MỘT SỐ GIẢI PHÁP DẠY HỌC SINH TỰ TÌM TÒI, PHÁT HIỆN KIẾN THỨC MỚI KHI HỌC NỘI DUNG HÌNH TAM GIÁC – MÔN TOÁN LỚP 5 - Pdf 26

Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
V. Phạm vi nghiên cứu
PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. Cơ sở lí luận
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
1. Đặc điểm tình hình của trường
2. Đặc điểm tình hình của học sinh lớp 5
III. Một số giải pháp dạy học sinh tự tìm tòi, phát hiện kiến thức
mới khhi học nội dung hình tam giác môn Toán lớp 5 tại trường
Tiểu học Nguyệt Đức – huyện Yên Lạc – tỉnh Vĩnh Phúc
A. Cơ sở đề xuất các giải pháp
B. Các giải pháp chủ yếu
1.Xác định các yêu cầu cơ bản về kiến thức cần đạt được và
phương pháp cần thực hiện trong tiết dạy .
2. Nắm vững quy trình dạy học giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá
kiến thức mới
3. Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng
IV. Kết quả thực hiện
PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
2
3

và phát triển nhân cách con người. Trong các môn học đó, môn Toán có vị trí
quan trọng vì mục tiêu môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh:
- Có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học ,các số tự nhiên, phân số,
số thập phân ; các đại lượng thông dụng ; một só yếu tố hình học và thống kê
đơn giản.
- Hình thành các kĩ năng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều
ứng dụng thiết thực trong đời sống.
- Bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp lí và diễn
đạt đúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần
gũi trong cuộc sống ; kích thích trí tưởng tượng ; chăm học và hứng thú học tập
toán ; hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kế hoạch khoa
học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo.
Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong
đời sống ; chúng cần thiết cho người lao động, rất cần thiết cho học các môn học
khác ở Tiểu học và học tiếp môn Toán ở Trung học.
Môn Toán còn góp phần giáo dục lí trí và những đức tính tốt như : trung
thực, cần cù, chịu khó, ý thức vượt khó khăn, tìm tòi, sáng tạo và nhiều kĩ năng
tính toán cần thiết để con người phát triển toàn diện.
Đặc điểm của môn Toán là tính trừu tượng cao và tính thực tiễn, tính lôgic
và tính thực nghiệm. Nó là công cụ rất cần thiết để học tốt các môn học khác và
nhận thức thế giới xung quanh. Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn Toán rất
to lớn. Thông qua những bài toán hay, đơn giản, nhẹ nhàng, học sinh được phát
triển tư duy nhạy bén, chính xác, rèn luyện đầu óc minh mẫn là một trong các
điều kiện cần để học sinh trở thành những công dân hữu ích cho xã hội. Do đó
đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng nghiên cứu, tìm tòi để có kiến thức và
phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.
Hình học là nội dung cơ bản, quan trọng của chương trình môn Toán ở
Tiểu học.Nó được phân bố đều ở các khối lớp và được nâng cao dần về mức độ.
Từ nhận diện hình ở lớp 1,2 sang đến tính chu vi, diện tích, thể tích ở các lớp
3,4,5. Nói chung hình học là mảng kiến thức tương đối khó trong chương trình

III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp dạy phần hình tam giác.
- Phân tích cách hình thành kiến thức và kĩ năng mới
- Tiến hành thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài.
Qua đó đề xuất những giải pháp dạy học sinh tự tìm tòi, phát hiện kiến
thức mới trong khi học về Hình tam giác.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1/ Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, nghiên cứu những tài liệu có liên quan như : đặc điểm phần
hình học, những quan niệm, xu hướng, kinh nghiêm dạy học, những quan điểm
đổi mới giáo dục ở tiểu học và giảng dạy Hình học lớp 5.
2/ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra kết hợp với quan sát, đàm thoại, trò chuyện để nghiên cứu khả
năng tìm tòi, phát hiện kiến thức mới trong học toán của học sinh trường Tiểu
học Nguyệt Đức.
- Dự giờ để tìm hiểu về đối tượng học sinh và một số phương pháp dạy
của một số giáo viên.
3
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
- Nghiên cứu sản phẩm của học sinh như bài kiểm tra để xác định kết quả
công tác day – học của giáo viên và học sinh.
V. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Do trình độ lí luận và thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ triển khai nghiên
cứu đề tài trong phạm vi khối 5 trường tiểu học Nguyệt Đức – huyện Yên Lạc –
tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2015.
4
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Giáo dục ngày nay được coi là nền móng của sự phát triển khoa học kĩ thuật.

* Trình độ học vấn:
- Đối với cán bộ quản lí:
+ 1 Hiệu trưởng, 1 Hiệu phó có trình độ Đại học sư phạm.
- Đối với giáo viên:
+ 19 giáo viên có trình độ Cao đẳng.
+ 11 giáo viên có trình độ Đại học
* Trình độ lí luận: + 4 đảng viên có trình độ trung cấp
+ 13 đảng viên có trình độ sơ cấp
5
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của nhà trường luôn được
nâng lên. Nhà trường luôn duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đặc
biệt là chất lượng đại trà và chất lượng học sinh giỏi.
Thành tích những năm học gần đây nhà trường 10 năm liên tụcđạt danh
hiệu Tập thể Lao động xuất sắc. Năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ tặng
Bằng khen. Năm 2012 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động
hạng Ba, trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ I. Đội ngũ giáo viên được chuẩn
hóa. Đây chính là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục.
* Đối với giáo viên trực tiếp dạy lớp 5: Là những giáo viên có trình độ
chuyên môn vững vàng, nhiều kinh nghiệm , nhiệt tình trong giảng dạy, có sự
đoàn kết thống nhất cao.
2/ Đặc điểm tình hình của học sinh khối lớp 5
Tổng số học sinh: 115
Chủ yếu số học sinh là học sinh trên địa bàn xã. Phần lớn các em đều
ngoan, hiếu học, có nhiều em học sinh giỏi. Sách vở, đồ dùng học tập tương đối
đầy đủ. Được phụ huynh quan tâm, sao sát tới việc học của con em mình.
+ Khó khăn:
- Một số học sinh khả năng nhận thức chậm hoặc thuộc đối tượng học sinh
khuyết tật
- Hoàn cảnh gia đình một số em còn gặp nhiều khó khăn hoặc có những gia

1.Xác định các yêu cầu cơ bản về kiến thc cần đạt được và phương
pháp cần thực hin trong tiết dạy .
Đây là việc làm rất quan trọng và cần thiết giúp người giáo viên định hướng
đúng được các hoạt động dạy học, các hình thức tổ chức và các phương pháp sử
dụng trong tiết dạy.
2. Nắm vững quy trình dạy học giúp học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến
thc mới
a- Đặc trưng của cách dạy này:
- Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối
quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên.
- Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề.
Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh
nội dung kiến thức.
- Thông qua việc giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một
cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng ; từ đó có được niềm vui của sự
nhận thức sáng tạo.
b- Quy trình cụ thể.
Bước 1: Ôn tập tái hiện:
Giúp học sinh ôn lại những kiến thức đã học có liên quan đến các kiến
thức mới mà học sinh cần nắm được.
Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề:
Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần
được giải quyết trong tiết học đó.
Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng:
Từ những vướng mắc cần giải quyết ở trên, cho học sinh độc lập suy nghĩ
hoặc thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng giải quyết vấn đề. Giáo viên nhận
xét, bổ sung thêm để hình thành ý tưởng chung.
Bước 4: Dự đoán giả thuyết:
Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung
kiến thức, kĩ năng mới.

- Bước 2: : Tổ chức cho học sinh phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo
nhóm nhỏ).
- Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề.
8
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
HS thảo luận đề xuất hướng giải quyết và thực hiện (hoạt động theo nhóm). HS
có thể giải quyết vấn đề bằng cách dùng ê – ke để kiểm tra các góc
Bước 4: Nêu kết quả và thống nhất kết quả
Hình tam giác có ba
Hình tam giác có
Hình tam giác có
góc nhọn
Hình tam giác có một
góc tù và hai góc nhọn
Hình tam giác có một
góc vuông và hai góc
nhọn( gọi là hình tam
giác vuông)
- Học sinh nhận dạng, tìm ra các hình tam giác theo từng dạng trong tập hợp
nhiều hình .
*Hoạt động 3: Giới thiệu đáy và đường cao tương ứng
Giáo viên cho học sinh quan sát hình vẽ trên bảng :
Giáo viên giới thiệu trong tam giác ABC , nếu lấy đáy BC thì AH là đường
cao tương ứng với đáy BC.
- Hỏi : Vậy đường cao là gì?
- Trả lời: Đoạn thẳng hạ vuông góc từ đỉnh xuống cạnh đối diện là đường
cao.
- Hỏi : Độ dài của đường cao gọi là gì?
- Trả lời : Độ dài của đường cao là chiều cao
Lưu ý học sinh: - Khi vẽ chiều cao phải dùng ê – ke để vẽ

Giáo viên cần phân tích kĩ hình vẽ trong sách giáo khoa để học sinh nắm
được đường cao của hình một cách bản chất nhất.
10
C
B
A
K I
A
B
C H
K
I
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Trong hình vẽ trên ta có đường cao nào ứng với đáy nào? (đường cao AH
ứng với đáy BC kéo dài)
Vậy lần lượt lấy đáy AB, AC xác định đường cao tương ứng với đáy đó?
(học sinh tự xác định)
Em có nhận xét gì về 3 đường cao trong tam giác có 1 góc tù, 2 góc nhọn?
( Có 2 đường cao nằm ngoài và một đường cao nằm trong tam giác.)
Việc xác định đường cao nằm ngoài tam giác vẫn còn khó khăn với một
số học sinh.Tuy vậy, giáo viên cần hướng dẫn để các em nắm được từ đó các em
có thể vận dụng để giải quyết các bài tập có liên quan.
*Tam giác có một góc vuông và hai góc nhọn:
Học sinh quan sát hình vẽ trong sách giáo khoa và hình vẽ minh họa trên
bảng
11
A
C
BH
A

+ Tam giác có 3 góc nhọn
+ Tam giác có góc tù.
12
A
B C
H
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Tam giác có 3 góc nhọc Tam giác có 1 góc tù
Sau khi đã giúp học sinh nắm chắc các đặc điểm của hình tam giác, các
dạng hình tam giác, có khái niệm về đáy, chiều cao, đường cao giáo viên mới
tiến hành cung cấp kiến thức mới cho học sinh về “Diện tích hình tam giác”
* Ví dụ 2 : Tuần 18 - Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK)
- Mục tiêu của tiết học này là giúp học sinh:
+ Nắm được quy tắc tính diện tích hình tam giác
+ Biết vận dụng quy tắc tính diện tích hình tam giác
- Chuẩn bị : Để giúp học sinh hình thành công thức tính diện tích tam giác giáo
viên yêu cầu mỗi học sinh chuẩn bị trước hai hình tam giác bằng nhau (bằng
giấy cỡ nhỏ, kéo để cắt hình) kết hợp với bộ đồ dùng học toán.
Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác.
- Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề.
GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), nêu yêu cầu :Hãy
tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1).
- Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo
nhóm nhỏ).
- GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện
tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề?
- Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề.
- HS thảo luận đề xuất hướng giải quyết và thực hiện (hoạt động theo
nhóm). HS có thể giải quyết vấn đề bằng các cách:
+ Cắt tam giác theo đường cao ghép thành hình chữ nhật (hình 2).

A
C H B
D
CB H
A
Hình 3
Hình 2
Hình 4
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Quy tắc: Muốn tính diện tích hình tam giác ta ấy độ dài đáy nhân với
chiều cao (cùng một đơn vị đo) rồi chia cho 2.
Giáo viên nêu vấn đề : Nếu kí hiệu S là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều
cao, hãy viết công thức tính diện tích hình tam giác?
Công thc :
Theo cách 2 (là cách trong SGK):
*Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh)
rồi ghép thành hình chữ nhật.
Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá
nhân kết hợp hoạt động chung cả lớp).
+ GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ:

Bước 5: GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong
hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của
hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ
đó, GV có thể gợi ý:
* Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy).
* So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật?
( Diện tích hình tam giác bằng
1
2

Diện tích hình tam giác là:
30,5 x 12 : 2 = 183 ( dm
2
)
Đáp số: 183 dm
2
Còn ở trường hợp b) độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo nên
học sinh cần phải đưa về cùng một đơn vị đo, sau đó áp dung công thức tính
diện tích.
Bài giải
5,3m = 53dm
Diện tích hình tam giác là:
16 x 53 : 2 = 424 (dm
2
)
Đáp số: 424dm
2
Đối với bài tập trên , giáo viên cần tổ chức cho học sinh khá, giỏi giúp đỡ
bạn biết viết đúng đơn vị diện tích khi biết đơn vị đo của đáy và chiều cao.
Trường hợp 2: Tính diện tích hình tam giác vuông ( Đây là loại tam giác đặc
biệt)
Ví dụ:
a) Tính diện tích hình tam giác vuông ABC
16
A
CB
3cm
4cm
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
b) Tính diện tích hình tam giác vuông DEG

5cm
3cm
A B
C
D
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Vậy diện tích hình tam giác ABC là:
4 x 3 : 2 = 6 (cm
2
)
Đáp số : 6cm
2
Sau khi học sinh nắm chắc kiến thức về hình tam giác từ các bài tập trong
sách giáo khoa, tôi mới tiến hành mở rộng, nâng cao cho học sinh bằng hệ thống
các bài tập từ dễ đến khó.
Ví dụ để phát hiện được các trường hợp bằng nhau của tam giác, giáo viên đưa
ra bài tập như sau:
Bài tập 1: Cho tam giác ABC và MNP với các số đo của đáy và chiều cao
như hình vẽ:
a) Tính diện tích hai tam giác.
b) So sánh diện tích hai tam giác.
Bài giải
a) Diện tích tam giác ABC là:
12 x 8 : 2 = 48 ( cm
2
)
Đáp số: 48 cm
2
Diện tích tam giác MNP là:
12 x 8 : 2 = 48 ( cm

Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Hỏi: Hai tam giác có diện tích bằng nhau, chiều cao bằng nhau ta suy ra
điều gì?
Trả lời: Hai tam giác có diện tích bằng nhau, chiều cao bằng nhau thì hai
đáy của hai tam giác đó ứng với hai chiều cao bằng nhau đó cũng bằng nhau.
Bài tập 2: Tính và so sánh diện tích hình tam giác có độ dài đáy là a và chiều
cao h:
a) Hình P: a = 16cm và h = 6cm
b) Hình Q: a = 8cm và h = 12cm
Học sinh tính:
a) Diện tích hình tam giác P là: 16 x 6 : 2 = 48 (cm
2
)
b) Diện tích hình tam giác Q là: 8 x 12: 2 = 48 (cm
2
)
So sánh: 48cm
2
= 48cm
2
suy ra diện tích hai tam giác bằng nhau.
Giáo viên yêu cầu: So sánh độ dài đáy và chiều cao của hai tam giác P và
Q xem chúng gấp hoặc kém nhau bao nhiêu lần?
Trả lời: Đáy của tam giác P gấp đáy của tam giác Q 2 lần nhưng chiều cao
của tam giác P lại kém chiều cao của tam giác Q 2 lần.
Hỏi: Vậy em rút ra nhận xét gì?
Trả lời: Hai tam giác P và Q có diện tích bằng nhau khi: Đáy của tam giác
P gấp đáy của tam giác Q bao nhiêu lần thì chiều cao của tam giác Q cũng gấp
chiều cao của tam giác P bấy nhiêu lần.
Bài tập 3: Hai tam giác ABC và DBC có diện tích bằng nhau( như hình

bằng nhau? S
ABC
= S
ABD
; S
ADC
= S
BDC
; S
AOD
= S
BOC
( dựa vào các đặc điểm của
đáy và chiều cao)
Bước 3 : Học sinh trình bày lời giải
Bài giải
Theo bài ra ta có hình vẽ:
+ S
ABC
= S
ABD
(Vì chung đáy AB, chung chiều cao là chiều cao của hình
thang ABCD)
+ S
ADC
= S
BDC
(Vì chung đáy DC, chung chiều cao là chiều cao của hình
thang ABCD)
20


c
h
b

n
g

n
h
a
u
CD
O
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Mặt khác, hai tam giác này lại có chung phần diện tích ODC nên suy ra
phần diện tích còn lại cũng bằng nhau hay S
AOD
= S
BOC
Vậy có tất cả 3 cặp tam giác có diện tích bằng nhau trong hình thang.
Bước 4: Học sinh kiểm tra lại kết quả
Ví dụ 2: Cho tam giác ABC, D là điểm chính giữa BC. Trên AD lấy điểm E
sao cho AE gấp đôi ED. Nối B với E kéo dài cắt AC ở G. Hãy chứng tỏ G là
điểm ở chính giữa AC?
Bước 1: GV cho học sinh đọc đề, tìm hiểu, phân tích đề
Giáo viên hỏi: Bài tập cho biết gì?( Cho tam giác ABC, D là điểm chính giữa
BC. Trên AD lấy điểm E sao cho AE gấp đôi ED. Nối B với E kéo dài cắt AC ở
G)
Bài tập hỏi gì?( Hãy chứng tỏ G là điểm ở chính giữa AC)

B

c
ó
d
i

n

c
h
b

n
g

n
h
a
u
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
+ Nhìn vào hình vẽ ta thấy:
+ S
BAD
= S
ADC
(Vì chung chiều cao hạ từ đỉnh A xuống đáy BC, BD =
DC)
+ S
BOD

= S
ABO
Mặt khác 2 tam giác này lại có chung đáy BO suy ra chiều cao hạ từ đỉnh
A xuống đáy BO bằng chiều cao hạ từ đỉnh C xuống đáy BO.
+ S
OAG
= S
OGC
( Vì chung đáy OG, chiều cao hạ từ đỉnh A xuống đáy GO
bằng chiều cao hạ từ đỉnh C xuống đáy GO)
+ Mặt khác 2 tam giác này lại có chung chiều cao hạ từ đỉnh O xuống đáy
AC suy ra AG = GC. Vậy G là điểm chính giữa của AC.
Đáp số: G là điểm chính giữa của AC
Bước 4: Học sinh kiểm tra lại kết quả
Đối với bài tập vừa nêu trên, học sinh phải vận dụng linh hoạt các kiến thức
liên quan đến trung điểm, chiều cao, 2 tam giác có diện tích bằng nhau thì
mới giải quyết được yêu cầu của bài tập.
3. Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng.
Đặc trưng của người giáo viên tiểu học là một “ ông thầy tổng thể” vì phải
giảng dạy nhiều môn học, vì thế người giáo viên phải thực sự có kiến thức, phải
am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, phải có phương pháp truyền
thụ tốt tất cả những điều này nhà trường sư phạm không thể cung cấp một
cách đầy đủ cho mỗi người giáo viên được vì vậy việc tự học , tự bồi dưỡng là
một việc làm cần thiết và không thể thiếu được đối với mỗi giáo viên, do đó bản
thân tôi luôn đề cao công tác “ Tự bồi dưỡng” của người thầy.
22
4cm
A
G
C

tiếp giảng dạy như sau:
Năm học Tổng số
học sinh
Điểm
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
2011 - 2012 31 27 87,1 4 12,9 0 0 0 0
2012 – 2013 32 29 90,6 3 9,4 0 0 0 0
2013 - 2014 32 30 93,7 2 6,3 0 0 0 0
* Kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp:
+ Cấp Quốc gia
23
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
Năm học Tổng số học
sinh đạt giải
Nhất Nhì Ba Khuyến
khích
2011 - 2012
2012 - 2013
2013 - 2014 1( Huy chương
vàng giải toán
trên mạng)
+ Cấp Tỉnh :
Năm học Tổng số học
sinh đạt giải
Nhất Nhì Ba Khuyến
khích
2011 - 2012 18 1 1 13 3
2012 – 2013 16 0 7( 1 em
đạt giải

2013
6 6
2013 - 2014 9 0 4( Tong đó
có 1 Bảng
nhãn)
3 2
24
Nguyễn Thị Phương Lan Trưng TH Nguyt Đc
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Nội dung môn Toán 5 theo chương trình sách giáo khoa rất cơ bản, đơn
giản nhưng chứa đựng trong nó một nội dung hết sức đa dạng phong phú và
không kém phần hấp dẫn.Qua thực tế giảng dạy nhiều năm liền ở lớp 5 tại
trường Tiểu học Nguyệt Đức – huyện Yên Lạc – Tỉnh Vĩnh Phúc, tôi thấy để
nâng cao chất lượng giảng dạy các bài trong chuyên đề Hình học, nhất thiết
người giáo viên phải có trình độ chuyên môn vững vàng, phải có phương pháp
dạy học hợp lí, phải có khả năng phân tích, tổng hợp và khái quát hóa vấn đề.
Giáo viên phải tâm huyết với nghề, nhiệt tình trong giảng dạy, không
ngừng học tập và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Hiểu được tâm lí
học sinh, gần gũi, thân thiện với các em, khơi dậy trong các em niềm say mê
toán học, niềm tin vào chính bản thân các em, sự khát khao khám phá và chiếm
lĩnh kiến thức mới.
Những vấn đề tôi nêu trên là những vấn đề mà tôi đã không ngừng nỗ lực
nghiên cứu và vận dụng vào quá trình bồi dưỡng học sinh đại trà và học sinh
giỏi lớp 5. Do đó trong những năm tôi dạy lớp 5 thì chất lượng học sinh đại trà
và học sinh giỏi luôn đạt kết quả cao. Học sinh đều làm tốt các bài tập có đề cập
đến diện tích một số hình , các bài tập có tính thực tiễn và các bài tập có liên
quan. Đặc biệt là học sinh giỏi, nhiều em thấy không còn sợ toán hình nữa và
cảm thấy yêu thích mảng hình học vì “ học toán hình thấy rất hay”. Nhờ vậy mà
trong những năm qua tôi đã gặt hái được rất nhiều kết quả tốt đẹp trong công tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status