BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR
ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THU TÍM
PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam ” là công trình nghiên cứu của tôi. Để thực hiện luận văn này, tôi đã tự mình
nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề, vận dụng kiến thức đã học và trao đổi với giảng viên hướng
dẫn.
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi tự
tổng hợp, phân tích. Các số liệu trong luận văn này là những thông tin đáng tin cậy.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 3 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Thu Tím
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BIDV: Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
CBTD: Cán bộ tín dụng
CN: Chi nhánh
CNTT: Công nghệ thông tin
CVTD: Cho vay tiêu dùng
DVKHCN: Dịch vụ khách hàng cá nhân
Hình 2.15: Tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng tại BIDV giai đoạn 2010-2013
Hình 2.16: Độ tuổi của khách hàng vay tiêu dùng tại BIDV
Hình 2.17 : Thu nhập của khách hàng vay tiêu dùng tại BIDV
Hình 2.18: Trình độ học vấn của khách hàng vay tiêu dùng tại BIDV
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÁT TRIỂN
CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1. Khái quát về cho vay tiêu dùng 4
1.1.1.Khái niệm cho vay tiêu dùng 4
1.1.2.Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 4
1.1.3.Sự cần thiết của phát triển cho vay tiêu dùng 6
1.1.4.Các hình thức cho vay tiêu dùng 8
1.1.4.1. Thế chấp 8
1.1.4.2. Cho vay trả góp 9
1.1.4.3. Tài khoản thẻ tín dụng 9
1.1.4.4. Thấu chi 10
1.2. Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại 10
1.2.1.Khái niệm phát triển cho vay tiêu dùng 10
1.2.2.Lợi ích phát triển cho vay tiêu dùng 11
1.2.3.Các rủi ro khi phát triển cho vay tiêu dùng 11
1.2.4.Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển cho vay tiêu dùng 11
1.2.4.1. Quy mô và tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng 11
1.2.4.2. Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng 13
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cho vay tiêu dùng tại NHTM 14
2.2.1 Quy mô và tốc độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng 29
2.2.1.1 Doanh số CVTD 29
2.2.1.2 Dư nợ CVTD/ tổng dư nợ cho vay giai đoạn 2010-2013 30
2.2.1.3 Số lượng khách hàng vay tiêu dùng 31
2.2.2 Phân tích tình hình cho vay tiêu dùng theo sản phẩm 31
2.2.2.1 Cho vay mua nhà ở 31
2.2.2.2 Cho vay cầm cố GTCG/STK 33
2.2.2.3 Cho vay tiêu dùng tín chấp 34
2.2.2.4 Thẻ tín dụng 35
2.2.2.5 Cho vay mua ô tô 36
2.2.2.6 Thấu chi 38
2.2.2.7 Cho vay du học 39
2.2.3 Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay tiêu dùng 40
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay tiêu dùng tại
BIDV 42
2.3.1 Nhóm nhân tố khách quan 42
2.3.1.1 Tình hình kinh tế 42
2.3.1.2 Hành lang pháp lý 44
2.3.1.3 Môi trường khoa học công nghệ 47
2.3.1.4 Đặc điểm khách hàng vay 49
2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 52
2.3.2.1 Định hướng của ngân hàng 52
2.3.2.2 Chính sách Marketing của ngân hàng 54
2.3.2.3 Chính sách cho vay 56
2.3.2.4 Đội ngũ nhân lực 59
2.4 Những tồn tại và nguyên nhân 60
2.4.1 Những tồn tại 60
2.4.2 Nguyên nhân 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI B
những năm 1950. Từ năm 1960 đến năm 1992, vay tiêu dùng tương đối ổn định ở
mức khoảng 20% của tổng số nợ phải trả.
Như vậy, CVTD là hình thức tín dụng phổ biến và có nhiều tiện ích, việc phát
triển CVTD không những tác động tới người tiêu dùng, người sản xuất, NHTM mà
còn cả nền kinh tế.
Tại Việt Nam, hầu hết các ngân hàng thương mại đều có các sản phẩm cho vay
tiêu dùng, từ các khoản vay lớn như mua nhà, mua ô tô cho đến các khoản vay nhỏ
như vay mua đồ gia dụng Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng phát triển chưa thực sự
xứng với tiềm năng của thị trường nước ta hiện nay. Hiện nay, các NHTM đã đưa ra
nhiều gói tín dụng tiêu dùng nhưng số lượng giải ngân còn hạn chế.
Là một trong những NHTM có quy mô lớn tại Việt Nam, ngân hàng TMCP Đầu
tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), là một ngân hàng hoạt động chủ yếu như một
ngân hàng bán buôn. Khách hàng truyền thống của BIDV chủ yếu là các định chế
tài chính như ngân hàng, các tập đoàn, tổng công ty, các doanh nghiệp lớn,…
Nhưng với xu hướng chung, BIDV cũng đang dần phát triển các dịch vụ ngân hàng
bán lẻ, trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng. Tuy nhiên, muốn phát triển hoạt
động cho vay tiêu dùng, BIDV cần xem xét các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự phát
triển cho vay tiêu dùng? Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam ” là để góp phần
giải quyết sự cần thiết của vấn đề trên.
2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung của nghiên cứu là nhằm tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến phát
2
triển CVTD tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, cụ thể:
- Tổng hợp các lý luận cơ bản về phát triển cho vay tiêu dùng.
- Phân tích thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại BIDV.
Tổng cục Thống kê, NHNN, Cụ thể:
+ Để phân tích tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2010-2013, tác
giả sử dụng dữ liệu từ Tổng cục Thống kê.
+ Để đánh giá hành lang pháp lý ảnh hưởng đến sự phát triển
CVTD, tác giả sử dụng dữ liệu từ NHNN.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về cho vay tiêu dùng và phát triển cho vay
tiêu dùng tại ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay tiêu dùng tại BIDV.
Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại BIDV.
4
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ PHÁT TRIỂN
CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về cho vay tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng
Thị trường tín dụng là đối tượng của nghiên cứu sâu rộng và tranh cãi mạnh mẽ các
cuộc tranh luận, và các khóa học và sách giáo khoa. Có nhiều khái niệm về CVTD:
Cho vay tiêu dùng chính là việc các tổ chức tín dụng cung cấp cho một cá nhân
hoặc hộ gia đình tiền hoặc thanh toán chi phí mua hàng hoá dịch vụ của họ, bao
gồm các hình thức: thẻ tín dụng, cho vay thế chấp v.v… đây là những hình thức phổ
biến nhất của cho vay tiêu dùng (Finlay, 2005).
Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
của khách hàng (Trần Huy Hoàng và các tác giả, 2011).
Như vậy, cho vay tiêu dùng là hình thức cấp tín dụng của NHTM trong đó ngân
vay nói chung đều tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Lãi suất CVTD thường là cố định và
được xác định dựa trên lãi suất huy động đầu vào của kỳ hạn cùng với kỳ hạn vay
cộng với biên độ lãi suất và phần bù rủi ro. Chính vì thế khi có sự biến động lãi suất
huy động trên thị trường tăng, ngân hàng sẽ phải bù đắp mức lãi suất huy động này
mà không thay đổi được mức lãi suất cho vay. Do vậy để đảm bảo hiệu quả hoạt
động, mức lãi suất CVTD bao giờ cũng cao hơn mức lãi suất cho vay khác.
Thứ tư, CVTD có tính nhạy cảm theo chu kỳ, nếu như nền kinh tế đang trong thời
kỳ thịnh vượng thì nhu cầu tiêu dùng tăng lên. Nhu cầu về loại hình CVTD tăng lên
do người dân cảm thấy lạc quan về tương lai, có nhu cầu sử dụng những mặt hàng
vừa đẹp vừa bền lại có chất lượng đảm bảo… Ngược lại, khi nền kinh tế khó khăn,
nhất là khi họ thấy tình trạng thất nghiệp tăng lên và họ sẽ hạn chế vay ngân hàng.
CVTD lúc này cũng giảm đi về nhu cầu, vì người dân chỉ lo đến nhu cầu tối thiểu
trong sinh hoạt của họ.
Thứ năm, khi vay tiêu dùng người dân dường như kém nhạy cảm với lãi suất, người
tiêu dùng quan tâm đến khoản vay họ phải trả mỗi tháng hơn là lãi suất. Bởi vì khi
tiêu dùng một loại hàng hóa dịch vụ nào đó, cho dù là hàng hóa có giá trị nhỏ hay
giá trị lớn thì người đi vay cũng chỉ quan tâm đến thu nhập trong tương lai của mình
có đủ để trang trải cho khoản vay hiện nay hay không, nếu như phù hợp họ sẽ sẵn
sàng đi vay để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình.
Thứ sáu, mức thu nhập và trình độ học vấn có tác động lớn đến việc sử dụng các
6
khoản tiền vay của người tiêu dùng. Thật vậy, những người có thu nhập cao, có
trình độ học vấn thường có đòi hỏi cao hơn, khắt khe hơn trong việc chọn lựa những
hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng. Họ thường chọn mua những mặt hàng xa xỉ, mẫu mã
đẹp, chất lượng tuyệt hảo, nên họ thường vay với số tiền lớn hơn.
Thứ bảy, chất lượng thông tin tài chính từ các khoản tín dụng tiêu dùng không cao.
cũng cho phép họ đáp ứng nhu cầu đó. Nhờ vay tiêu dùng mà họ được hưởng các
tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn, nó rất cần thiết cho
những trường hợp khi cá nhân có những việc chi tiêu mang tính cấp bách như
nhu cầu chi tiêu cho giáo dục, y tế. Mặt khác, việc thỏa mãn trước nhu cầu sẽ
thúc đẩy người tiêu dùng phấn đấu để chi trả cho nhu cầu đó càng sớm càng tốt
vì khi vay ngân hàng để mua sắm, thì chính tài sản đó sẽ trở thành vật đảm bảo
đối với ngân hàng mà tâm lý chung chẳng ai muốn nắm giữ tài sản mà không
phải của chính mình. Điều này gián tiếp đưa đến việc tăng thu nhập trong tương
lai của người tiêu dùng.
Đối với người sản xuất: Mục tiêu chung của tất cả các nhà sản xuất là giá trị tăng
thêm của tài sản. Do đó bằng cách này hay cách khác thì họ đều muốn tiêu thụ được
càng nhiều hàng hóa càng tốt. Tuy nhiên, họ cũng phải đối mặt với một thực tế là
không phải lúc nào khách hàng cũng có tiền để thanh toán ngay mà có thể trong vài
tuần, vài tháng sau khi khách hàng nhận được thu nhập hoặc đã tích lũy đủ. Đứng
trước mục tiêu lợi nhuận, mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh
với các đối thủ sản cuất cùng loại mặt hàng trên thị trường, các nhà sản xuất sẵn
sàng bán hàng hóa trả góp, thậm chí bán chịu hàng hóa trong thời gian dài. Để có
tiền quay vòng, các cửa hàng này sẽ tìm đến sự trợ giúp của ngân hàng.
Như vậy, việc cho vay của ngân hàng trong trường hợp này góp phần thúc đẩy các
hãng mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo ra khả năng cạnh tranh giữa các hãng khiến
các hãng luôn phải tìm cách thay đổi mẫu mã sản phẩm, đáp ứng thị hiếu của người
tiêu dùng… Thêm vào đó còn góp phần tạo công ăn việc làm cho xã hội.
Đối với NHTM: Hoạt động chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi với trách nhiệm
hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay. Song song với nỗ lực huy động vốn, các
NHTM còn cố gắng tối đa trong việc cấp tín dụng cho cá nhân và cho các tổ chức
kinh tế trong và ngoài nước. Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay
thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản từ 1/2 đến 2/3 giá trị nguồn thu của ngân
hàng. Với cá nhân, hộ gia đình, ngân hàng thực hiện loại hình cho vay chủ yếu như
đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được
công chứng, chứng thực hoặc đăng ký.
9
Thời hạn thế chấp tài sản: căn cứ vào điều 344, Bộ luật dân sự, các bên thỏa thuận
về thời hạn thế chấp tài sản, nếu không có thỏa thuận thì việc thế chấp có thời hạn
cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp.
1.1.4.2. Cho vay trả góp
Khi có nhu cầu chi tiêu tiêu dùng với số tiền lớn, người tiêu dùng thường vay tiền
của ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng. Những khoản vay này sẽ được trả định kỳ,
thường là hàng tháng (Wilson, 2000). Cho vay trả góp là loại hình cho vay nhằm
đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khác hàng với phương thức thu nợ nhiều
kỳ, nợ gốc và lãi được trả thành nhiều kỳ trong suốt thời gian trả nợ và thường áp
dụng cho các khoản cho vay với số tiền lớn, thời hạn vay tương đối dài (Trần Huy
Hoàng và các tác giả, 2011).
Các khoản vay trả góp được bảo đảm bằng tài sản của người vay, phổ biến nhất là
bất động sản nên về nguyên tắc hình thức này giống thế chấp (Finlay, 2005).
1.1.4.3. Tài khoản thẻ tín dụng
Tài khoản thẻ tín dụng là hình thức ngân hàng chấp thuận cho khách hàng sử dụng
vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ
và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền là đại lý của ngân hàng
(Trần Huy Hoàng và các tác giả, 2011).
Thẻ tín dụng là một trong các hình thức cho vay tiêu dùng, trong đó ngân hàng phát
hành thẻ tín dụng cho những người có đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định một giới hạn
tín dụng tối đa mà chủ thẻ được phép sử dụng. Hạn mức tín dụng này phụ thuộc vào
mức độ tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng và mức độ yêu cầu của khách
hàng (Armetta và các tác giả, 1997).
trả lãi trên phần tiền của khoản ứng trước đã sử dụng theo mức lãi suất đã thỏa
thuận, không quy định các đối tượng tín dụng là các mặt hàng cụ thể nào. Thấu chi
giúp khách hàng dễ dàng thực hiện việc mua sắm hay bất kỳ mục đích gì khi họ cần
đến số tiền trong hạn mức thấu chi đã được cấp. Hơn nữa, khách hàng có thể hoàn
trả một số tiền đó vào bất kỳ lúc nào.
1.2. Phát triển cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm phát triển cho vay tiêu dùng
Phát triển là sự tăng trưởng bền vững. Trong đó, tăng trưởng là sự tăng thêm về quy
mô, sản lượng trong một thời kỳ nhất định. Phát triển cho vay tiêu dùng là sự phát
triển với nợ xấu thấp.
11
1.2.2. Lợi ích phát triển cho vay tiêu dùng
CVTD là hình thức tín dụng phổ biến và có nhiều lợi ích, việc phát triển CVTD
không những mang lại lợi ích cho NHTM mà còn có lợi đối với khách hàng vay.
Lợi ích của phát triển CVTD: (i) đối với ngân hàng: góp phần đa dạng hóa các sản
phẩm cho vay của ngân hàng, phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, mở rộng đối tượng giao dịch, mở rộng thị phần; (ii) đối với khách hàng: tiếp
cận được nguồn vốn vay, được ngân hàng cung ứng các dịch vụ khác gắn liền với
khoản tiền vay (Trần Huy Hoàng và các tác giả, 2011).
1.2.3. Các rủi ro khi phát triển cho vay tiêu dùng
Rủi ro nợ quá hạn : khi người đi vay không thanh toán hoặc không thanh toán đầy
đủ tiền vay khi đến hạn, dẫn đến mất khả năng thanh toán tạm thời hoặc vĩnh viễn
hay người đi vay không muốn trả nợ.
Rủi ro khi có sự thay đổi lãi suất bình quân trên thị trường ảnh hưởng đến mức lãi
suất ngân hàng đang áp dụng cố định trong cho vay tiêu dùng. Bởi vì, những khoản
vay ngắn hạn, lãi suất CVTD thường là cố định và được xác định dựa trên lãi suất
− Chỉ tiêu phán ánh sự tăng trưởng số lượng khách hàng:
Số lượng khách hàng: là tổng số khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng
trong hoạt động CVTD, số lượng khách hàng thể hiện số các khoản tiêu dùng mà
ngân hàng giải ngân cho khách hàng trong kỳ.
Chỉ tiêu này cho biết số lượng khách hàng năm (t) tăng (giảm) so với năm (t-1) là
bao nhiêu. Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng có thể đánh giá việc mở rộng quy mô
và đối tượng khách hàng tại ngân hàng.
Giá trị tăng trưởng
doanh số tuyệt đối
=
Tổng doanh số cho vay
tiêu dùng năm (t)
–
Tổng doanh số cho vay
tiêu dùng năm (t - 1)
Tỷ trọng =
Tổng doanh số cho vay tiêu dùng
x 100%
Tổng doanh số của hoạt động cho vay
Mức tăng, giảm số lượng
khách hàng
=
Số lượng khách hàng
năm (t)
–
Số lượng khách hàng
năm (t-1)
những biện pháp phù hợp khi xảy ra sự cố, tránh những thiệt hại và nâng cao uy tín
cho ngân hàng.
14
Sơ đồ tóm tắt các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển CVTD
Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển CVTD Quy mô và tốc
độ tăng doanh
số
Tỷ lệ nợ xấu trong
cho vay tiêu dùng
Giá trị tăng
trưởng
tuyệt đối
Tỷ trọng dư
nợ CVTD/
Tổng dự nợ
sẵn sàng trả nợ của một cá nhân. Nói cách khác, một cá nhân hay hộ gia đình có thể
quyết định vay tiền không phải là họ kỳ vọng thu nhập của họ tăng trong tương lai,
nhưng bởi vì các cá nhân và hộ gia đình biết rằng khoản vay sẽ không bắt buộc phải
hoàn trả (Gropp, Scholz và White, 1997) .
Một hệ thống pháp luật có quy định rõ về cải tiến nguồn thông tin và chia sẻ thông
tin tín dụng được sử dụng để hỗ trợ cho tổ chức tín dụng trong khi tiếp nhận và
thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng sẽ giảm rủi ro, giảm thông tin bất cân
xứng giữa người đi vay và người cho vay (Kang và Ma, 2009).
Vì vậy, đây là một nhân tố có tác động không nhỏ đến việc phát triển CVTD của
NHTM. Một ngân hàng muốn phát triển CVTD nhưng các văn bản pháp lý của Nhà
nước quy định không rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp giữa ngân hàng và khách hàng
thì không có cơ sở pháp lý nào để giải quyết tranh chấp chắc chắn sau một thời gian
triển khai sẽ gặp phải khó khăn và không muốn mở rộng nữa.
1.3.1.3. Môi trường khoa học công nghệ
Công nghệ thông tin đã có một tác động đáng kể vào tốc độ phát triển của thị trường
cho vay tiêu dùng trong suốt quá trình cấp tín dụng từ điều kiện cấp tín dụng đến
quản lý tín dụng và tiếp thị các sản phẩm cho vay tiêu dùng (Finlay, 2005). Sự phát
triển của khoa học công nghệ sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp mở rộng danh
mục hàng hóa, đa dạng sản phẩm và dẫn đến sự phát triển của rất nhiều các đồ dùng
lâu bền, đặc biệt là những mặt hàng cần đến sự hỗ trợ của tín dụng. Về phía ngân
hàng, sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ giúp các NHTM cải tiến sản phẩm,
tiếp cận khách hàng, quảng cáo sản phẩm, .… dễ dàng và hiệu quả hơn.
Phát triển công nghệ cũng đáng chú ý là sự nổi lên của Internet banking giúp khách
hàng vay quản lý tài khoản vay của họ tại bất cứ nơi nào và vào bất kỳ lúc nào
(Finlay, 2005).
16