” (Ở tiểu học nhiều GV quy
ước gạch dưới chữ viết sai chứ không gạch đè lên). Như vậy Tuấn sẽ nhớ
là cho phép chúng ta khắt khe trong đánh giá và chặt chẽ khi cho điểm, Đạt
được thành công trong học tập sẽ tạo ra hứng thú và niềm say mê trong học
tập. Chỉ có thành công, niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi
thành công mới là nguồn gốc thật sự của ham muốn học hỏi. Một trong
những nguyên nhân khiến HS không thích học tiếng Việt bằng Toán là do
cách cho điểm của chúng ta. Đọc, viết như thế nào, GV cũng có thể tìm ra
chỗ “có thể chê được”. Còn về điểm số thì các em dễ dàng cố gắng để được
điểm 9, điểm 10 toán hơn còn đọc, viết được điểm 8 là quá tốt rồi (!).
Chúng ta cần hiểu rằng, đọc, nói, viết có hay đến mấy, sâu sắc đến mấy vẫn
có thể hay hơn, sâu sắc hơn. GV cần thấy “tính mức độ” này để đánh giá,
cho điểm hợp lý và khuyến khích, kích thích HS học tốt hơn. GV cần phải
tự đặt ra câu hỏi “Chúng ta có quyền đặt yêu cầu gì với HS lớp 1, lớp 2?”.
Có những GV không bao giờ cho điểm 10 trong giờ Tiếng Việt. Làm như
thế là không đúng. Không nên áp đặt cách hiểu của mình cho HS, nhiều khi
ta gặp phải cách hiểu rất lạ của HS mà ta không lường trước được. Đừng
vội vàng phản ứng ngay. Có thể các em đã sai. Trong những cái sai của các
em có thể có một cái lý gì đó buộc chúng ta phải suy nghĩ để điều chỉnh
17
Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường ĐHSP TPHCM, 6/2013
cách dạy của mình. Và trong sự khác lạ đó có thể ẩn chứa một mầm mống
của sự sáng tạo.
Thật là hạnh phúc cho những HS được học với những GV có tay nghề
vững vàng, có yêu cầu cao đối với HS, có vẻ mặt vui tươi, có thái độ nâng
đỡ, khuyến khích, có niềm tin và cách nhìn lạc quan đối với học trò của
mình. Những HS này sẽ dễ dàng trở thành những con người tự tin và thành
công sau này.
viết này nêu lên một hướng tiếp cận theo quan điểm tổng thể nhằm hình thành những kỹ
năng tiền đọc, tiền viết một cách tự nhiên cho trẻ trước khi vào lớp 1.
Từ khóa: quan điểm tiếp cận tổng thể, sự sẵn sàng đi học, trẻ lớp 1.
TEACHING READING AND WRITING SKILLS TO CHILDREN
BEFORE THE FIRST YEAR AT PRIMARY SCHOOLS
Abstract
The teaching approach of current national Vietnamese language textbooks could
cause some obstacles for first-year students to learn naturally and enthusiastically.
Therefore, this article suggested an approach of whole language teaching to help 5years-old students obtain pre-reading and pre-writing skills for learning Vietnamese
language at primary schools.
Keywords: whole language teaching, readiness to learn, first-year students.
1. Những thách thức từ thực tế
Hiện nay có một số thực trạng khá phổ biến:
– Ở nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, vùng kinh tế tương đối phát triển
của nước ta, khoảng cuối năm học của mẫu giáo 5 tuổi, có hiện tượng PH
HS cho con đang học lớp mẫu giáo nghỉ học trên lớp hoặc đi học không liên
tục để đưa các cháu đến những địa điểm có GV tiểu học dạy đọc và viết chữ
(địa điểm hình thành tự phát, không có tổ chức). Một số PH khác có cách
làm tương tự: đến kỳ nghỉ hè, đưa các cháu vừa kết thúc lớp mẫu giáo 5
tuổi đến các địa điểm nói trên học đọc và viết chữ. Hệ lụy của thực trạng
này là các cháu mẫu giáo 5 tuổi không được thụ hưởng trọn vẹn chương
*
PGS.TS. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
19
nguyên nhân của từng biểu hiện đó:
a) HS rụt rè, thiếu tự tin trong môi trường học tập ở trường tiểu học: nói
nhỏ trước đông người, đôi khi khóc hoặc luống cuống vì không làm được
20