Luận văn thạc sĩ trường đại học thương mại đề tài “phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển việt nam – BIDV” - Pdf 37

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
được tập hợp từ nhiều tài liệu trong thực tế để viết ra và không sao chép ở bất kỳ
luận văn nào trước đó.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của luận văn này.
Hà Nội, Ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Minh Huệ


ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được nhiều sự
ủng hộ, giúp đỡ và ý kiến đóng góp quý báu của nhiều người.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới PGS.TS. Nguyễn Văn Minh, người đã
hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, tận tâm trong thời gian qua.
Tôi xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo Khoa sau đại học, trường
Đại học Thương Mại đã dạy dỗ và truyền đạt cho tôi nhiều tri thức khoa học,
những kinh nghiệm thực tế trong suốt khoá học.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và
động viên tôi hoàn thành tốt khóa học này.


iii
MỤC LỤC

Khi có ý định định hướng phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ thì các Ngân hàng sẽ
phải xây dựng cho mình các kế hoạch phát triển phù hợp. Chiến lược đó được xây dựng trên
nền tảng điều tra, khảo sát các đối tượng khách hàng mục tiêu, khảo sát thị trường, đối thủ
cạnh tranh... ...........................................................................................................................31

ATM


v
DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ SƠ ĐỒ


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thành tựu của công nghệ và khoa học kỹ thuật
đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác trong xã hội,
tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp, thúc đẩy hiện đại hóa và toàn cầu hóa.
Trong tiến trình toàn cầu hoá như hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã và đang
hội nhập sâu, rộng với nền kinh tế thế giới. Chính xu hướng này đang đặt ra
nhiều yêu cầu đối với hệ thống các ngân hàng thương mại, đặc biệt là trong
vấn đề thanh toán nội địa cũng như thanh toán quốc tế. Nói tới vấn đề thanh
toán thì không thể không nhắc đến phương thức thanh toán không dùng tiền
mặt. Phương thức này đang cho thấy được những ưu thế của mình đó là làm
giảm các chi phí trong việc thực hiện thanh toán, góp phần luân chuyển nhanh
nguồn vốn trong nền kinh tế, đảm bảo tính an toàn, bảo mật và hiệu quả trong
hoạt động thanh toán, góp phần hạn chế các giao dịch bất hợp pháp và tăng
cường sự quản lý của Nhà nước. Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hóa đã tạo
nên áp lực cạnh tranh đối với các ngân hàng thương mại, trong môi trường
kinh doanh hiện nay thì các ngân hàng thương mại sớm nhận ra rằng chỉ có
đổi mới và đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng, cung cấp những sản phẩm chất
lượng và đầy đủ tiện ích thì mới có thể phát triển hơn nữa. Song song với sự
phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội thì nhu cầu của con người cũng không
ngừng thay đổi, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính truyền thống đang

không còn là vấn đề mới. Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu
cũng như các bài báo khoa học đều được thực hiện nhằm đưa ra khía cạnh nào
đó của dịch vụ, để từ đó đưa ra được nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện hơn sự
phát triển của việc sử dụng thẻ trong thanh toán.
Trong luận văn của mình, tác giả Lê Thị Trà Vân có thực hiện nghiên
cứu về vấn đề thẻ thanh toán tại Ngân hàng Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân đội trong thời gian từ năm 2010 đến 2013. Theo tác giả, dịch vụ thanh


3

toán qua thẻ của MB bank đều gia tăng qua các năm cả về số lượng và chất
lượng, cụ thể là gia tăng về số lượng thẻ mới, doanh số sử dụng thẻ cũng như
doanh số thực hiện giao dịch chuyển khoản tăng, ... Tuy nhiên, MB bank vẫn
có một số mặt cần chú ý đến để cải thiện hơn, đó là việc số lượng đơn vị chấp
nhận thẻ còn ít và chưa đa dạng, số máy ATM được lắp đặt còn ít so với kế
hoạch dự tính, một số địa điểm đặt máy còn chưa phát huy hiệu quả, các ứng
dụng của thẻ ghi nợ nội địa vẫn chưa nhiều, nguồn nhân lực còn thiếu kinh
nghiệm và chuyên môn,...
Viettinbank là một trong những ngân hàng lớn hiện nay nhưng không
phải vì thế mà dịch vụ thanh toán thẻ của Viettinbank đã phát triển một cách
hoàn hảo. Chúng ta có thể có cái nhìn tổng quan hơn về dịch vụ thanh toán
thẻ của Viettinbank thông qua sự nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Phương
Anh về vấn đề triển khai nghiệp vụ kinh doanh thẻ và phát hành thẻ ở
Viettinbank. Qua nghiên cứu của mình, tác giả đã khẳng định phát triển hoạt
động kinh doanh thẻ là bước đi đúng đắn đối với Viettinbank. Bài học rút ra
từ sự phát triển của ngân hàng Viettinbank đó là để có thể thành công và phát
triển bền vững trong lĩnh vực này, ngoài việc đề ra những chiến lược kinh
doanh hợp lý thì các ngân hàng cũng cần quan tâm tới công tác quản lý rủi ro, sử
dụng những biện pháp có hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể.

thẻ thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt
Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề về phát triển dịch vụ thẻ thanh toán
của một ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Các số liệu được lấy để phân tích
nằm trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2015.


5

5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp;
+ Phương pháp so sánh;
+ Phương pháp thống kê.
- Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu:
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp từ các nguồn sách báo, đề tài, bài viết điều tra
hoặc nghiên cứu của các chuyên gia, nhà quản lý, các doanh nghiệp.
+ Dữ liệu được xử lý và phục vụ cho phân tích thống kê mô tả được sử
dụng trong luận văn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục
chữ viết tắt, bảng, biểu và sơ đồ, phụ lục, nội dung chính của luận văn bao
gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ thanh toán tại ngân
hàng thương mại

sử dụng ở lĩnh vực ăn uống mà còn ở các điểm du lịch, giải trí, ... Đến năm
1960, ngân hàng Bank of America thành lập Công ty dịch vụ BankAmericard,
nhằm kinh doanh nhượng quyền thương hiệu và phát hành thẻ với các ngân
hàng trên thế giới. Năm 1966, để cạnh tranh với sự thành công của Bank of
America, 14 ngân hàng lớn của Mỹ thành lập Hiệp hội thẻ liên ngân hàng


7

quốc tế (Interbank Card Association- ICA) và cho ra đời thẻ Master Charge.
Năm 1968, ngân hàng Bank of American chính thức trao quyền phát hành thẻ
BankAmerican của mình cho các ngân hàng khác thông qua việc ký các hợp
đồng đại lý. Năm 1977, thay vì sử dụng tên BankAmerican, thẻ của ngân hàng
Bank of American được đổi tên thành thẻ Visa. Đến năm 1979, Master Charge
đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ 2 trên thế
giới. Ngày nay, VISA và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất thế giới.
Như vậy, thực tế cho thấy thẻ thanh toán ra đời từ nhu cầu thanh toán,
tiêu dùng trong cuộc sống và có sự phát triển mạnh trong lĩnh vực tài chính
ngân hàng dựa trên nền tảng công nghệ cũng như xu hướng không dùng tiền
mặt trong lưu thông. Chính quá trình toàn cầu hóa như hiện nay đã tạo nên
mạng lưới các thành viên và khách hàng rộng rãi, các tổ chức thẻ quốc tế đã
và đang xây dựng, hoàn thiện hơn hệ thống xử lý giao dịch bằng thẻ, trao đổi
thông tin toàn cầu về việc phát hành, thanh toán, cấp phép, tra soát, khiếu kiện
và quản lý rủi ro liên quan đến các giao dịch bằng thẻ.
Ở Việt Nam, ngân hàng đầu tiên thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ là
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), nay là Ngân hàng thương
mại cổ phần Ngoại thương. Chiếc thẻ đầu tiên được chấp nhận là vào năm
1990 khi Vietcombank kí hợp đồng làm đại lí cho thẻ VISA và đây chính là
bước đầu tiên cho dịch vụ này phát triển ở Việt Nam. Vào năm 1991 có thêm
Master Card, sau đó là các loại Thẻ JCB của Nhật, AMEX của Mỹ. Đến nay,

chuẩn quốc tế, bao gồm các yếu tố: nhãn hiệu thương mại, tên và logo của
nhà phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực và tên của chủ thẻ, ô chữ ký, dải băng
từ chứa các thông tin đã được mã hóa về khách hàng. Ngoài ra, trên thẻ còn


9

có thể có thêm tên công ty phát hành thẻ hoặc một số yếu tố khác tùy theo nhà
phát hành và quy định của hiệp hội thẻ, liên minh thẻ, tổ chức thẻ quốc tế.
1.1.1.3 Trên thế giới hiện nay đang lưu hành rất nhiều loại thẻ và trên các
góc độ khác nhau thì có thể chia thẻ thành các loại khác nhau:
a) Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất (đặc tính kỹ thuật): Theo căn
cứ này thì chúng ta có thể chia thẻ thành 3 loại như sau:
Thẻ khắc chữ nổi (Embossing Card)
Đây là loại thẻ mà những thông tin cần thiết được khắc nổi trên bề mặt
thẻ nhờ vào kỹ thuật khắc chữ nổi. Tấm thẻ đầu tiên trên thế giới được sản
xuất theo công nghệ này. Tuy nhiên, do kỹ thuật này quá thô sơ nên thẻ dễ bị
làm giả. Do vậy, ngày nay người ta không sử dụng loại thẻ này nữa.
Thẻ băng từ (Magnetic Stripe)
Đây là loại thẻ được sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với 1 băng từ
chứa 2 rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ. Mặc dù trình độ kỹ thuật được nâng
cao hơn so với loại thẻ khắc chữ nổi nhưng loại thẻ này vẫn tồn tại nhược
điểm như khả năng đọc thẻ dễ dàng bằng thiết bị đọc, mang tính thông tin cố
định, khu vực chứa thông tin hẹp nên không tính bảo mật chưa cao.
Thẻ thông minh (Smart Card)
Thẻ thông minh là loại thẻ dựa trên kỹ thuật xử lý tin học thông qua việc
gắn vào thẻ 1 "chip" điện tử có cấu trúc giống như một máy tính hoàn hảo. Do
dung lượng nhớ của "chip" điện tử khác nhau nên có nhiều nhóm thẻ thông
minh. Tất nhiên về mặt chi phí, thẻ thông minh khá tốn kém nhưng rõ ràng là với
thẻ thông minh thì sự an toàn và tiện lợi vượt trội hơn so với 2 loại thẻ trước.

trong ngân hàng của chủ thẻ tới tài khoản của người bán. Tuy nhiên, điểm
khác duy nhất và căn bản giữa thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng là khi sử dụng thẻ
ghi nợ để mua hàng hóa, dịch vụ thì số tiền phát sinh trong giao dịch ngay lập
tức sẽ được khấu trừ vào tài khoản thanh toán của chủ thẻ, đồng thời ghi có
ngay vào tài khoản của người bán.
Thẻ trả trước (Prepaid Card)
Đây là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch bằng thẻ khi tiền
đã được nạp vào thẻ tức là trả trước cho tổ chức phát hành thẻ và chủ thể chỉ
có thể chi tiêu trong phạm vi giá trị tiền đã nạp tương ứng. Thẻ trả trước bao
gồm thẻ trả trước xác định danh tính (hay còn gọi là thẻ trả trước định danh)


12

và thẻ trả trước không xác định danh tính (hay còn gọi là thẻ trả trước vô
danh). Ngoài các ngân hàng thì các tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ cũng
có thể phát hành loại thẻ này.
d) Phân loại thẻ theo phạm vi sử dụng: Theo tiêu chí này thì người ta
chia thẻ thành 2 loại sau:
Thẻ dùng trong nước (hay thẻ nội địa)
Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền
giao dịch là đồng tiền bản tệ của nước đó.
Thẻ quốc tế (International Card)
Là loại thẻ được chấp nhận thanh toán trên toàn cầu. Loại thẻ này rất
được khách du lịch ưa chuộng sử dụng vì tính tiện lợi, rộng rãi và an toàn.
e) Phân loại thẻ theo hạn mức tín dụng: Thẻ phân loại theo hạn mức tín
dụng được chia thành 2 loại:
Thẻ vàng (Gold Card)
Là loại thẻ có hạn mức tín dụng cao (phụ thuộc vào quy định của từng
đơn vị phát hành thẻ và thông thường là trên 5000 USD), nhằm vào những

buộc các thành viên của mình phải áp dụng và tuân thủ thống nhất trên hệ
thống toàn cầu. Tổ chức này là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng lớn với
mạng lưới hoạt động rộng khắp như tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ MasterCard,
công ty thẻ American Express, công ty thẻ JCB, …
Ngân hàng phát hành (NHPH) là ngân hàng thực hiện việc phát hành
thẻ cho khách hàng và thẻ được cung cấp cho khách hàng mang thương hiệu
riêng của ngân hàng đó. Nhưng với những loại thẻ do TCTQT hoặc công ty
thẻ trao quyền phát hành thẻ thì trên thẻ phải in thương hiệu của những tổ
chức và công ty này. Ngân hàng phát hành có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin
cấp thẻ, xử lý, phát hành và quản lý thẻ.
Ngân hàng thanh toán (NHTT) là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ
như một phương tiện thanh toán thông qua việc ký kết hợp đồng chấp nhận


14

thanh toán bằng thẻ với các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ. Ngân hàng
thanh toán sẽ cung cấp thiết bị phục vụ cho việc thanh toán qua thẻ cho các
ĐVCNT, hướng dẫn cách thức vận hành cũng như quản lý và xử lý những
giao dịch thẻ tại các đơn vị này. Trong thực tế rất nhiều ngân hàng vừa là
ngân hàng phát hành vừa là ngân hàng thanh toán thẻ.
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (trong trường hợp
thẻ do công ty uỷ quyền sử dụng) có nhu cầu sử dụng thẻ. Chủ thẻ muốn sử
dụng thẻ thì phải tuân theo những điều khoản, điều kiện do ngân hàng phát
hành và thanh toán quy định. Theo thông lệ, mỗi chủ thẻ chính có thể phát
hành thêm thẻ phụ, cả thẻ chính và thẻ phụ đều chi tiêu chung trên một tài
khoản. Một chủ thẻ có thể sở hữu một hoặc nhiều thẻ.
Đơn vị chấp nhận thẻ là các đơn vị cung ứng hàng hoá dịch vụ có ký
kết hợp đồng chấp nhận thanh toán qua thẻ như một phương thức thanh toán.
Các ĐVCNT có thể là các cửa hiệu bán lẻ hoặc các nhà hàng ăn uống, khách

các ngân hàng có thể sử dụng cho những mục đích khác của nền kinh tế. Như
vậy, hiệu suất sử dụng vốn và luân chuyển vốn của nền kinh tế được hiệu quả
hơn. Thực tế, hầu hết các ngân hàng hiện nay đều lựa chọn việc phát hành thẻ
có đảm bảo tức là duy trì một số dư tối thiểu để thẻ hoạt động. Khi số lượng thẻ
phát hành càng nhiều thì tổng mức vốn huy động càng lớn.
Thẻ thanh toán làm tăng nhanh tốc độ chu chuyển trong nền kinh tế.
Chúng ta đều biết, hầu hết mọi giao dịch thẻ đều được thực hiện trực tuyến vì
vậy tốc độ thực hiện giao dịch rất nhanh chóng, thúc đẩy nguồn tiền đang lưu
thông trong nền kinh tế được dịch chuyển nhanh hơn.
Thanh toán qua thẻ giúp kiểm soát khối lượng giao dịch của dân cư
cũng như của toàn bộ nền kinh tế, hạn chế những hoạt động của nền kinh tế
ngầm, tăng cường sự quản lý của nhà nước, chống thất thu thuế. Thanh toán
qua thẻ thể hiện một lối sống văn minh hiện đại, phù hợp với sự phát triển và
tiến bộ của xã hội


16

Đối với chủ thẻ:
Đối với người tiêu dùng, thẻ thanh toán như là một ví tiền gọn nhẹ và an
toàn. Đối với thẻ ghi nợ khi không chi tiêu, tiền của chủ thẻ vẫn được đảm bảo
an toàn trong ngân hàng nhưng vẫn sinh lãi, đồng thời có thể rút tiền tại nhiều
địa điểm khác nhau trong cả nước. Khi sử dụng thẻ quốc tế, chủ thẻ có thể chi
tiêu bằng mọi đồng ngoại tệ nhưng thanh toán chỉ bằng một loại tiền duy nhất.
Với tư cách là một phương tiện thanh toán, thẻ đem lại sự thuận tiện
trong tiêu dùng. Chủ thẻ dễ dàng mua hàng hoá, dịch vụ hoặc rút tiền mặt,
hoặc có thể thanh toán cho các dịch vụ mang tính chất thông dụng như tiền
điện, tiền nước, điện thoại, bảo hiểm… thông qua một mạng lưới các
ĐVCNT, ATM được trang bị khắp mọi nơi. Không những thế chủ thẻ còn
được tiếp cận với các phương thức giao dịch hiện đại như mua hàng trên

cho việc thanh toán thẻ; ưu đãi về tín dụng, ... Hơn nữa, khi thanh toán bằng
thẻ, các ĐVCNT tránh được hiện tượng sử dụng tiền giả, vấn đề mất cắp tiền
mặt, giảm chi phí kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản tiền mặt và tình trạng
chậm thanh toán của khách hàng.
Với tính năng là một phương tiện thanh toán được sử dụng trên phạm
vi quốc tế thì thẻ thanh toán là phương pháp để các ĐVCNT mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của mình ra thị trường nước ngoài.
Đối với các Ngân hàng và hệ thống ngân hàng:
Đối với hệ thống các Ngân hàng, phát triển dịch vụ thanh toán qua thẻ
không chỉ đơn giản là tăng nguồn doanh thu. Thẻ còn là một sản phẩm công
nghệ cao được xây dựng trên nền tảng công nghệ hiện đại nên các Ngân hàng
có điều kiện tiếp cận với những công nghệ tiên tiến trên thế giới, nâng cao
khả năng cạnh tranh của chính mình.
Dịch vụ thanh toán qua thẻ phát triển sẽ cải thiện được môi trường tiêu
dùng, xác lập nên phương thức thanh toán hiện đại trong dân cư, tạo cơ sở để
thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tăng cơ hội cho việc đầu tư sản xuất, xuất


18

khẩu, thúc đẩy kinh tế phát triển. Dịch vụ thanh toán qua thẻ phát triển còn có
tác dụng làm giảm khối lượng tiền mặt có trong lưu thông, giúp tiết kiệm các
chi phí in ấn, phát hành, vận chuyển, bảo quản, dự trữ tiền mặt cho toàn xã hội.
Dịch vụ thanh toán qua thẻ phát triển cũng mang lại một lượng nguồn
vốn huy động rẻ cho các Ngân hàng. Với loại thẻ ghi nợ, NHPH luôn tồn tại
một nguồn tiền gửi ở tài khoản giao dịch của chủ thẻ mà chỉ phải trả với mức
lãi suất thấp. Và hơn hết, số tiền duy trì tài khoản của các chủ thẻ chính là
nguồn vốn huy động có tính chất ổn định đối với các ngân hàng thương mại.
Với loại thẻ tín dụng, nguồn vốn được gia tăng là khi chủ thẻ thanh toán dư
nợ với ngân hàng tức là tăng quỹ tiền mặt thực tế. Bên cạnh đó, để thuận tiện

Chúng ta có thể hiểu phát triển dịch vụ thẻ thanh toán chính là quá trình
biến đổi cả về quy mô thẻ và chất lượng cung cấp dịch vụ thẻ thanh toán của
các ngân hàng thương mại. Tức là các ngân hàng thương mại đẩy mạnh việc
tăng số lượng khách hàng sử dụng thẻ và đồng thời cũng phải cung cấp đến
khách hàng dịch vụ thanh toán qua thẻ có chất lượng tốt hơn. Ngân hàng nào
đưa đến những dịch vụ tốt hơn thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng sử dụng
sản phẩm thẻ của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc tăng số lượng
cũng là biện pháp mang tính khả thi. Doanh số thu được từ hoạt động kinh
doanh thẻ tăng nhưng không đồng nghĩa với việc lợi nhuận cũng tăng. Rõ
ràng, doanh số tăng thì doanh thu tăng mà lợi nhuận tỷ lệ thuận với doanh thu,
nhưng lợi nhuận còn chịu sự tác động của yếu tố chi phí. Nếu doanh thu cao
nhưng chi phí cũng tăng cao tương ứng khi đó lợi nhuận hoạt động kinh
doanh thẻ của ngân hàng không đạt được mục tiêu đề ra. Trong khi đó, để có
thể phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng thì đòi hỏi các ngân hàng phải bỏ
ra một khoản chi phí không nhỏ vào phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ, hệ
thống máy ATM, máy đọc thẻ, ...


20

Như vậy, phát triển dịch vụ thẻ thanh toán có thể được hiểu là sự phát
triển về quy mô thẻ, chất lượng cung cấp dịch vụ thẻ để mang lại ngày càng
nhiều tiện ích cho khách hàng sử dụng nhưng đồng thời nâng cao lợi nhuận
trong hoạt động kinh doanh thẻ của các ngân hàng thương mại và nâng cao lợi
ích cho toàn xã hội.
Để đạt được những điều trên trong phát triển dịch vụ thẻ thanh toán thì
các Ngân hàng phải xem xét tới các khía cạnh:
1.2.1 Phát triển sản phẩm dịch vụ thẻ
Ngày nay, sản phẩm thẻ trong ngành ngân hàng không ngừng gia tăng
về loại hình thẻ. Trong một thị trường cạnh tranh, với mong muốn thu hút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status