THƯ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
MAI HIỀN LÊ
KỸ NĂNG SỐNG CỦA TRẺ LỚP MẪU GIÁO LỚN TRUỜNG MẦM
NON THỰC HÀNH TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 603180
Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ XUÂN HỒNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập và 1 năm thực hiện nghiên cứu đề tài tốt nghiệp, tôi đã hoàn thành
luận văn của mình.
Để có được kết quả này, tôi xin chân thành cảm ơn sự giảng dạy tận tình của quý thầy
trong chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành Tâm Lý Học. Tôi cũng vô cùng biết ơn
sự tạo điều kiện tối đa về cả vật chất và thời gian cũng như các điều kiện khác của trường
Cao Đẳng Sư phạm Trung Ương Tp.HCM nơi tôi đang công tác, đã chấp thuận cho tôi tham
gia khoá học này.
Để có thể hoàn thành được luận văn tốt nghiệp, tôi rất cảm kích sự hướng dẫn tận tâm
của TS.Lê Xuân Hồng, cùng với sự hỗ trợ tối đa của Ban Giám Hiệu và giáo viên các lớp
thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro trong cuộc sống.
Do đó, việc hình thành kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói riêng
đang trở thành nhiệm vụ quan trọng.
Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc
sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa.
Giáo dục kỹ năng sống nhằm giúp trẻ phát triển hài hòa, toàn diện về nhân cách. Cung
cấp cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ năng sống để các em sống sao cho lành
mạnh và có ý nghĩa.
Giúp các em hiểu, biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung cấp thành hành
động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với người khác, với xã hội, ứng
phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giải quyết mâu thuẫn
trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực...
Theo UNESCO, 8 tuổi đã là quá trễ để giáo dục kỹ năng sống. Vì đến độ tuổi này trẻ
đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị; trừ phi có sự thay đổi sâu sắc về trải nghiệm
trong đời, nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trị sau độ tuổi này. Trẻ từ dưới 2 tuổi đã
bắt đầu tiếp thu từ môi trường sống xung quanh, như giọng nói của người lớn khi trò chuyện
với trẻ, cách thức tiếp xúc với trẻ,... tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ. Vì vậy việc
hình thành và phát triển kỹ năng sống cần được tiến hành từ bậc học mầm non.
2. Mục đích nghiên cứu
- Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo lớn.
- Xây dựng một số biện pháp tác động sư phạm nhằm hình thành và hoàn thiện một số
kỹ năng sống phù hợp với trẻ lớp mẫu giáo lớn.
- Đề ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc hình thành kỹ năng sống
cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Trẻ lớp mẫu giáo lớn trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh.
- Giáo viên trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh.
5.3 Đưa ra những kiến nghị nhằm tổ chức tốt việc hình thành và phát triển kỹ năng
sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Tìm kiếm, đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu phục vụ cho đề tài nghiên cứu như các
sách giáo khoa, sách chuyên ngành, các tạp chí, trang web…
6.2 Phương pháp thực nghiệm
- Xác định mục đích thực nghiệm
- Hình thành giả thuyết khoa học
- Phân tích đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng
- Xây dựng hệ thống những bài tập nhỏ theo hướng của mục đích thực nghiệm đặt ra.
Đối tượng thực nghiệm được chia thành 2 nhóm: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Nhóm thực nghiệm được tác động bởi những biến cố độc lập để xem xét sự diễn biến của
chúng có đúng với giả thuyết ban đầu hay không. Trong khi đó nhóm đối chứng diễn biến
hoàn toàn tự nhiên. Với mẫu nghiên cứu:
Lớp Lá 1
Nam
Lớp Lá 2
Nữ
Nam
Tổng
Nữ
Nam
26
59.3
20
60.6
13
39.4
31
51.7
29
48.3
- Tiến hành thực nghiệm hình thành
- Thu thập và xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học
- Rút ra nhận xét và kết luận
6.3. Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn một số giáo viên trường mầm non Thực hành về việc tổ chức hoạt động
nhằm hình thành và phát triển kỹ năng sống cho trẻ lớp mẫu giáo lớn.
- Phỏng vấn những người có kinh nghiệm về các biện pháp hình thành và hoàn thiện
kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn.
tỉnh. Với những nội dung cơ bản như:
- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả
- Kỹ năng tư duy sáng tạo
- Kỹ năng giải quyết vấn đề…
Trong khi thực hiện, một số bài học kinh nghiệm đã được chỉ rõ như: cần phải biên
soạn, in ấn nhiều tài liệu hướng dẫn để phổ biến cho người dạy và người học. Đồng thời cần
tăng cường việc đào tạo giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ năng sống ở các trường về nội dung
và phương pháp tích cực hơn.
1.1.1.2 Giáo dục kỹ năng sống tại Campuchia
Tại Campuchia người ta coi KNS là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao
các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, kỹ năng tìm việc và kiếm tiền để
nuôi sống bản thân và gia đình là những KNS quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn. Vì
thế trong sự phân loại được chia thành 3 nhóm chủ yếu:
- Nhóm 1: Kỹ năng chung bao gồm
+ Những kỹ năng đơn giản trong đời sống gia đình như: kỹ năng phòng ngừa những
bệnh lây lan qua đường tình dục, kỹ năng an toàn thực phẩm, kỹ năng hiểu biết về dinh
dưỡng…
+ Kỹ năng quản lý gia đình và các phương pháp học tập
+ Kỹ năng nâng cao đời sống hàng ngày như: Kỹ năng hiểu biết về những công nghệ
cơ bản trong đời sống hàng ngày
+ Kỹ năng hiểu biết về các giá trị đạo đức, tự chủ…
- Nhóm 2: Kỹ năng tiền nghề nghiệp: Đó là những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tính toán, tri
thức về quyền và trách nhiệm của người chủ và người làm thuê, kỹ năng giải quyết vần đề…
- Nhóm 3: Các kỹ năng nghề nghiệp: Như trồng trọt, nuôi gia súc, sửa chữa đồ điện, sử dụng
máy tính và nói ngôn ngữ nước ngoài.
Tại Campuchia KNS được đào tạo chính quy trong nhà trường và được coi như là
những nhân tố chính trong chính sách giáo dục nhằm kết nối giáo dục với nhu cầu thị trường
để phát triển kinh tế xã hội. Sự kết nối này sẽ nâng cao tính hiệu quả nghề nghiệp của người
- Tạo ra chất lượng giáo dục cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt.
1.1.1.5. Giáo dục kỹ năng sống tại Thái Lan
Tại đây họ quan niệm, KNS là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân
đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn
cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc. Nói cách khác, KNS là khả năng của cá nhân có thể
giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc. Và ít nhất cần
hình thành cho người học 10 KNS cơ bản sau:
- Ra quyết định
- Giải quyết xung đột
- Sáng tạo
- Phân tích và đánh giá
- Giao tiếp
- Quan hệ liên nhân cách
- Làm chủ cảm xúc
- Làm chủ được những cú sốc
- Đồng cảm
- Thực hành
1.1.1.6. Giáo dục kỹ năng sống tại Ấn Độ
KNS được coi là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của
con người. Bao gồm những kỹ năng cơ bản như:
- Giải quyết vấn đề
- Tư duy phê phán
- Tư duy sáng tạo
- Giao tiếp
- Quan hệ liên nhân cách
- Ra quyết định
- Đàm phán
- Tự nhận thức
Nói tóm lại, với quan niệm và cách phân loại có những nét khác nhau. Nhưng tựu
chung lại hầu hết các nước đều nhận thấy vai trò quan trọng của việc hình thành kỹ năng
sống cho người học.
1.1.2 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống tại Việt Nam [3, tr.42]
Bắt đầu từ chương trình của UNICEF năm 1996 “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ
sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thuật
ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến. Lúc đó quan niệm về kỹ năng sống được
giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao
tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng đặt mục tiêu…nhằm vào những
chủ đề giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn.
Đến giai đoạn hai với chương trình “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống” thì
quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn.
Đó là những kỹ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội dành
cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, vận
dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối
tượng.
Sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO tài trợ được tổ chức
năm 2003 thì khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng. Từ đó, những
người làm công tác giáo dục Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và trách nhiệm
phải giáo dục kỹ năng sống cho người học.
1.2 Những khái niệm cơ bản
1.2.1. Mục tiêu giáo dục mầm non [6]
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ,
thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một.
Giáo dục mầm non tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ, đặt nền tảng cho việc
học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Với các mục tiêu cụ thể là:
Phát triển thể chất
cộng đồng gần gũi.
Phát triển thẩm mỹ
- Có khả năng cảm nhận vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác phẩm nghệ
thuật.
- Có khả năng thể hiện cảm xúc, sáng tạo trong các hoạt động âm nhạc, tạo hình.
- Yêu thích, hào hứng tham gia vào các hoạt động nghệ thuật.
1.2. 2. Đặc điểm tâm lý của trẻ lớp mẫu giáo lớn
1.2.2.1 Sự phát triển cảm giác, tri giác [13, tr.176]
Ở tuổi này sự phát triển về cảm giác và tri giác của trẻ phát triển mạnh mẽ.
- Đặc điểm lĩnh hội chuẩn cảm giác của trẻ mẫu giáo: Lúc đầu trẻ lĩnh hội các biến
dạng cơ bản của mỗi loại thuộc tính, sau đó trẻ học phân biệt các biến dạng của các chuẩn.
- Sự phát triển hành động tri giác của trẻ mẫu giáo: Dần chuyển hành động định hướng
bên ngoài thành hành động tri giác và tăng khả năng định hướng có mục đích, tính kế họach,
có điều khiển trong quá trình tri giác.
1.2.2.2 Đặc điểm phát triển trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn
- Các hình thức ghi nhớ và nhớ lại có chủ định bắt đầu xuất hiện ở mẫu giáo nhỡ và
phát triển mạnh ở mẫu giáo lớn do hoạt động của trẻ ngày càng phức tạp và do yêu cầu của
người lớn đối với trẻ ngày càng cao. Loại ghi nhớ có chủ định chủ yếu của trẻ vẫn là ghi nhớ
máy móc.
- Trí nhớ vận động: Trẻ có thể dần dần bỏ hình mẫu, nhưng những lời chỉ dẫn của
người lớn vẫn có ý nghĩa. Động tác vững vàng hơn, nhanh và chính xác hơn, ít có những
động tác thừa cơ thể.
- Trí nhớ hình ảnh: Trí nhớ hình ảnh đặc biệt phát triển. Trẻ nhớ những bức tranh mà
trẻ đã vẽ, nhớ phong cảnh mà trẻ đã tham quan. Biểu tượng về thế giới xung quanh ở trẻ đã
gắn kết với nhau, mang tính sinh động và hấp dẫn.
- Trí nhớ từ ngữ logic: Vốn tri thức, biểu tượng và những khái niệm ban đầu về thế
giới xung quanh, đỏi hỏi trẻ phải nắm vững ngôn ngữ, điều này giúp trẻ phát triển trí nhớ từ
ngữ logic.
trẻ được rút gọn, được khái quát hóa và mang tính ước lệ. Nội dung chơi cơ bản của trẻ là tuân
thủ các quy tắc hành vi xã hội và các mối quan hệ xã hội phù hợp với vai chơi. Trẻ thường cãi
nhau cái gì giống với thực tế, cái gì không.
1.2.2.6. Đặc điểm giao tiếp của trẻ mẫu giáo lớn
- Đến cuối tuổi mẫu giáo, xuất hiện hình thức giao tiếp cấp cao với người lớn – giao
tiếp nhân cách ngoài tình huống. Trẻ tập trung vào thế giới con người chứ không phải thế
giới đồ vật. Trong các cuộc trò chuyện của trẻ, các chủ đề về cuộc sống, về công việc của
người lớn và các mối quan hệ qua lại của họ chiếm ưu thế. Nhờ sự hướng dẫn của người lớn,
trẻ nắm được những chuẩn mực đạo đức, đánh giá những hành vi của mình và hành vi của
mọi người xung quanh. Xuất hiện ở trẻ nhu cầu được hiểu biết và thông cảm lẫn nhau.
- Từ 4-6 tuổi trẻ mẫu giáo có giao tiếp công việc tình huống với bạn cùng tuổi. Nhu cầu
giao tiếp cơ bản của trẻ mẫu giáo là cải thiện sự hợp tác trong công việc và phối hợp các hành
động của mình với bạn để đạt mục đích. Đến năm thứ 5 của cuộc đời, trẻ thường hỏi về các
thành tích của bạn, đòi hỏi mọi người công nhận các thành tích của bản thân, vạch ra sự thất bại
của trẻ khác và thử giấu đi những thất bại của bản thân.
- Ở trẻ mẫu giáo lớn hình thức giao tiếp công việc ngoài tính huống được phát triển. Hoạt
động chơi của trẻ đòi hỏi trẻ phải thống nhất với bạn và vạch ra từ trước kế họach của bản thân.
Ở trẻ xuất hiện hứng thú với nhân cách của bạn, không liên hệ gì với các hành động của người
bạn đó. Mặc dù các động cơ giao tiếp về công việc vẫn giữ vai trò chủ đạo, tuy nhiên trẻ đã nói
chuyện với nhau về các chủ đề nhận thức và nhân cách.
- Các đặc điểm giao tiếp với các bạn được thể hiện rõ ràng trong các chủ đề trò chuyện
của trẻ. Trẻ mẫu giáo bé thường nói về những gì trẻ nhìn thấy, hay là về cái mà trẻ có. Các
chủ đề này được duy trì trong suốt tuổi mẫu giáo. Trẻ mẫu giáo nhỡ thường cho bạn thấy là
mình biết làm cái gì và làm được việc đó như thế nào. Trẻ mẫu giáo lớn trẻ thường hay kể về
bản thân, về cái gì trẻ thích và không thích, chúng chia sẻ với bạn các nhận thức, “kế hoạch
cho tương lại”.
1. 2.2.7 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
- Các hình thức ngôn ngữ có kết cấu chặt chẽ được hình thành, tính biểu cảm của ngôn
hành động để hình thành kỹ năng. Trong quá trình đó các khái niệm, biểu tượng sẽ được mở
rộng hơn, trở nên sâu sắc hơn, hoàn thiện hơn.
Người có kỹ năng về hành động nào đó phải có tri thức về hành động đó, hành động
theo đúng yêu cầu và đạt kết quả trong mọi điều kiện khác nhau. Theo K.I Platonov và
G.G.Golubev kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất
lượng cần thiết trong những điều kiện mới và những khoảng thời gian tương ứng. Bất kỳ một
kỹ năng nào cũng bao hàm trong đó cả biểu tượng, khái niệm, vốn tri thức, sự tự kiểm tra,
điều chỉnh quá trình hoạt động.
- Tác giả Nguyễn Đức Hưởng đưa ra các chỉ báo đánh giá mức độ thuần thục, thành
thạo của kỹ năng như sau:
+ Mức độ hiểu biết về hành động và các thao tác cấu thành hành động
+ Tốc độ thực hiện hành động, thực hiện các thao tác cấu thành hành động
+ Tính nhịp nhàng trong phối hợp các thao tác hành động
+ Hiệu quả của hành động
Khi đánh giá kỹ năng cần phải sử dụng tổng hợp các chỉ báo trên. Nếu chỉ sử dụng
một chỉ báo đơn lẻ thì có thể dẫn đến nhầm lẫn (chẳng hạn như coi người có tri thức, hoặc
người có hành động nhanh, người làm việc có hiệu quả là người có kỹ năng) [10]
Như vậy có thể nói, kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn để
thực hiện có kết quả một hành động nào đó.
1.2.3.2 Khái niệm kỹ năng sống [18, tr.8]
Theo WHO ( tổ chức Y tế thế giới), kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính
tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để
tương tác một cách có hiệu quả với người khác và giải quyết một cách có hiệu quả những vấn
đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày.