1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ khoa giáo
dục học, khoa sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ
tôi rất nhiều trong quá trình học tập và nghiên cứu. Đặc biệt xin cảm ơn
Tiến sĩ Vũ Công Hảo – người đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
này.
Xin gửi tới quý thầy cô trong Hội đồng giám khảo lời biết ơn sâu sắc.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng GD-ĐT quận Đống Đa,
Trường tiểu học Nam Thành Công nơi tôi công tác đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi được học tập và nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin gửi lời biết ơn tới những người thân yêu trong gia
đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học.
TÁC GIẢ
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Trong khi nghiên cứu luận văn, tôi đã kế thừa thành quả khoa học của các
nhà khoa học và đồng nghiệp với sự trân trọng và biết ơn.
Hà Nội ngày 06 tháng 09 năm 2010
Tác giả
Đỗ Việt Nga
3
.................................................................................................................. 67
3.3. Tiếp cận và giảng dạy văn học nước ngoài trong liên hệ, so sánh
với văn học dân tộc.................................................................................. 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 75
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Là một trong những bộ phận quan trọng và đặc sắc cấu thành
chương trình Ngữ Văn được giảng dạy ở mọi cấp học, văn học nước ngoài
luôn thu hút và tạo nên sự hấp dẫn lớn với người tiếp nhận. Đến với văn học
nước ngoài, chúng ta như được đến với một miền đất lạ với bao điều mới mẻ
về văn hóa, phong tục tập quán, với tư tưởng, quan niệm và đời sống tâm hồn
của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới. Có thể nói, văn học nước ngoài có
vị trí và ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của văn hóa và văn học dân
tộc. Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc Tiểu học
nói riêng không chỉ hướng tới việc tìm hiểu những đặc sắc của một nền văn
hóa, văn học khác mà còn góp phần hiểu thêm về văn hóa, văn học của dân
tộc mình. Nghiên cứu, tiếp nhận văn hóa, văn học nước ngoài, do đó, là cần
thiết, và càng trở nên cần thiết trong giai đoạn tăng cường giao lưu, hội nhập
hiện nay.
1.2. Giảng dạy văn học nước ngoài trong nhà trường nói chung, bậc
Tiểu học nói riêng là công việc không đơn giản. Để có thể khai thác được cái
hay, cái đẹp và chiều sâu tư tưởng, tâm hồn của các dân tộc khác ẩn chứa
trong các văn bản ngôn từ, người dạy (và cả người học) phải có sự hiểu biết
rộng rãi về văn hóa, văn học của chính các dân tộc ấy. Bởi thế, người dạy văn
học nước ngoài, ngoài nhiệm vụ nghiên cứu văn bản tác phẩm cần giảng dạy,
Hiện chỗ dựa chủ yếu của chúng tôi chỉ là cuốn sách "Cảm thụ và giảng
dạy văn học nước ngoài" của GS. Phùng Văn Tửu. Đúng như tác giả cuốn
sách đã viết: "... đây không phải là hướng dẫn giảng dạy men theo từng bài
trong sách giáo khoa như kiểu "sách giáo viên" (...), nhưng vấn đề cảm thụ và
giảng dạy bộ phận văn học này về mặt lý thuyết và ứng dụng vẫn luôn luôn
khiến nhiều người quan tâm, không chỉ ở Trung học phổ thông, Trung học cơ
6
sở và hệ thống các trường Đại học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm nữa" (Lời
nói đầu). Tuy không bàn đến việc giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài
trong chương trình bậc Tiểu học, song các nguyên tắc tiếp cận và những điểm
đáng lưu ý khi giảng dạy văn học nước ngoài nói chung và qua các tác phẩm
cụ thể nói riêng mà giáo sư đã đúc kết trong cuốn sách thực sự là những gợi ý
quan trọng cho chúng tôi trong quá trình triển khai đề tài.
Từ các lý do đã nêu trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Tiếp cận
và giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài ở trường Tiểu học" để nghiên
cứu, triển khai với mong muốn nắm bắt và truyền tải được đặc sắc của bộ
phận văn học này cho các em học sinh ngay từ khi mới bước chân vào thế
giới của văn chương, của tưởng tượng và sáng tạo.
2. Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các tác phẩm văn học nước ngoài được lựa chọn giới thiệu và giảng
dạy trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Những phương diện đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các tác
phẩm văn học nước ngoài trong chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học từ lớp
1 đến lớp 5.
2.3. Mục đích nghiên cứu
Phương pháp so sánh loại hình.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi còn sử dụng một
số phương pháp bổ trợ khác
4. Đóng góp mới của luận văn
- Về phương diện lí luận: cung cấp một cái nhìn khái quát và cụ thể về
thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình
Tiếng Việt bậc Tiểu học, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả
của việc giảng dạy bộ phận văn học này từ các phương diện lý thuyết và đặc
thù.
- Về thực tiễn: Góp phần vào việc nâng cao năng lực cảm thụ và giảng
dạy các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước ngoài nói riêng trong nhà
trường Tiểu học hiện nay.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
8
Chương 1. Đặc thù của các tác phẩm văn học nước ngoài trong chương trình
Tiếng Việt bậc Tiểu học
Chương 2. Thực trạng giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong
chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học
Chương 3. Tiếp cận và giảng dạy mảng văn học nước ngoài trong nhà trường
Tiểu học
Phần cuối luận văn là Thư mục tài liệu tham khảo.
9
tác phẩm được lựa chọn giới thiệu, giảng dạy từ lớp 1 đến lớp 5 và cơ cấu tỉ lệ
các tác phẩm văn học nước ngoài và văn học Việt Nam được chúng tôi thống
kê như sau:
Bảng 1: Số lượng tác phẩm
Lớp 1
TT
Tên tác phẩm
Tên tác giả
(xuất xứ)
Thể loại
Phân môn
dạy
Truyện cổ tích
Kể chuyện
Truyện ngắn
Kể chuyện
1
Cô bé trùm khăn đỏ
Dê con nghe lời mẹ
Truyện cổ tích
Kể chuyện
7
Nói dối hại thân
Truyện ngắn
Tập đọc
8
Cô chủ không biết quý
tình bạn
Truyện cổ tích
Kể chuyện
9
Hai tiếng kì lạ
Truyện cổ tích
Kể chuyện
Xu-khôm-linxki
Truyện ngắn
Tập đọc
Thể loại
Phân môn
dạy
P.Vô-rôn-cô
Lép Tôn-xtôi
Lớp 2
TT
Tên tác phẩm
Tên tác giả
(xuất xứ)
1
Phần thưởng
Blai-tơn
Truyện ngắn
Tập đọc-kc
5
Bàn tay dịu dàng
Xu-khôm-linxki
Truyện ngắn
Tập đọc-kc
11
6
Bông hoa niềm vui
Xu-khôm-linxki
Truyện ngắn
Tập đọc-kc
7
Hai anh em
An-đéc-xen
Truyện ngắn
Tập đọc-kc
11
Bác sĩ Sói
La Phông-ten
Truyện ngụ
ngôn
Tập đọc-kc
12
Sư tử xuất quân
La Phông-ten
Thơ
Tập đọc-kc
13
Cá sấu sợ cá mập
dạy
Lớp 3
TT
Tên tác phẩm
Tên tác giả
(xuất xứ)
1
Ai có lỗi
A-mi- xi
Truyện ngắn
Tập đọc -kc
2
Người mẹ
An-đéc-xen
Truyện ngắn
Tập đọc -kc
6
Đất quý, đất yêu
Ê-ti-ô-pi-a
Truyện dân
gian
Tập đọc-kc
7
Nhà ảo thuật
Blai-tơn
Truyện ngắn
Tập đọc -kc
8
Buổi học thể dục
A-mi-xi
Truyện ngắn
Tập đọc -kc
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Tên tác phẩm
Tên tác giả
(xuất xứ)
Thể loại
Phân môn
dạy
Người ăn xin
Tuốc-ghê-nhép
Truyện ngắn
Một nhà thơ chân
Truyện dân gian
Tập đọc
Truyện ngắn
Tập đọc
Truyện ngắn
Tập đọc
Tập đọc
Ở vương quốc tương
lai
Mát-téc-lích
Điều ước của vua Mi-
Thần thoại Hi
đát
Lạp
Trong quán ăn “Ba cá
A-lếch-xây
bống”
Huy-gô
Truyện ngắn
Tập đọc
Quy-ra-xkê-
chết
vích
luỹ
Kể chuyện
Truyện ngắn
Những chú bé không
Ga-vrốt ngoài chiến
gian
Tập đọc
13
Con sẻ
Tuốc-ghê-nhép
16
Gu-li-vơ ở xứ sở tí
hon
13
Lớp 5
TT
Tên tác giả
Tên tác phẩm
(xuất xứ)
Thể loại
Phân môn dạy
1
Chuỗi ngọc lam
Phun-toen-o-xlơ
Truyện ngắn
Héc-to-Ma-lô
Bảng 2: Tỉ lệ tác phẩm văn học nước ngoài so với văn học Việt
Nam thuộc hai phân môn Tập đọc và Kể chuyện
Lớp 1
2
3
4
5
Phân môn
Tập đọc
6/71
16/124
16/108,5
22/62
6/62
Tỉ lệ
14
(Trong bảng thống kê trên: Tử số chỉ số lượng bài văn học nước ngoài
trong môn học ở mỗi lớp. Mẫu số chỉ số lượng bài học của môn học ở mỗi
lớp).
Trong phân môn Tập đọc: Tỉ lệ văn học nước ngoài tăng dần theo lớp,
nâng dần mức độ nhận thức cho học sinh từ thấp đến cao, lớp 2 là 13% và lên
đến lớp 4 là 35,5 %. Nhưng đến lớp 5 sở dĩ chỉ còn 9,67% là vì ở giai đoạn
này chủ yếu là ôn tập.
Trong phân môn Kể chuyện: Việc phân bố số tiết văn học nước ngoài
từ lớp 1 đến lớp 4 theo hướng giảm dần ở các lớp học lớn cụ thể là: lớp 1 là
35%, lớp 2 là 32%, lớp 3 là 25%, lớp 4 là 16 % và lớp 5 thì tiết kể chuyện
bằng tác phẩm văn học nước ngoài không còn, bởi ở năm cuối Tiểu học, năng
lực ngôn ngữ và trình độ nhận thức của các em đã được nâng cao, hơn nữa,
cần dành thời lượng cho các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt.
Ở lớp 3, sở dĩ có số tiết lẻ là vì mỗi tuần có 0,5 tiết kể chuyện được dạy
ghép với bài Tập đọc - Kể chuyện ở hai tiết học đầu tuần. Trong loại bài học
này, sau khi dạy tập đọc 1,5 tiết giáo viên dành 0,5 tiết để dạy kể chuyện.
Ngoài ra, kể chuyện còn được dạy trong phân môn Tập làm văn.
1.1.2. Đặc điểm và nội dung cơ bản của các tác phẩm văn học nước
ngoài được giới thiệu và giảng dạy
1.1.2.1. Về cấu trúc thể loại và phân môn giảng dạy
Trong tổng số 58 tác phẩm văn học nước ngoài được lựa chọn giới
thiệu và giảng dạy từ lớp 1 đến lớp 5 mà chúng tôi đã thống kê ở trên, có 54
tác phẩm văn xuôi (đầy đủ hoặc trích đoạn), bao gồm từ truyện dân gian,
truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười đến các truyện ngắn hiện đại; 03
tác phẩm thơ, 01 tác phẩm kịch. Ngay trong các tác phẩm văn xuôi, số lượng
các tác phẩm theo thể loại cũng không đồng đều, truyện cổ tích chiếm đa số
đa số ở lớp 1; từ lớp 2 đến lớp 5, bên cạnh các truyện ngắn, có xen kẽ một số
cực hoạt động của các em được phát huy. Qua các hành động đọc diễn cảm và
16
kể lại câu chuyện, cô giáo có thể phát hiện, đánh giá được năng lực thụ cảm
của mỗi học sinh, điều chỉnh và định hướng cho những cảm nhận ban đầu ấy.
Đến lớp 4, đặc biệt lớp 5, vai trò mở cửa, dẫn dắt của cô giáo đã được giảm
bớt, các em đã có thể tự bước vào thế giới huyền diệu của các tác phẩm văn
chương theo cách của riêng mình. Vì là năm cuối cấp, chuẩn bị bước sang
một cấp học mới, với những nội dung kiến thức cần tiếp nhận rộng hơn, sâu
hơn, nên số tác phẩm văn học nước ngoài cũng được giảm thiểu, và thay bằng
giờ Tập đọc - Kể chuyện là các giờ Tập đọc, thay bằng sự tiếp nhận có sự dẫn
dắt của giáo viên là sự tiếp nhận chủ động của học sinh có sự điều chỉnh, gợi
mở của giáo viên.
Quan sát bố cục và sự sắp xếp các tác phẩm văn học nước ngoài theo
lớp và phân môn như thế, phần nào có thể hình dung được ý đồ của các nhà
biên soạn sách. Việc lựa chọn thể loại nào, tác phẩm nào, giảng dạy ở phân
môn nào ở từng lớp, ngoài việc phải phù hợp với đặc trưng tâm lý, lứa tuổi,
còn phải bảo đảm tính hài hoà, gắn kết với các tác phẩm văn học thiếu nhi
trong nước khác được giới thiệu và giảng dạy.
1.1.2.2. Về chủ đề tác phẩm
Tính phù hợp lứa tuổi, trình độ nhận thức của đối tượng tiếp nhận luôn
là tiêu chí tối cao cho việc lựa chọn tác phẩm để đưa vào chương trình dạy và
học. Hiệu quả giáo dục, bồi dưỡng tâm hồn, bước đầu nâng cao tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh Tiểu học phụ thuộc vào yếu tố này. Dạy văn
ở Tiểu học là dạy theo chủ điểm. Bởi thế, các nhà biên soạn, khi lựa chọn giới
thiệu, giảng dạy các tác phẩm văn học trong nước và nước ngoài trong
chương trình Tiểu học đều quan tâm trước hết đến ý nghĩa giáo dục của nó.
Các khía cạnh khác như tính khái quát, tính nghệ thuật, tính hệ thống, tính
Cô bé trùm khăn đỏ
2
Mưu chú sẻ
Ca ngợi trí thông minh của sẻ con
3
Sư tử và chuột nhắt
Ca ngợi trí thông minh của chú chuột nhắt.
4
Bông hoa cúc trắng
Ca ngợi sự hiếu thảo của cô con gái nhỏ.
5
Mèo con đi học
6
Dê con nghe lời mẹ
7
10
Rùa và thỏ
khuyên các bạn nhỏ không được kiêu ngạo
như chú thỏ.
11
Sói và sóc
12
Con quạ thông minh
13
Quả sồi
Ca ngợi trí thông minh của chú sóc nhỏ.
Ca ngợi trí thông minh của con quạ, không
lùi bước trước những khó khăn gian khổ.
Khuyên răn các bạn nhỏ phải luôn chăm chỉ
thì mới đạt được những ước mơ của mình.
Lớp 2
TT
Tên tác phẩm
6
Bông hoa niềm vui
7
Hai anh em
Ca ngợi bạn nhỏ biết quan tâm và nhường
nhịn cho bạn cùng lớp.
Ca ngợi tình cảm yêu quý, quan tâm của
thầy dành cho học trò của mình.
Ca ngợi sự hiếu thảo của bạn nhỏ dành cho
bố mẹ của mình.
Ca ngợi tình cảm anh chị em trong gia đình
19
dành cho nhau.
8
Thêm sừng cho ngựa
9
Ông Mạnh thắng Thần Gió
10
động bằng sức lực của hai bàn tay mình. Đó
chính là kho báu lớn nhất của con người.
Ca ngợi tấm lòng nhân hậu của bạn nhỏ,
15
Những quả đào
phải biết quan tâm chia sẻ với người khác.
Lớp 3
TT
Tên tác phẩm
1
Ai có lỗi
2
Người mẹ
Chủ đề
Khuyên răn các bạn nhỏ phải biết quan tâm
chia sẻ vui buồn.
Ca ngợi tình cảm của người mẹ dành cho
con. Người mẹ có thể hi sinh tất cả vì con
Khuyên răn các bạn nhỏ phải biết làm
7
Nhà ảo thuật
Ca ngợi tình cảm yêu quê hương của người
dân vùng châu Phi.
Ca ngợi khả năng nghệ thuật của con người.
Ca ngợi tinh thần vượt khó của bạn nhỏ bị
8
Buổi học thể dục
khuyết tật. Cho dù mọi khó khăn cũng phải
vượt quá.
9
Người đi săn và con vượn
10
Trên con tàu vũ trụ
Ca ngợi tình cảm của vượn mẹ dành cho
vượn con.
Ca ngợi tài năng của con người trong việc
chinh phục vũ trụ
tránh được mưu của con cáo già gian ác.
Khuyên răn các bạn nhỏ không được ham
chơi, phải hoàn thành công việc được giao.
21
5
Ở vương quốc tương lai
Trí tưởng tượng phong phú của các bạn nhỏ
khi ước mơ về tương lai.
Khuyên răn chúng ta phải biết ước mơ
6
Điều ước của vua Mi-đát
nhưng không được ước mơ những điều viển
vông.
7
Trong quán ăn “Ba cá bống”
8
Rất nhiều mặt trăng
13
Con sẻ
Ca ngợi tấm lòng dũng cảm của chú bé Gavrốt.
Ca ngợi tình cảm của sẻ mẹ dành cho sẻ
con.
Ca ngợi sự kiên cường của bác đi săn, bác
14
Khát vọng sống
đã vượt qua mọi khó khăn gian khổ để tồn
tai, để chiến thắng cái chết.
15
Có một lần
16
Gu-li-vơ ở xứ sở tí hon
Khuyên răn các bạn nhỏ không được dối trá
trong mọi hoàn cảnh.
Ca ngợi tài trí của sứ giả đã làm cho hai
nước láng giềng trở nên gần gũi với nhau.
nữ.
Ca ngợi lòng ham học của cậu bé mồ côi.
Do được sắp xếp theo các chủ điểm trong khung chương trình, nên dễ
nhận thấy rằng, dù chủ đề của các tác phẩm được giới thiệu và giảng dạy ở
từng lớp rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, nhưng có thể quy về một số
cụm chủ đề chính sau:
- Khẳng định, ca ngợi trí tuệ, lòng nhân ái của con người
Loài người, bản thân nó chứa đựng những tiềm năng vô cùng to lớn.
Đó là trí tuệ, là khát vọng khám phá, chinh phục thiên nhiên, là lòng nhân ái.
Chính những tiềm năng to lớn này đã làm cho con người ngày càng đẹp đẽ
hơn, đáng trân trọng và đề cao hơn. Trí tuệ là thứ vũ khí vô địch của con
người. Trí tuệ là sự hiểu biết, là khả năng giải quyết những khó khăn trong
cuộc sống. Nhờ có trí tuệ mà con người đã tiến hóa, đã tạo lập nên biết bao
điều kì diệu. Vẻ đẹp trí tuệ của con người, sự thông minh của con người được
thể hiện gián tiếp qua các truyện cổ tích về loài vật, các truyện ngụ ngôn đặc
biệt sinh động, hấp dẫn, chẳng hạn: Sư tử và chuột nhắt, Con quạ thông minh,
Bác sĩ sói, Sói và Sóc…
Sống giữa tự nhiên mênh mông và khắc nghiệt, đầy bí ẩn, vẻ đẹp và sức
mạnh của con người còn được thể hiện ở ý thức, khát vọng tìm hiểu, khám
23
phá, giải thích, chế ngự, chinh phục tự nhiên vì sự sinh tồn và phát triển của
mình. Chế ngự và chinh phục thiên nhiên là một chặng đường dài đầy gian
nan vất vả mà loài người đã trải qua. Nếu không có những khát vọng đó thì
con người không có được cuộc sống văn minh, tốt đẹp như ngày hôm nay.
Các truyện Ông Mạnh thắng thần Gió (Phỏng theo A-Nhông) hay Trên con
tàu vũ trụ (Ga-ga-rin)… đã giúp các em nhỏ từng bước có ý thức về điều đó.
yêu quê hương đất nước thật thiêng liêng và cao quý, nó gắn con người với
nơi chôn rau cắt rốn, với đồng bào đã từng chia ngọt sẻ bùi. Thiếu tình yêu ấy
cuộc sống sẽ nhạt nhẽo, vô vị, buồn tẻ biết bao. Cùng với các tác phẩm văn
học thiếu nhi giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên khác
trong chương trình Tiểu học, văn học nước ngoài cũng góp phần nhấn mạnh
hơn tình yêu ấy qua Đất quý đất yêu, Chim sơn ca và bông cúc trắng...
- Giáo dục đức tính và cách ứng xử tốt đẹp
Đây có thể coi là chủ đề quan trọng nhất, rõ rệt nhất của toàn bộ bộ phận văn
học nước ngoài được lựa chọn giới thiệu và giảng dạy trong chương trình
Tiểu học. Các nhà biên soạn đã không chỉ dành nhiều tác phẩm nhất cho nội
dung này mà còn lựa chọn các tác phẩm của nhiều tác giả, nhiều thể loại khác
nhau, từ bài học của một nhà thông thái vốn là một người nô lệ, từ kinh
nghiệm của một nhà giáo dục đến trái tim nhân hậu và yêu thương trẻ thơ của
một nhà văn lớn... để bồi bổ, vun đắp cho tâm hồn trong sáng, thơ ngây của
các em lòng nhân ái, sự hiếu thảo, tình yêu lao động, tình đoàn kết, chia sẻ và
giúp đỡ lẫn nhau giữa con người và con người trong cuộc sống, trong gia
đình, nhà trường và xã hội. Truyện Cô bé quàng khăn đỏ (Perôn), Ba cô gái
(truyện cổ Nga) là các bài học đáng ghi nhớ cho tất cả những ai sống thiếu
tình thương và trách nhiệm đối với người thân trong gia đình. Các truyện Đàn
ngỗng trời (truyện cổ nước Nga), Bầy chim thiên nga (truyện cổ Grim), Hai
anh em (La-mac-tin)…là những câu chuyện hay, cảm động về tình cảm anh
25
chị em, dạy con người, nhất là các em nhỏ biết yêu thương trân trọng những
tình cảm ruột thịt trong gia đình...
Hiệu quả giáo dục của các tác phẩm văn học nói chung, văn học nước
ngoài nói riêng đến đâu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, vào mức độ cảm
nhận của từng em, song ít nhất các em cũng có được ý niệm về các giá trị đạo