Vấn đề stress của công nhân ở một số khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành phố hồ chí minh - Pdf 37

THƯ
VIỆN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH


ĐÀO THỊ DUY DUYÊN

VẤN ĐỀ STRESS CỦA CÔNG NHÂN Ở MỘT
SỐ KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH PHƯƠNG DUY

Thành phố Hồ Chí Minh - 2010


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi. Các số liệu và
kết quả nghiên cứu là trung thực.
Đào Thị Duy Duyên


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đinh Phương Duy đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý


TX

Thường xuyên

TT

Thỉnh thoảng

KC

Không có

SD

Độ lệch chuẩn

Sig

Mức ý nghĩa với hệ số tin cậy 95%
α=0.05

SL

Số lượng

%

Tỷ lệ phần trăm


hội hiện nay. Stress có thể xảy ra với bất cứ ai, ở mọi lứa tuổi, mọi giới, mọi ngành nghề khác nhau,
không chỉ trên thế giới, mà ở nước ta số người bị stress cũng khá cao.
Nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên xã hội còn rất nhiều khó khăn phức
tạp và có nhiều vấn đề nảy sinh nên con người luôn đứng trước nguy cơ bị stress. Trong những năm
gần đây, tại TPHCM ngày càng có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập đã thu hút rất
nhiều CN từ khắp mọi miền đất nước tập trung đến để làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, doanh
nghiệp. Có thể nói trong giai đoạn nước ta đang chú trọng phát triển công nghiệp như hiện nay thì CN
là một lực lượng lao động rất quan trọng góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Tuy


nhiên, một thực tế cho thấy rằng đời sống CN đang còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về vật
chất lẫn tinh thần bởi đa số họ là những người xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa không cao, và
chủ yếu là dân nhập cư phải sống xa gia đình, xa quê hương, đời sống kinh tế thấp …,chính những khó
khăn thiếu thốn ấy lại càng làm cho CN có nguy cơ bị stress cao hơn, họ không chỉ có nguy có bị stress
trong công việc mà cả những áp lực, thách thức, khó khăn do cuộc sống thời đại hiện nay mang lại
cũng rất dễ làm cho CN bị stress. Một khi bị stress và không biết cách ứng phó thì stress sẽ ảnh hưởng
rất nhiều đến hiệu quả lao động của CN và sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Do đó, việc quan tâm
đến đời sống tinh thần của CN, đặc biệt là tình trạng stress của CN hiện nay để có những biện pháp hỗ
trợ kịp thời nhằm giúp giải tỏa stress là một việc làm rất cần thiết của mỗi doanh nghiệp nói riêng và
của xã hội nói chung.
Khi đứng trước những tác nhân gây stress nếu mỗi người được trang bị những kĩ năng ứng phó và
giải tỏa stress thì stress sẽ không phải là mối đe dọa to lớn nhưng ngược lại nếu không có sự hiểu biết
về stress, không có đủ khả năng để tự mình ứng phó với stress mà lại không nhận được sự hỗ trợ từ bên
ngoài thì khi đó stress sẽ là một mối đe dọa cho đời sống của mỗi người. Như đã nói, đặc điểm CN
đang làm việc tại TPHCM đa phần là có trình độ thấp, đời sống vật chất khó khăn, đời sống tin thần
thiếu thốn, việc tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế nên có thể nói những hiểu biết về stress và những
kĩ năng ứng phó, ngăn ngừa stress cũng ít nhiều còn hạn hẹp nên CN ắt hẳn rất cần đến sự hỗ trợ từ
phía xã hội, từ doanh nhiệp…để giúp họ đối diện, vượt qua stress một cách dễ dàng. Cho nên, việc tìm
hiểu nhu cầu của CN để có sự đáp ứng kịp thời là một việc khẩn thiết và có ý nghĩa to lớn.
Chính thực tế cho thấy stress đang ngày càng phổ biến trong xã hội nên trong những năm gần đây

3.2 Đối tượng nghiên cứu
Stress ở CN, nhu cầu hỗ trợ xã hội và các giải pháp từ sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp CN ngăn
ngừa và ứng phó với stress

4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu stress của CN trực tiếp lao động sản xuất trong các dây chuyền
và cơ sở sản xuất

5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress nói chung và stress ở CN
5.2 Khảo sát thực trạng hiểu biết về stress của CN, mức độ stress, những biểu hiện stress , nguyên
nhân gây stress , cách ứng phó của CN với stress.
5.3 Khảo sát nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp họ ứng phó với stress
5.4 Đề xuất những biện pháp từ sự hỗ trợ xã hội để giảm stress cho CN

6 . Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Đa số CN đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM chưa có hiểu biết đầy
đủ về stress và họ bị stress biểu hiện ở các mức độ khác nhau, tập trung ở mức độ thỉnh thoảng bị
stress. Có nhiều nguyên nhân gây ra stress, trong đó những yếu tố về đời sống vật chất, tình cảm, công
việc ảnh hưởng nhiều tới mức độ stress của CN. Stress tác động tiêu cực đến hiệu quả lao động và đời
sống của CN thể hiện qua những biểu hiện khi bị stress. Mặc dù CN đã có một số cách thức cụ thể để
ứng phó với stress nhưng họ vẫn có nhu cầu rất lớn về sự hỗ trợ xã hội để giúp ngăn ngừa và ứng phó
với stress.
6.2 Có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể về mức độ của stress, sự hiểu biết về stress .

7 . Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến
stress nói chung và stress ở CN
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

tiềm năng cho những người tốt nghiệp ngành tâm lý học hiện nay.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở CN
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới
Khi con người xuất hiện thì lúc đó stress cũng đã tồn tại trong cuộc sống của con người, tuy
nhiên người ta chưa nhận thức rõ ràng về những hiện tượng mà sau này được nhiều nhà khoa học gọi là
stress mà chỉ nghiên cứu nhiều khía cạnh của stress dưới những thuật ngữ khác nhau và chưa mang
tính hệ thống. Stress thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học bắt đầu từ thế kỉ 17 bởi
Hooke với thuyết “Engineering Analogy” ( tương đồng cấu trúc) trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng.
Hooke đã đưa ra các thuật ngữ “load” khối nặng đè lên cấu trúc, “stress “ phần bị khối nặng đè lên và
“strain” sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress. Những khái niệm này có nhiều
nét tương đồng với những khái niệm liên quan đến stress tâm sinh lý về sau này : stress là những yêu
cầu bên ngoài đặt lên hệ tâm sinh lý xã hội [45,tr1]
Sau đó, stress được nhiều nhà sinh lý học quan tâm nghiên cứu: Ảnh hưởng sinh học của sự sợ
hãi được Luis Juan Vives miêu tả từ nhiều thế kỷ trước. Cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về khái niệm
stress đã được nghiên cứu hơn một thế kỷ trước đây bởi nhà khoa học người Pháp Claude Bernard.
Ông là người đầu tiên nhận ra làm thế nào cơ thể nỗ lực để duy trì một trạng thái tương đối cố định bên
trong cơ thể trong một môi trường luôn thay đổi (Bernard, 1878)
Năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng
thận gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh [64], những phát hiện này làm tiền đề cho những nghiên cứu
về mối liên hệ giữa stress và sức khỏe sau này.
Walter Cannon (1927) là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứng đối
với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight), mỗi khi các loài vật đối mặt
với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn. Trong cả hai tình huống này, nhịp tim
và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp. Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn
để đạt được hiểu qua tốt hơn. Theo ông, đây là một phản ứng được “cài đặt sẵn” về mặt sinh học, cho
phép mỗi sinh vật có thể ứng phó với những tác nhân gây đe dọa từ môi trường bên ngoài [10], [84] .

sinh lý có tính không đặc hiệu - các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương
tự nhau là quan điểm đúng nhưng chưa thật đầy đủ. Vì vậy họ nghiên cứu stress theo quan điểm stress
như một sự kiện từ môi trường - tất cả các sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực từ môi trường, cuộc sống
đều có tính chất gây stress và mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây stress như nhau với tất cả
mọi người. Các nghiên cứu thực hiện theo quan điểm môi trường đều có bản chất dịch tễ học: số lượng
và mức độ của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của đương sự. [84].
Tuy nhiên, sau này quan điểm stress như một sự kiên từ môi trường được đánh giá là cũng có hạn chế
trong việc giải thích tại sao lại có những sự kiện gây stress cho người này nhưng không gây stress cho
người khác.
Vào những năm 1970 và 1980, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố các chương trình nghiên cứu
thực nghiệm nhằm tìm ra mối liên hệ giữa thay đổi cuộc sống và đau ốm. Điển hình cho những cuộc
nghiên cứu này là cuộc nghiên cứu của Thomas Holmes và Richard Rahe (1967), họ đã thiết kế một
thang đo mức độ stress đi kèm với các sự kiện thường gắn với cuộc sống hằng ngày gọi là thang đo sự
kiện cuộc sống (SRE: schedule of recent events - gồm 43 sự kiện cuộc sống) để tìm ra những tình huống
nào trong cuộc sống có khả năng gây stress nhiều nhất [31, tr 243]. Ngoài ra cuộc nghiên cứu này cũng
đưa ra kết luận càng tích lũy nhiều khủng hỏang trong cuộc sống thì con người càng dễ bị đau ốm trong
khỏang thời gian nào đó [31, tr 247], [84]
Việc ra đời của SRE được xem là một đóng góp rất có giá trị trong việc nghiên cứu nhiều vấn đề
liên quan đến stress . Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác đã ứng dụng thang đo sự kiện cuộc sống vào


những nghiên cứu của mình như Patrich và Holmes (1987) nghiên cứu tương quan giữa những sự kiện
cuộc sống với thời gian mắc các bệnh mãn tính, A.L Beautrais và cộng sự (1982) lọc ra 20 trong 43
items trong thang đo nói trên để nghiên cứu dọc trên 1082 trẻ em theo dõi từ mới đẻ đến 4 tuổi, kết quả
cho thấy gia đình nào có 12 biến cố trở lên thì số lần trẻ em của gia đình đó phải vào viện gấp 6 lần so
với nhóm gia đình chỉ có 3 biến cố và các bệnh thường gặp là viêm phổi, tiêu chảy, tai nạn, bỏng, ngộ
độc. H.A Williamson (1989) dùng thang đo trên để theo dõi 513 phụ nữ mang thai để nghiên cứu liên
quan giữa biến cố cuộc sống với các biến cố lúc chưa sinh. [31, tr 248-249].
Một hướng nghiên cứu khác về stress là nghiên cứu mặt tích cực của stress : những người này
cho rằng, stress không thể thiếu trong cuộc sống mà “thiếu stress” vì thế cũng có thể gây ảnh hưởng

ảnh hưởng của cảm xúc và quá trình nhận thức đến stress …Fleming, Baum & Singer (1984), Paterson
& Neufeld (1987), Lazaus &Cohen (1977), Folkman (1984), Rodin (1986), Taylor (1991) v.v…[52]
- Nghiên cứu những cách ứng phó, đương đầu với stress : Folkman & Lazarus (1980) , Adwin &
Revénon (1987), Compas (1987), Miller, Brody & Summerson (1988), Amirkhan (1990), Sarason
(1990) v.v…[52]
- Nghiên cứu ảnh hưởng của stress trong mối liên hệ với tâm lý học sức khỏe, bệnh tật và những
rối loạn tâm lý, tâm thể, tâm lý học thần kinh v.v…như Mason (1975), Selye (1976), Kiecolt-Glaser
&Glaser (1986), Schneiderman (1983), Brown (1984), Eckenrode (1984) v.v…[52] Năm 1977,
Caroline Bedell Thomas đã công bố kết quả nghiên cứu từ năm 1946-1977, những người thường kiềm
nén cảm xúc, che giấu các tình cảm mạnh, cả tiêu cực, lẫn tích cực trước tình huống khó thì dễ bị ung
thư. Bên cạnh đó, stress làm giảm hiệu quả của các loại vacxin, làm suy giảm hệ thống miễn dịch
(nghiên cứu của giáo sư Janice Kiecolt Glaser và tiến sĩ y học Ronald Glaser, tiến sỹ y học Sheldon
Cohen ). Tiến sĩ y học William Malarkeep còn cho thấy stress còn ảnh hưởng đến cả tuổi tác và tuổi
thọ. Philip Cowen và Walter Kaye (1989) nghiên cứu sự tác động của stress với rối loạn tiêu hóa [8]
- Nghiên cứu stress trong các chuyên ngành của tâm lý như tâm lý học lao động (stress nghề
nghiệp), tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học gia đình (stress gia đình), tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư
phạm v.v, tâm lý học hành vi v.v hoặc nghiên cứu stress trên những đối tượng khác nhau (giáo viên,
bác sĩ, CN, phụ nữ, nam giới, sinh viên, nhà quản lý v. v…)
Tình hình nghiên cứu stress trên thế giới đã bắt đầu từ rất lâu và đang diễn ra rất phổ biến nhưng
đối với Việt Nam, nghiên cứu về stress là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, nhất là trong tâm lý học, stress
chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu một cách khoa học trong mấy chục năm trở lại đây.
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress của CN ở Việt Nam
1.1.2.1. Những nghiên cứu mang tính lý luận
Hiện nay, ở Việt Nam stress vẫn chưa được nghiên cứu nhiều như những vấn đề khác, trong các
trường đại học có chuyên khoa tâm lý học vẫn chưa đưa stress vào nội dung giảng dạy chính thức nên
chưa có một hệ thống lý luận chung cho vấn đề stress, chủ yếu những kiến thức người học biết được về
stress tham khảo từ những cuốn sách, bài viết trên các phương tiện thông tin hoặc từ kết quả nghiên
cứu của những lĩnh vực khác.
Có thể nói, một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về stress là của tác giả Tô Như
Khuê vào những năm 60 của thế kỉ XX, với những tác phẩm và bài viết liên quan đến stress trong lĩnh

đã có bài báo cáo về những rối nhiễu liên quan đến stress qua các trường hợp trị liệu điển hình, và Lại
Thị Bưởi cùng cộng sự với cuộc nghiên cứu “Tìm hiểu stress về thay đổi môi trường sống thanh thiếu
niên dân tộc ít người tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc” đã nêu ra những nhân tố tâm lý do thay
đổi môi trường sống gây ra stress và các biểu hiện về mặt cơ thể, tâm lý khi bị stress
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về stress được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như
Nguyễn Bá Đạt ( 2001) “ Ảnh hướng của stress đến kết quả thi học kì của sinh viên”, nghiên cứu biểu
hiện tâm sinh lý và kết quả học tập của những sinh viên bị stress trong kì thi. Phạm Thị Thanh Hương
(2004) “ một số biểu hiện và mức độ stress ở sinh viên trong học tập” nghiên cứu mức độ stress nói
chung và stress ở sinh viên đại học sư phạm hà nội trong học tập, các biểu hiện và thực trạng việc sử
dụng các biện pháp giảm stress có hại ở sinh viên; Phạm Thanh Bình (2007) “ stress trong học tập của
học sinh trung học phổ thông” nghiên cứu nhận thức của học sinh THPT về stress , mức độ và nguyên
nhân gây stress trong học tập của học sinh THPT; Nguyễn Hữu Thụ và Nguyễn Bá Đạt (2009) nghiên
cứu những nguyên nhân và cách ứng phó của sinh viên đại học quốc gia Hà Nội với stress trong học tập;
Lê Thị Thanh Thủy (2009) với bài “ stress trong học tập và cách ứng phó ở học sinh cuối cấp trung học
phổ thông” nghiên cứu mức độ , nguyên nhân gây stress trong học tập, ảnh hưởng của stress tới học tập,
cách ứng phó với stress của học sinh cuối cấp THPT.


Ngoài ra, đã có thêm những công trình nghiên cứu dưới hình thức luận văn, luận án cũng đã
chọn stress làm vấn đề nghiên cứu như Nguyễn Mai Anh (1991) với luận văn cử nhân tâm lý bước đầu
tìm hiểu “stress của sinh viên trong học tập” đã nghiên cứu ảnh hưởng của stress đến chất lượng bài
thi của sinh viên; Nguyễn Thành Khải (2001) với luận án tiến sĩ “ Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý”
nghiên cứu mức độ, biểu hiện, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới stress và thựuc trạng sử dụng
các phương pháp làm giảm stress ở cán bộ quản lý, đây có thể được xem là công trình nghiên cứu đầu
tiên ở nước ta về vấn đề stress ở cán bộ quản lý và bổ sung thêm những lý thuyết về stress một cách hệ
thống; Nguyễn Thị Kim Quy (2004) với luận văn tốt nghịêp đại học “ Bước đầu tìm hiểu thực trạng
stress ở sinh viên trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM” nghiên cứu thực trạng, ảnh hưởng tiêu cực của
stress đến việc học tập và ứng xử của sinh viên; Gần đây có một số luận văn thạc sĩ tâm lý học đã
nghiên cứu về vấn đề stress trên các đối tượng khác nhau như Trần Anh Thụ (2005) “ Nghiên cứu
stress ở những người tuổi trung niên” đã nghiên cứu mức độ, nguyên nhân gây stress, biểu hiện về mặt

trong những công trình ngầm và nội dung nghiên cứu thì thường nghiên cứu stress trong mối quan hệ với
những rối loạn tâm thần. Riêng đối với chuyên ngành tâm lý học, chúng tôi chỉ tìm thấy một nghiên cứu
về stress nghề nghiệp ở CN do Trịnh Thị Minh Dung thực hiện trong luận văn tốt nghiệp đại học chuyên
ngành tâm lý học “ Bước đầu tìm hiểu stress nghề nghịêp ở nữ CN một số công ty tại khu công nghịêp
Biên Hòa” (2005), chủ yếu nghiên cứu mức độ biểu hiện, nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp, những
ảnh hưởng về mặt tâm lý và cách ứng phó của nữ CN đối với stress nghề nghiệp. Đề tài này chỉ giới hạn
trên đối tượng nữ CN và vấn đề stress nghề nghiệp ở một khu công nghiệp tại Biên Hòa. Trong giới hạn
của mình chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu một cách khái quát vấn đề stress ở CN nói
chung đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy có thể
thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ và bỏ ngõ chưa được quan tâm nhiều trong giai
đoạn hiện nay, do đó chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Vấn đề stress của CN ở một số khu chế xuất,
khu công nghiệp trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” để bổ sung thêm về mặt lý luận và thực tiễn trong việc
nghiên cứu vấn đề stress của CN ở nước ta nói chung và của chuyên ngành tâm lý học nói riêng.

1.2 Những lý luận chung về stress và stress ở CN
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1. Khái niệm stress
Khi nghiên cứu về stress, mỗi người nghiên cứu thường đưa ra một khái niệm về stress của mình,
do đó cho đến nay có rất nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về stress, mỗi khái niệm đều đề cập đến
một hoặc vài khía cạnh, bình diện khác nhau của stress, nhưng tập trung lại có những cách hiểu sau về
stress :
Hướng thứ 1: xem stress là một tình trạng căng thẳng, chịu áp lực, sự mất cân bằng do nhiều
tác nhân gây ra
Theo nghĩa thông dụng: vào thế kỷ thứ 17, stress được dùng với nghĩa để chỉ một sức ép hay một
xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra phản ứng căng thẳng. Ngày nay stress là một thuật
ngữ được dùng rộng rãi để nói về sự căng thẳng cũng như những hậu quả và tác động của nó đến sức
khỏe con người [70].
Trong từ điển tâm lý học của Nga, theo V.P.Dintrenko và B.G.Mesiriakova, “stress là trạng thái
căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khó
khăn của đời sống hằng ngày, cũng như trong những điều kiện đặc biệt [18, tr19]. Định nghĩa này nêu

động cũng như trong cuộc sống.” [27, tr20]
=> Ba định nghĩa trên không chỉ ra được nguồn gốc gây stress
Trong luận văn stress ở người trưởng thành, Nguyễn Thị Hải đã định nghĩa “stress là trạng thái
căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những
khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ
căng, cảm giác mệt mỏi, khó chịu, hoặc ưu phiền, chán nản…có thể dẫn đến những hậu quả nhiều mặt
tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người” [18, tr 22]
Định nghĩa này nêu ra được đầy đủ 3 khía cạnh của stress và những dấu hiệu cụ thể của nó. Tuy
nhiên về bản chất thì khác nhau, một người thì cho rằng stress là tình trạng khó chịu hoặc gây thương
tổn về cảm xúc và tinh thần, người kia thì xem stress là trạng thái căng thẳng tâm lý.
Hướng thứ 2: Xem stress là những đáp ứng, phản ứng sinh học của cơ thể hoặc một quá trình
phản ứng của con người
Theo Hans Selye (1930) “stress là mọi đáp ứng của cơ thể trước mọi yêu cầu hay đòi hỏi tác động
lên cơ thể đó” [15]. Trong đời sống hàng ngày, stress là hiện tượng sinh lý (physiologique) cần thiết cho


con người. Nhờ có stress ta mới đáp ứng được với các điều kiện thay đổi không ngừng của môi sinh.
Ông đã viết “ không có stress là chết”. Ngược lại, stress mạnh quá hay nhiều quá, có thể gây ra bệnh tật.
Do đó ông đưa ra 2 cụm từ “ eutress” (những stress ảnh hưởng tích cực , có lợi cho con người) và “
distress” (những stress tiêu cực gây hại đến sức khỏe của cá nhân). Định nghĩa này mở ra một cách hiểu
mới về stress , trước đây mọi người đều cho rằng stress chỉ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực, chứ không
biết rằng stress cũng có mặt tích cực của nó.
Theo Robert S. Feldman (1997), stress là phản ứng của con người trước các sự kiện đang đe dọa hay
thách thức họ.[87]. Định nghĩa này không nêu ảnh hưởng của stress và nhấn mạnh đến tính chất đe dọa,
thách thức của sự kiện là nguồn gốc gây stress
Theo Stephen Worchel và Wayne Shebilsue, “ stress là một quá trình mà bằng cách đó con người
phản ứng lại với các sự kiện môi trường và tâm lý mà được nhận thức là đe doạ hoặc thách thức” . [19,
tr 429]. Định nghĩa này nhấn mạnh đến yếu tố nhận thức cá nhân về nguồn gốc gây stress .
Hướng thứ 3 : Stress như một sự kiện từ môi trường
Theo bác sĩ Eric Albert, nhà tâm lý học, người sáng lập Viện nghiên cứu stress thì “ stress là nỗ

ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân
đó” [45,tr18].
Hướng thứ 5: một quan điểm hệ thống về stress
Quan điểm này được xây dựng bằng cách tích hợp các bình diện sinh học, tâm lý, môi trường, và
đặc biệt là yếu tố nhận thức cá nhân của stress, xem stress là một khái niệm mang tính tổ chức, liên hệ
đến nhiều thông số và quá trình. Vì thế, “stress là một đáp ứng tích hợp sinh học - tâm lý - xã hội với
những sự kiện được xem là có hại và đòi hỏi những kỹ năng ứng phó của đương sự”[84] . Đóng góp
của định nghĩa này cho thấy tính đa dạng, phức tạp của stress, nhất là sự đa dạng, phức tạp trong phản
ứng với stress. Do đó, khi nghiên cứu những phản ứng với stress cần nghiên cứu trên cả 3 mặt sinh
học, tâm lý, xã hội.
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về stress, có những định nghĩa về stress dựa trên bình
diện sinh học, có những định nghĩa dựa trên bình diện tâm lý hoặc môi trường hoặc phối hợp cả ba
bình diện đó , có những định nghĩa đơn giản, có những định nghĩa phức tạp hơn nhưng khái quát lại
các định nghĩa đó đã chỉ ra được:
+ Bản chất của stress : stress là một tình trạng đang chịu một sức ép hay áp lực mạnh hoặc một
trạng thái căng thẳng về nhiều mặt ( sinh lý, tâm lý) biểu hiện qua các dấu hiệu cơ thể; hoặc stress như
một quá trình tương tác giữa con người và môi trường; hoặc stress là nỗ lực của cơ thể để thích nghi;
hoặc stress là mọi đáp ứng, phản ứng của con người xảy ra một cách chung khắp, trên nhiều bình diện (
sinh lý, tâm lý, xã hội) với những tác động vào người đó.
+ Những nguồn gốc ( tác nhân, nguyên nhân ) gây stress hoặc góp phần tạo nên stress : một phần
do bản chất của những kích thích (sức ép) đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra (tự tạo
áp lực...), một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về nguồn gốc gây stress ra sao và nhận thức về
khả năng và tiềm lực của bản thân, cũng như các nguồn lực sẵn có để ứng phó (stress xuất hiện khi
thiếu khả năng, nguồn lực để ứng phó)…
+ Những ảnh hưởng, hệ quả của stress : gây ra những hậu quả và ảnh hưởng đến sức khỏe con
người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý (quá trình nhận thức, cảm xúc,hành vi), xã hội (cuộc sống,
hoạt động thường ngày…) và những hậu quả đó sẽ tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người.
Theo chúng tôi, một khái niệm stress đầy đủ phải chỉ ra được 3 khía cạnh của stress là bản chất,
nguồn gốc và ảnh hưởng của stress. Do đó trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hiểu dưới góc
độ tâm lý học: stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự

cấp CN. Cũng không nên đưa tất cả những người lao động “ làm công ăn lương” vào giai cấp CN nếu
họ không có hoạt động lao động sản xuất trực tiếp hoặc tham gia vào quy trình sản xuất công nghiệp.
[5, tr 15]
Từ những khái niệm và phân tích trên đây có thể thấy khái niệm CN là một khái niệm tương đối
rộng nhưng trong giới hạn đề tài của mình chúng tôi hiểu “CN là một lực lượng lao động những người
làm công ăn lương, thu nhập chủ yếu bằng tiền công, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công
nghiệp hoặc có tính công nghiệp, tạo ra giá trị của cải vật chất cho xã hội.”
b. Khái niệm stress ở CN

Từ khái niệm về stress và khái niệm CN nêu trên chúng tôi định nghĩa về stress ở CN như sau :
Stress ở CN là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của mỗi người CN, gây ra
sự căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do mỗi người phản ứng lại với những nhân tố tác động - một phần


do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngòai liên quan đến đời sống sinh lý, tâm lý, xã hội
và các hoạt động đặc trưng của CN, hoặc do chính bản thân mỗi người gây ra, một phần do nhận
thức của họ về những kích thích đó, nhận thức về khả năng, tiềm lực của bản thân, cũng như các
nguồn lực sẵn có để ứng phó với nó; quá trình này sẽ gây ra những ảnh hưởng đến CN ở các mặt
sinh lý, tâm lý, xã hội.”
1.2.2 Một số đặc điểm tâm sinh lý, xã hội của CN
1.2.2.1. Đặc điểm xã hội của CN
CN vừa là một lực lượng lao động trong xã hội, vừa là một giai cấp chính trị và giữ vai trò lãnh
đạo trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng trong đề tài này chúng tôi sẽ không đề cập đến
vai trò sứ mệnh lịch sử đó, mà chủ yếu quan tâm đến những mặt khác trong đặc điểm của CN Việt
Nam, đó là:
- Đội ngũ CN Việt Nam có nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ nông dân nên còn những mặt hạn chế
như: tính tổ chức, kỷ luật chưa cao; tư tưởng, tâm lý, tác phong và thói quen của những người sản xuất
nhỏ còn khá nặng nề, chưa trải qua hoạt động kinh tế đại công nghiệp, đa số họ chưa qua đào tạo về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật, họ làm việc vì nhu cầu cơm ăn, áo mặc. Khi chịu ảnh hưởng nhiều
bởi những yếu tố đó, có nhiều CN chưa thích ứng được với những yêu cầu trong lao động công nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status