i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong bài viết này là trung thực và luận văn với
đề tài “Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình”. được trình bày là công trình
nghiên cứu của riêng bản thân, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.
Đề tài nghiên cứu này được sự giúp đỡ của TS Nguyễn Thanh Phương
và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba
Đình. Tôi xin trân thành cảm ơn TS Nguyễn Thanh Phương cùng Ngân hàng
Thương mại Cổ phận Công thương Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
nghiên cứu.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
ii
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1.............................................................................................................................................. 5
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
XHCN
TMCP
NHTMCP
CN
Ngân hàng Ngoại thương
NHĐT&PT
Ngân hàng Đầu tư và phát triển
NHNN&PTNT
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TW
Trung ương
HĐTĐ - KT
KHDN
Khách hàng doanh nghiệp
PGD
Phòng giao dịch
NHNN
Ngân hàng nhà nước
GTCG
Giấy tờ có giá
Bảng 2.1: Kết quả họat động huy động vốn của Chi nhánh giai đoạn 2013
-2015
Bảng 2.2: Kết quả họat động cho vay của Vietinbank –Ba Đình giai đoạn
2013-2015
37
39
Bảng 2.3:Kết quả kinh doanh của chi nhánh giai đoạn 2013-2015
Bảng 2.4 Số lượng khách hàng CVTD với chi nhánh Ba Đình giai đoạn
2013-2015
Bảng 2.5 Doanh số cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh giai đoạn
Bảng 2.6 Dư nợ cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh giai đoạn 2013-2015
Bảng 2.7 Dư nợ CVTD theo loại hình cho vay của chi nhánh Ba Đình giai
đoạn 2013-2015
40
Bảng 2.8 : Dư nợ CVTD theo thời gian tại chi nhánh giai đoạn 2013-2015
54
Bảng 2.9: Phân loại dư nợ CVTD tại chi nhánh giai đoạn 2013-2015
Bảng 2.10. Tình hình chất lượng dư nợ CVTD tại chi nhánh Ba Đình giai
đoạn nào 2013-2015
54
Bảng 2.11: Thu lãi của cho vay khách hàng cá nhân giai đoạn 2013-2015
có tác dụng góp phần giải quyết bài toán về sản xuất và tiêu dùng cho nền
kinh tế mà nó cũng có tác dụng tích cực đối với chính bản thân ngân hàng một đơn vị kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận.
Việc phát triển cho vay tiêu dùng nằm trong chiến lược phát triển tổng
thể của mảng kinh doanh ngân hàng bán lẻ đang là xu thế tất yếu của các ngân
hàng thương mại nói chung và của hệ thống Ngân hàng TMCP công thương
Việt Nam trong đó có Chi nhánh Ba Đình.
Tuy nhiên, hiện nay cho vay tiêu dùng tại chi nhánh này còn chiếm tỷ
trọng nhỏ trong tổng dư nợ, nguyên nhân do định hướng tín dụng các năm
trước của Chi nhánh, chi nhánh chưa quan tâm chú trọng phát triển hoạt động
bán lẻ nên dư nợ bán lẻ của Chi nhánh hiện nay chưa tương xứng với quy mô
và tiềm năng của chi nhánh.
2
Xuất phát từ thực tiễn tại chi nhánh và những kiến thức đã được học tại
trường đã khuyến khích tôi viết đề tài“Hoạt động cho vay tiêu dùng tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba
Đình”.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài bao gồm:
Phạm Tiến Thành “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng đầu tư
và phát triển chi nhánh Hà Thành”, luận văn thạc sỹ kinh tế, trường Đại học
Thương mại (năm 2014). Nội dung của luận văn tập trung nghiên cứu thực
trạng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng đầu tư và phát triển chi nhánh Hà
Thành. Phân tích, đánh giá về kết quả đạt được cũng như những hạn chế và
nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong cho vay tiêu dùng tại chi nhánh. Tác giả
đã đưa ra được một số giải pháp để phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
đầu tư và phát triển chi nhánh Hà Thành như: Đa dạng hóa các sản phẩm tín
dụng tiêu dùng, xây dựng quy trình cho vay tiêu dùng đối với từng sản phẩm
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Ba Đình” đi sâu nghiên cứu lý
luận kế hợp với phân tích, đánh giá tình hình phát triển hoạt động cho vay
khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Vietinbank – CN Ba Đình từ năm 2013 –
2015 và đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hoạt động cho vay khách
hàng cá nhân của chi nhánh trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Hệ thống hóa, hoàn thiện, nâng cao nhận thức lý luận về cho vay tiêu
dùng và phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại.
Đánh giá đầy đủ, toàn diện về việc phát triển Cho vay tiêu dùng (CVTD)
tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Ba Đình để từ đó
rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại, làm cơ sở cho việc
đề xuất giải pháp hợp lý.
Đề xuất định hướng, các giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học và
thực tiễn, nhằm phát triển cho vay tiêu dùng tại chi nhánh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Cho vay tiêu dùng và phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại.
* Phạm vi nghiên cứu
- Lựa chọn ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Ba
Đình để nghiên cứu về CVTD và phát triển CVTD
4
- Đánh giá về hoạt động CVTD phát triền CVTD của chi nhánh trong
thời gian 2013-2015.
- Đế xuất định hướng và giải pháp mở rộng hoạt động CVTD tại chi
nhánh đến năm 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, khóa luận sử dụng phương pháp thống
triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa.Cùng với sự phát triển đó, các
nghiệp vụ được hình thành và ngày càng hoàn thiện như giữ tiền hộ, chi trả
hộ... trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy các
ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển
đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình
thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.
Trong điều 1 Luật ngân hàng của Pháp (ngày 13/6/1941 ) có ghi : “
Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác
và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ , trong các nghiệp vụ chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán ”.
Hay theo Luật Ngân hàng của Ấn Độ năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là
cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm
2010 của Việt Nam quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng
6
được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Như vậy, Ngân hàng Thương mại ra đời do yêu cầu của sự phát triển
của nền kinh tế là cơ sở nền sản xuất và lưu thông hàng hoá. Nền kinh tế ngày
càng phát triển càng cần đến hoạt động của các Ngân hàng Thương mại.
Thông qua việc thực hiện các chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng
trung gian tín dụng Ngân hàng Thương mại đã trở thành một bộ phận thúc
đẩy nền kinh tế phát triển.
1.1.2. Đặc điểm của Ngân hàng Thương mại
NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt. Nét đặc biệt của doanh nghiệp
Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết, cung cấp vốn
cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay,hoạt động
ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song
ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau :
1.1.3.1.Nghiệp vụ huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất , ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động của ngân hàng .Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình
thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy
tờ có giá. Mặt khác trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng tiến hành
cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển
kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng
ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng
chủ động trong hoạt động kinh doanh , mở rộng quan hệ tín dụng với các
thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát
triển kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy
động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu
cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước .
1.1.3.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Đây là nghiệp vụ trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nghiệp vụ
sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng,
quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường . Do vậy ngân
hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho
hợp lý nhất.
Một là, ngân hàng tiến hành cho vay
8
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Theo thống kê,
9
Mặt khác,các ngân hàng thương mại còn tiến hành môi giới, mua, bán chứng
khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty.
Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ
thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ…
Như vậy,các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân
hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt như hiện nay. Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường
xuyên tác động qua lại với nhau.Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết
định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ
cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho
ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện
cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2. CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng của Ngân hàng Thương mại
Nếu như cho vay sản xuất kinh doanh là một hình thức mà các ngân
hàng thương mại cấp cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ
gia đình nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh
doanh...thì cho vay tiêu dùng lại là một sản phẩm tín dụng rất hữu ích nhằm
tài trợ cho những nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình hoặc để mua cổ
phiếu, trái phiếu. Các khoản CVTD giúp người tiêu dùng có thể sử dụng hàng
hoá và dịch vụ trước khi có khả năng chi trả, tạo cho họ có thể hưởng một
mức sống cao hơn. Những khoản cho vay như thế được dành vào nhiều mục
đích, bao gồm: việc mua nhà ở, xây dựng sửa chữa nhà ở, mua xe ôtô, các
dụng cụ gia đình, các dụng cụ y tế, chi phí cho các dịp nghỉ hè... Với sự gia
tăng về lợi tức và chi phí tiêu dùng làm cho tín dụng tiêu dùng do ngân hàng
thương mại cung cấp đã và đang phát triển nhanh chóng.
Thời hạn trong cho vay tiêu dùng khá đa dạng, cả ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn.
Cho vay tiêu dùng ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn tới 12
tháng nhằm cung ứng vốn cho khách hàng chủ yếu để phục vụ nhu cầu mua
sắm, hình thành nên những tài sản hoặc nhu cầu sử dụng dịch vụ có giá trị
tương đối thấp.
Cho vay tiêu dùng trung và dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn trên
12 tháng, nhằm cung ứng vốn cho khách hàng để mua sắm những tài sản có
giá trị lớn như vay mua nhà, sửa chữa nhà, mua quyền sử dụng đất và các tài
sản có thời gian sử dụng lâu bền khác...
Bốn là đặc điểm về lãi suất cho vay tiêu dùng
Lãi suất áp dụng trong cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất các loại
cho vay thương mại do chi phí để cho vay tiêu dùng cao và rủi ro của khoản cho
vay lớn. Điều này có thể được giải thích là do quy mô của các món vay tiêu
dùng nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn, số lượng khách hàng đông nên
12
ngân hàng phải mất nhiều thời gian và sử dụng một đội ngũ nhân viên khá đông
cho công việc cho vay, từ khâu tiếp khách hàng, nhận hồ sơ, thẩm định khách
hàng, giải ngân, theo dõi khách hàng cho đến việc thu hồi nợ. Vì thế, chi phí của
ngân hàng gồm cả chi phí về thời gian và nhân lực cho việc phục vụ cho vay tiêu
dùng là không nhỏ. Bên cạnh đó, rủi ro của các khoản cho vay tiêu dùng là khá
cao do tư cách của khách hàng vay tiêu dùng khó xác định, tuy nhiên lại là yếu
tố quyết định sự hoàn trả của khoản vay. Hơn nữa, nguồn trả nợ biến động và
phụ thuộc vào nhiều yếu tố của khách hàng cùng với những rủi ro khách quan
trong cuộc sống của họ cũng mang lại nhiều rủi ro cho khoản vay tiêu dùng.
Chính vì vậy, lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất cho vay kinh
doanh.
1.2.3.Các hình thức cho vay tiêu dùng
1.2.3.1. Căn cứ theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn: đối với các khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
Cho vay trung hạn: đối với các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng đến
60 tháng.
Cho vay dài hạn: đối với các khoản vay có thời hạn trên 60 tháng.
1.2.3.2. Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Cho vay tiêu dùng trả góp
Đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người đi vay trả nợ (gồm
số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định
trong thời hạn cho vay. Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản
vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả
năng thanh toán hết một lần số nợ vay.
Cho vay tiêu dùng phi trả góp
14
Theo phương thức này tiền vay được khách hàng thanh toán cho ngân
hàng chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả
góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
Cho vay tín dụng tuần hoàn
Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng cho phép khách hàng
sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài
khoản vãng lai. Theo phương thức này, trong thời hạn cho vay được thỏa
thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ,
khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ
một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng
1.2.3.3. Căn cứ theo mục đích vay
CVTD cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm,
được sở trường của nhân viên tín dụng. Những người này thường được đào
tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cho vay cho nên các
quyết định cho vay trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so
với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ hoặc nhân
viên tín dụng của công ty bán lẻ. Ngoài ra, trong hoạt động của mình nhân
viên tín dụng ngân hàng có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản cho
vay có chất lượng tốt trong khi nhân viên của công ty bán lẻ thường chú trọng
đến việc bán cho được nhiều hàng. Bên cạnh đó, tại các điểm bán hàng, các
quyết định cho vay thường được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa,
trong một số trường hợp, do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối
cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình. Nếu người cấp tín dụng là ngân
hàng, điều này có thể được hạn chế. Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là
linh hoạt hơn cho vay tiêu dùng gián tiếp. Khi khách hàng có quan hệ trực
tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thỏa
mãn quyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng.
Cho vay theo các phương thức khác:
Tuỳ theo nhu cầu của khách hàng và thực tế phát sinh, các NHTM sẽ
xem xét và cho vay theo các phương thức khác phù hợp với đặc điểm hoạt
động trong từng thời kỳ và không trái với quy định của pháp luật.
1.3. PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM
1.3.1.Quan niệm phát triển cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
Thương mại
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự
tăng giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật; đồng
16
thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua
những bước quanh co phức tạp.
17
cao chất lượng cho vay là một trong những nguyên nhân gây ra đổ bể cho
vay.
Thứ hai sự gia tăng về chất lượng của khoản cho vay tiêu dùng là:
Chất lượng cho vay tiêu dùng được hiểu là vốn vay ngân hàng đáp ứng
kịp thời, đầy đủ nhu cầu của khách hàng để khách hàng trang trải đầy đủ chi
phí, hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận
phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội. Chất lượng cho vay tiêu dùng được
thể hiện:
Đối với NHTM: chất lượng cho vay được thể hiện một cách đơn giản là
hiệu quả của việc cho vay mang lại, nó phù hợp với năng lực của ngân hàng
và đảm bảo tính cạnh tranh; là khả năng thu hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và
đúng hạn. Hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao thì chất lượng cho vay càng
cao và ngược lại.
Đối với khách hàng: chất lượng cho vay là thể hiện các khoản vay được
đáp ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh. Các khoản
vay vốn từ NHTM giúp cho khách hàng có đủ tiền để thoã mãn các nhu cầu
về tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đối với nền kinh tế: chất lượng cho vay tiêu dùng là phục vụ tốt các
nhu cầu tiêu dùng của người dân, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống
của xã hội, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng cho vay và phát triển
xã hội.
Hiện nay tăng trưởng cho vay cao và chất lượng cho vay tốt là hai vấn
đề không thể tách rời, chất lượng cho vay bảo đảm hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng về hai mặt là khả năng sinh lợi và giảm thiểu rủi ro về sử dụng
vốn. Đồng thời, hoạt động cho vay tốt phải dựa trên nguyên tắc là thoã mãn
nhu cầu vốn của khách hàng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do đó các
ngân hàng cần xác định được khách hang mục tiêu, hiểu rõ hơn nhu cầu khách
việc mở rộng quy mô tại ngân hàng. Mức tăng giảm số lượng khách hàng
càng cao chứng tỏ quy mô CVTD của ngân hàng càng được mở rộng và
ngược lại nếu mức tăng giảm lượng khách hàng càng nhỏ thì chứng tỏ quy mô
CVTD bị thu hẹp.
Tốc độ tăng số lượng khách hàng: là số so sánh giữa lượng tăng tuyệt
đối khách hàng giữa năm (t) và năm (t-1) với số lượng khách hàng năm (t-1)
Tốc độ tăng khách hàng = Số lượng KH năm (t) – Số lượng KH năm (t-1)
Số lượng KH năm (t-1)
Ngoài chỉ tiêu phản ánh số lượng tăng khách hàng còn có chỉ tiêu
Chỉ tiêu phản ánh số các khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho
khách hàng: là số lần khách hàng đến giao dịch với ngân hàng trong một năm.
Trong hoạt động CVTD, số lượt khách hàng thể hiện số lần khách hàng đến
ngân hàng thực hiện vay tiêu dùng. Và khi số lượt khách hàng tăng lên thì nó
thể hiện hoạt động CVTD của ngân hàng được mở rộng. Nó cũng cho biết sự
tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng.
19
Thứ hai: Chỉ tiêu phản ánh doanh số cho vay
Doanh số cho vay tiêu dùng: là tổng số tiền ngân hàng CVTD trong kỳ,
nó phản ánh một cách khái quát về hoạt động CVTD của ngân hàng trong
một thời kỳ nhất định, thường tính theo năm tài chính.
Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số cho vay tiêu dùng tuyệt
đối:
Giá trị tăng
trưởng doanh số
tuyệt đối
=
Doanh số thu
=
+
vay của năm t
cuối năm t-1
vay trong năm t
nợ cuối năm t
Chỉ tiêu phản ánh mức tăng trưởng dư nợ tuyệt đối:
20
Giá trị tăng
trưởng dư nợ =
CVTD tuyệt đối
Dư nợ tuyệt đối vay
tiêu dùng năm (t)
-
Tổng dư nợ cho vay
tiêu dùng năm (t-1)
Chỉ tiêu này cho biết dư nợ năm (t) tăng so với năm (t-1) về số tuyệt đối
là bao nhiêu. Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền mà khách hàng đang nợ
ngân hàng qua các năm đã tăng lên, chứng tỏ rằng hoạt động CVTD đang
được mở rộng.
Chỉ tiêu phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ tương đối:
Giá trị tăng trưởng dư nợ
hàng đầy đủ và đúng hạn. Tỷ lệ CVTD có tài sản đảm bảo được tính theo
công thức:
Tỷ lệ dư nợ
Dư nợ CVTD có TSĐB
CVTD có TSDB =
Tổng dư nợ CVTD
Các tài sản đảm bảo của khách hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại của
Ngân hàng khi khách hàng gặp khó khăn không tra được nợ. Tỷ lệ cho vay có
TSĐB lớn cho thấy mức độ an toàn của hoạt động cho vay là cao và nguy cơ
mất vốn của Ngân hàng trong trường hợp phát sinh nợ quá hạn có TSĐB là
thấp.
Nợ quá hạn
Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng ngân hàng là khoản nợ mà khách
hàng không trả được khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.
Nợ quá hạn vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính hoàn trả, hoàn trả
không đầy đủ và kịp thời gây nên sự đổ vỡ niềm tin của ngân hàng đối với
người vay.
Nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng là một hiện tượng tất yếu. Song
vấn đề quan trọng là phải giảm phải giảm tỷ lệ nợ quá hạn đến mức thấp nhất.
Chỉ tiêu phản ánh tỷ lệ nợ quá hạn cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ
cho vay tiêu dùng:
Tỷ lệ nợ quá hạn
=
Nợ quá hạn CVTD * 100%
CVTD trên tổng
Tổng dư nợ CVTD
Chỉ tiêu này cho biết nợ quá hạn trong hoạt động CVTD chiếm tỷ lệ bao
nhiêu trong tổng dư nợ CVTD của ngân hàng. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt,
chứng tỏ ngân hàng quản lý nợ và chất lượng của khoản vay tốt.