SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ CÁC GIẢI PHÁP DẠY HỌC SINH LỚP 7 VIẾT VĂN BIỂU
CẢM ”
1
PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ
Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của
con người .
Là một môn học thuộc nhóm khoa học và xã hội, môn Ngữ văn có tầm quan trọng
trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Đồng thời cũng là môn
học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học
khác. Học tốt môn Ngữ văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các
môn học khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn.
Môn Ngữ văn trong nhà trường bậc THCS chia làm ba phân môn : Văn học, Tiếng
Việt, Tập làm văn. Trong thực tế dạy và học, phân môn Tập làm văn là phân môn được
coi là khó nhất. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói
“ Dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình bày tỏ một
cách trung thành, sáng tỏ, chính xác làm nổi bật điều mình muốn nói” (Dạy văn là một
quá trình rèn luyện toàn diện, nghiên cứu giáo dục số 28, 11/ 1973)
Năm học 2012-2013, tôi được phân công dạy môn Ngữ văn 7, tôi nhận thấy mặc dù
biểu lộ tình cảm, cảm xúc là nhu cầu thiết yếu của con người nhưng học sinh chưa biết
cách bộc lộ cảm xúc của mình để “ khơi gợi lòng đồng cảm nơi người đọc’’. Khi hành
văn các em còn lẫn lộn, chưa phân biệt rạch ròi giữa văn biểu cảm với các thể loại văn
khác. Chính vì thế điểm kiểm tra bài văn biểu cảm chưa cao. Chính vì lý do này tôi muốn
đưa ra “ Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm”.
PHẦN B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
Văn biểu cảm là tiếng nói tình cảm hết sức phong phú của con người. Đối tượng
của phương thức biểu đạt này không phải là phong cảnh, đồ vật hay bức tranh về cuộc
sống con người như ở văn miêu tả, cũng không phải là những số phận, những cảnh đời,
những sự việc như ở văn tự sự mà là thế giới tinh thần muôn hình, muôn vẻ với những tư
sự để bộc lộ thái độ, tình cảm gián tiếp thông qua những đối tượng, những hình ảnh có ý
nghĩa ẩn dụ.
Tuy nhiên, khi vận dụng phương thức miêu tả và tự sự vào văn biểu cảm thì cũng
cần lưu ý: có tả thì cũng không tả một cách cụ thể, hoàn chỉnh; có kể thì cũng không kể
một cách chi tiết, đầy đủ, rõ ràng. Người viết văn biểu cảm chỉ chọn những đặc điểm,
những sự việc, những thuộc tính nào đó có khả năng gợi cảm để biểu hiện tư tưởng, tình
cảm của mình.
Về bố cục, bài văn biểu cảm cũng được tổ chức theo mạch cảm xúc của người viết.
Do vậy, trình tự các ý, các phần trong văn biểu cảm thường được sắp xếp rất tự nhiên,
không gò bó cứng nhắc. Về thái độ, tình cảm, phải đảm bảo tính chân thực, trong sáng, rõ
3
ràng, có nghĩa là không được giả dối, sáo rỗng. Có như vậy, văn biểu cảm mới đi vào
lòng người.
1.2. Giúp học sinh nắm được cách làm bài văn biểu cảm:
Bước 1: Xác định yêu cầu của đề và tìm ý: Phải căn cứ vào các từ ngữ và cấu trúc của đề
bài để xác định nội dung, tư tưởng, tình cảm mà văn bản sẽ viết cần phải hướng tới. Từ
đó đặt câu hỏi để tìm ý (nội dung văn bản sẽ nói về điều gì? Qua đó cần bộc lộ thái độ,
tình cảm gì?)
Bước 2 : Xây dựng bố cục (dàn bài).
Bố cục của văn biểu cảm cũng bao gồm ba phần: Mở bài – Thơ bài – kết bài. Tuy
nhiên việc sắp xếp ý để tạo thành một bố cục hoàn chỉnh phụ thuộc vào mạch cảm xúc
của người viết, không hề máy móc áp đặt một kiểu nào. Nhưng dù sao thì phần mở bài và
kết bài thường là những câu văn nêu cảm nhận chung hoặc nâng lên thành tư tưởng, tình
cảm khái quát. Các ý lớn nhỏ trong phần thân bài phải được sắp xếp hợp với diễn biến
tâm lý của con người trước từng sự việc, đối tượng.
Mở bài: Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian. Cảm xúc
ban đầu của mình.
Thân bài: Qua miêu tả, tự sự mà biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết,
sâu sắc.
Kết bài: kết đọng cảm xúc, ý nghĩ hoặc nâng lên bài học tư tưởng.
- Hồi tưởng qúa khứ, nhắc lại những kỉ niệm về cây bàng trong kí ức tuổi thơ em.
- Quan sát để suy ngẫm.
- Liên hệ hiện tại và tương lai.
Từ các cách lập ý này để triển khai thành những nội dung cụ thể cho bài văn biểu
cảm.
1.4. Giúp học sinh đưa yếu tố miêu tả và tự sự trong văn biểu cảm:
A - Đối tượng biểu cảm trong một bài văn biểu cảm là cảnh vật, con người và sự
việc. Không có sự biểu cảm chung chung. Cái gì, vật gì, việc gì… làm ta xúc động? Vì
thế muốn bày tỏ tình cảm, muốn bộc lộ cảm xúc người viết phải thông qua miêu tả và tự
sự.
Ví dụ: Bài tập trang 89- SGK Ngữ văn 7- tập I:
“ …Tuổi thơ tôi đã hằn sâu trong kí ức những ngọn núi trông xa lấp lánh như kim
cương, lúc xanh mờ, khi xanh thẫm, lúc tím lơ, khi rực rỡ như núi ngọc màu xanh. Những
năm tháng xa quê, dông tố cuộc đời tưởng chừng cuốn bay tất cả, nhưng trong tâm tư tôi
những dòng sông quê mênh mông vẫn cuồn cuộn chảy, những dòng kinh biêng biếc vẫn
lặng lờ trôi. Tôi yêu những cánh đồng bao la vàng rực ngày mùa, mù mù khói rạ, thơm vị
mía lùi và trắng xóa sương mù sau tết. Yêu cả tiếng chuông chùa ngân thăm thẳm canh
5
khuya. Tôi yêu ánh nắng chiều tà trải màu vàng tái trên rẫy khoai mì, nghiêng nghiêng
bên triền núi.”… ( Theo Tản văn Mai Văn Tạo)
Đọc đoạn văn trên ta thấy, Mai Văn Tạo nhớ An Giang, nhớ quê mẹ là nhớ ngọn
núi, nhớ dòng sông, những cánh đồng, tiếng chuông chùa, ánh nắng chiều tà…. Tác giả
vừa miêu tả, vừa bộc lộ cảm xúc. Có thể nói, cảnh sắc An giang được nhắc tới là xương
thịt của bài văn; tình yêu, nỗi nhớ niềm tự hào quê mẹ là linh hồn bài văn. Như vậy, để
biểu cảm về quê hương An Giang, nhà văn đã sử dụng phương thức tự sự và miêu tả.
B - Trong bài văn biểu cảm, tự sự và miêu tả chỉ là phương tiện, là yếu tố để qua
đó, người viết gửi gắm cảm xúc và ý nghĩ.
Cảm xúc, ý nghĩ là chất trữ tình của bài văn.
Ví dụ: Biểu cảm về loài cây em yêu.
Đưa yếu tố tự sự và miêu tả như thế nào khi làm đề văn trên?
yêu thích, thú vị ở chỗ nào. Nghĩa là phải phân tích và trích dẫn.
Vì vậy, phân tích và trích dẫn là thao tác cơ bản nhất lúc phát biểu cảm nghĩ.
Có lúc phải khen, chê. Khen, chê chính là phải viết lời bình. Khen, chê trên cơ sở
yếu tố nghệ thuật chứ không phải tùy tiện. Giáo viên qua các bài giảng cụ thể, qua việc
hướng dẫn đọc sách… sẽ giúp các em dần bình văn, biến thành kĩ năng, kĩ xảo. Lúc nào
viết được lời bình hay, sâu sắc thì bài phát biểu cảm nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí
tuệ.
Có lúc phải biết liên tưởng, so sánh. Từ hiện tượng này mà nghĩ, mà nhớ đến hiện
tượng văn học khác. Có thể liên tưởng, so sánh về hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, sử dụng
từ, biện pháp tu từ, hình tượng nhân vật… trong cùng một tác giả hoặc giữa các tác giả có
mối liên hệ với nhau. Khi học sinh phát biểu cảm nghĩ về cụm từ “ta với ta” trong bài thơ
“ Qua Đèo Ngang” ( Bà huyện Thanh Quan” thì có thể so sánh tới cụm từ “ ta với ta”
trong tác phẩm “ Bạn đến chơi nhà” ( Nguyễn Khuyến ). Hoặc phát biểu cảm nghĩ về âm
thanh tiếng suối trong bài thơ “ Cảnh khuya” ( Hồ Chí Minh) thì nên so sánh với âm
thanh tiếng suối của bài thơ “ Bài ca Côn Sơn” ( Nguyễn Trãi). Từ việc so sánh này để
người đọc thấy được cái hay của mỗi tác phẩm.
Viết lời bình, liên tưởng, so sánh là thao tác nên có. Với bài văn thi học sinh giỏi
phải được coi trọng thao tác bình, liên tưởng, so sánh.
2. Luyện tập về văn biểu cảm:
Để nắm vững và củng cố tri thức, kĩ năng về văn biểu cảm, không phải chỉ biết,
hiểu, học thuộc lòng mà quan trọng hơn là phải biết làm – biết thực hành – biết sáng tạo.
Chân Hy (Trung Quốc) đã từng khuyên:
7
“Học rộng điều gì không bằng hiểu rành điều ấy. Hiểu rành điều ấy không bằng
thực hành điều ấy”. Mặt khác chúng ta đều biết Tập làm văn là phân môn thực hành tổng
hợp – thực sự là thực hành. Việc thực hành cũng cần theo qui trình từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến tổng hợp; từ việc làm dàn bài, viết ngắn đến viết dài – thành văn hoàn chỉnh.
Đối tượng biểu cảm cũng mở rộng.
Việc thực hành- luyện tập phải được thường xuyên, liên tục; phải được kiểm tra
đánh giá, rút kinh nghiệm; phải có yêu cầu, nghiêm túc song cũng cần phải động viên,
- Kết bài : Nêu tình cảm của em với người đó.
2.4. Bài tập cảm thụ ca dao, thơ
Bài tập 1: Phát biểu cảm nghĩ của em về bài ca dao sau :
Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon.
a. Tìm hiểu:
- Râu tôm, ruột bầu là 2 thứ bỏ đi.
- Bát canh ngon:Từ “ngon” có giá trị gợi cảm.
- Cảm nghĩ của em về cuộc sống nghèo về vật chất nhưng đầm ấm về tinh thần.
b. Tập viết:
* Gợi ý: Râu tôm- ruột bầu là hai thứ bỏ đi.Thế mà ở đây hai thứ ấy được nấu thành
một bát canh “ngon” mới tuyệt và đáng nói chứ. Đó là cái ngon và cái hạnh phúc có thực
của đôi vợ chồng nghèo thương yêu nhau. Câu ca dao vừa nói được sự khó khăn thiếu
thốn cùng cực, đáng thương vừa nói được niềm vui, niềm hạnh phúc gia đình đầm ấm,
tuy bé nhỏ đơn sơ, nhưng có thực và rất đáng tự hào của đôi vợ chồng nghèo khổ khi xa.
Cái cảnh chồng chan, vợ húp thật sinh động và hấp dẫn. Cái cảnh ấy còn được nói ở
những bài ca dao khác cũng rất hay :
Lấy anh thì sướng hơn vua.
Anh ra ngoài ruộng bắt cua kềnh càng.
Đem về nấu nấu, rang rang.
Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.
Hai câu ở bài ca dao trên chỉ nói được cái vui khi ăn, còn bốn câu này nói được cả
một quá trình vui khá dài (từ khi bắt cua ngoài đồng đến lúc ăn canh cua ở nhà, nhất là
cái cảnh nấu nấu, rang rang).
9
Bài tập 2: Hãy trình bày cảm nghĩ của em về tình yêu quê hương đất nước và nhân
dân qua bài ca dao sau:
Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát.
Đứng bên tê đồng , ngó bên ni đồng cũng bát ngát mênh mông.
Thân em như chẽn lúa đòng đòng.
xanh rì rào. Riêng tôi, khi nói đến quê hương, hình ảnh cây đa cổ thụ vẫn không thể phai
mờ, vẫn sâu lắng trong lòng tôi thuở nào.
Tôi luôn nhớ hình ảnh cây đa ấy- một hình ảnh đồ sộ, hùng vĩ như toà lâu đài cổ
kính, nguy nga. Cành cây to như cột đình, đỉnh chót vót giữa trời xanh . Gốc cây lớn đến
nỗi chín, mười người ôm không xuể. Tôi nhớ cái dáng cao lớn của nó. Tôi nhớ bộ rễ nổi
xù xì mà nhăn nheo. Nhớ cả từng chiếc lá vàng rơi trong chiều thu tĩnh lặng . Và tuổi thơ
tôi đã in đậm những ngày hè bên gốc đa. Đó là những buổi trèo cây bắt chim sẻ, ngồi
dưới gốc đa hóng mát, kể chuyện… Tôi cứ tưởng rằng những năm tháng theo mẹ xa quê
đã cuốn những kỉ niệm xưa vào dĩ vãng. Nhưng thời gian càng lâu thì chúng càng khắc
sâu trong tâm trí, tâm hồn tôi.
Cây đa ấy làm tôi thêm yêu đời, yêu người dân quê hương tôi. Nghĩ đến cây đa
lòng tôi vui khôn tả. Trong trái tim bé bỏng này, tôi luôn nghĩ về quê hương – nghĩ về
cây đa.
(Bài làm của em Nguyễn Phương Dung – học sinh lớp 7B – Trường THCS Lê
Quý Đôn)
Đề bài : Viết đoạn văn : Em hãy phát biểu cảm nghĩ của em về bức tranh quê trong
“Thiên Trường vãn vọng”(Trần Nhân Tông).
Bài làm :
Bài tứ tuyệt “Thiên Trường vãn vọng” là bức tranh quê đậm nhạt, mờ sáng rất đẹp
và tràn đầy sức sống. Một bút pháp nghệ thuật cổ điển tài hoa. Một tâm hồn thanh cao
yêu đời. Tình yêu thiên nhiên, yêu đồng quê xứ sở đã được thể hiện bằng một số hình
tượng đậm đà, ấm áp qua những nét vẽ tinh tế, gợi hình, gợi cảm, giàu liên tưởng. Kì diệu
thay, bài thơ đã vượt qua hành trình trên bảy trăm năm, đọc nên nó vẫn cho ta nhiều thú
vị. Ta vẫn cảm thấy cánh cò trắng được nói đến trong bài thơ vẫn còn bay trong ráng
chiều đồng quê và còn chấp chới trong hồn ta. Tình quê và hồn quê chan hòa dào dạt.
( Bài làm của em Nguyễn Hồng Minh- học sinh lớp 7B– Trường THCS Lê Quý
Đôn )
IV. KIỂM NGHIỆM:
Qua việc vận dụng “ Các giải pháp dạy học sinh lớp 7 viết văn biểu cảm”, tôi nhận
thấy chất lượng dạy và học văn biểu cảm lớp 7 đã nâng cao. Bản thân tôi cảm thấy tự tin,
NXB Giáo dục.
13