BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐÀO THỊ DUY DUYÊN VẤN ĐỀ STRESS CỦA CÔNG NHÂN Ở MỘT
SỐ KHU CHẾ XUẤT, KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH PHƯƠNG DUY
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Đinh Phương Duy đã tận tình hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý
báu cho đề tài và đã luôn động viên tôi cố gắng hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn các Thầy Cô đã giảng dạy lớp Cao học Tâm lý học khóa 18 (2007 -2010) tại
trường ĐHSP TPHCM đã cung cấp cho tôi những kiến thức chuyên môn và kĩ năng nghiên cứu khoa học làm
cơ sở cho tôi hòan thành luận văn này.
Xin cảm ơn các anh/chị công nhân, các cán bộ quản lý đã nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin
và số liệu quý báu giúp đề tài có được những kết quả chính xác và thực tế nhất.
Xin cảm ơn các bạn trong nhóm cộng tác viên đã đồng hành cùng tôi trong suốt giai đoạn thu thập số
liệu cho đề tài.
Xin cảm ơn các cán bộ , nhân viên công tác tại phòng Khoa học, công nghệ và sau đại học
Xin cảm ơn các Thầy trong hội đồng bảo vệ đề cương đã đóng góp những ý kiến định hướng nghiên cứu
cho tôi trong đề tài này.
Đào Thị Duy Duyên
Sig Mức ý nghĩa với hệ số tin cậy 95%
α=0.05
SL Số lượng
% Tỷ lệ phần trăm
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, ở mỗi giai đoạn phát triển, con
người đều phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh trong cuộc sống, do đó con
người đều có nguy cơ bị stress. Nhiều nhà nghiên cứu về stress cho rằng xã hội càng phát triển, càng hiện
đại thì nguy cơ bị stress của con người ngày càng cao, đặc biệt trong xã h
ội mà chúng ta đang sống ngày
nay. Với sự phát triển của thời đại công nghiệp, bên cạnh việc nó làm cho điều kiện sống của con người
ngày càng tốt hơn thì mặt khác nó lại làm phát sinh rất nhiều những hệ lụy tiêu cực, trở thành những tác
nhân gây stress cho con người nhiều hơn. Xã hội càng hiện đại, nhịp sống ngày càng khẩn trương, gấp
gần đây, tại TPHCM ngày càng có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập đã thu hút rất
nhiều CN từ khắp mọi miền đất nước tập trung đến để làm việc trong các nhà máy, xí nghi
ệp, doanh
nghiệp. Có thể nói trong giai đoạn nước ta đang chú trọng phát triển công nghiệp như hiện nay thì CN
là một lực lượng lao động rất quan trọng góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Tuy
nhiên, một thực tế cho thấy rằng đời sống CN đang còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn cả về vật
chất lẫn tinh thần bởi đa số họ là những người xuất thân từ nông dân, trình độ văn hóa không cao, và
chủ yếu là dân nhập cư phải sống xa gia đình, xa quê hương, đời sống kinh tế thấp …,chính những khó
khăn thiếu thốn ấy lại càng làm cho CN có nguy cơ
bị stress cao hơn, họ không chỉ có nguy có bị stress
trong công việc mà cả những áp lực, thách thức, khó khăn do cuộc sống thời đại hiện nay mang lại
cũng rất dễ làm cho CN bị stress. Một khi bị stress và không biết cách ứng phó thì stress sẽ ảnh hưởng
rất nhiều đến hiệu quả lao động của CN và sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Do đó, việc quan tâm
đến đời sống tinh thần của CN, đặ
c biệt là tình trạng stress của CN hiện nay để có những biện pháp hỗ
trợ kịp thời nhằm giúp giải tỏa stress là một việc làm rất cần thiết của mỗi doanh nghiệp nói riêng và
của xã hội nói chung.
Khi đứng trước những tác nhân gây stress nếu mỗi người được trang bị những kĩ năng ứng phó và
giải tỏa stress thì stress sẽ không phải là mối đe dọa to lớn nhưng ngược lại nếu không có s
ự hiểu biết
về stress, không có đủ khả năng để tự mình ứng phó với stress mà lại không nhận được sự hỗ trợ từ bên
ngoài thì khi đó stress sẽ là một mối đe dọa cho đời sống của mỗi người. Như đã nói, đặc điểm CN
đang làm việc tại TPHCM đa phần là có trình độ thấp, đời sống vật chất khó khăn, đời sống tin thần
thi
ếu thốn, việc tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế nên có thể nói những hiểu biết về stress và những
kĩ năng ứng phó, ngăn ngừa stress cũng ít nhiều còn hạn hẹp nên CN ắt hẳn rất cần đến sự hỗ trợ từ
phía xã hội, từ doanh nhiệp…để giúp họ đối diện, vượt qua stress một cách dễ dàng. Cho nên, việc tìm
hiểu nhu cầu của CN để có sự đáp
ứng kịp thời là một việc khẩn thiết và có ý nghĩa to lớn.
Chính thực tế cho thấy stress đang ngày càng phổ biến trong xã hội nên trong những năm gần đây
7 cán bộ quản lý trực tiếp và gần gũi CN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Stress ở CN, nhu cầu hỗ trợ xã hội và các giải pháp từ sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp CN ngăn
ngừa và ứng phó với stress
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu stress của CN trực tiếp lao động sản xuất trong các dây chuyền
và cơ sở sản xuất
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về stress nói chung và stress ở CN
5.2 Khảo sát thực trạng hiểu biết về stress của CN, mức độ stress, những biểu hiện stress , nguyên
nhân gây stress , cách ứng phó của CN với stress.
5.3 Khảo sát nhu cầu của CN về sự hỗ trợ xã hội trong việc giúp họ ứng phó với stress
5.4 Đề xuất những biện pháp từ sự hỗ trợ xã hội để giảm stress cho CN
6 . Giả thuyết nghiên cứu
6.1 Đa số CN đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại TPHCM chưa có hiểu biết đầy
đủ về stress và họ bị stress biểu hiện ở các mức độ khác nhau, tập trung ở mức độ thỉnh thoảng bị
stress. Có nhiều nguyên nhân gây ra stress, trong đó những yếu tố về đời sống vật chất, tình cảm, công
việc ảnh hưởng nhiều tới mức độ stress của CN. Stress tác độ
ng tiêu cực đến hiệu quả lao động và đời
sống của CN thể hiện qua những biểu hiện khi bị stress. Mặc dù CN đã có một số cách thức cụ thể để
ứng phó với stress nhưng họ vẫn có nhu cầu rất lớn về sự hỗ trợ xã hội để giúp ngăn ngừa và ứng phó
với stress.
6.2 Có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể về mức độ của stress, sự
hiểu biết về stress .
7 . Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài gồm các vấn đề liên quan đến
stress nói chung và stress ở CN
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
tiềm năng cho những người tốt nghiệp ngành tâm lý học hiện nay.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress và stress ở CN
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề stress trên thế giới
Khi con người xuất hiện thì lúc đó stress cũng đã tồn tại trong cuộc sống của con người, tuy
nhiên người ta chưa nhận thức rõ ràng về những hiện tượng mà sau này được nhiều nhà khoa học gọi là
stress mà chỉ nghiên cứu nhiều khía cạnh của stress dưới những thuật ngữ khác nhau và chưa mang
tính hệ thống. Stress thật sự được quan tâm nghiên cứu một cách khoa h
ọc bắt đầu từ thế kỉ 17 bởi
Hooke với thuyết “Engineering Analogy” ( tương đồng cấu trúc) trong lĩnh vực kiến trúc xây dựng.
Hooke đã đưa ra các thuật ngữ “load” khối nặng đè lên cấu trúc, “stress “ phần bị khối nặng đè lên và
“strain” sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress. Những khái niệm này có nhiều
nét tương đồng với những khái niệm liên quan đến stress tâm sinh lý về sau này : stress là những yêu
c
ầu bên ngoài đặt lên hệ tâm sinh lý xã hội [45,tr1]
Sau đó, stress được nhiều nhà sinh lý học quan tâm nghiên cứu: Ảnh hưởng sinh học của sự sợ
hãi được Luis Juan Vives miêu tả từ nhiều thế kỷ trước. Cơ sở cho hiểu biết của chúng ta về khái niệm
stress đã được nghiên cứu hơn một thế kỷ trước đây bởi nhà khoa học người Pháp Claude Bernard.
Ông là người đầu tiên nhận ra làm thế nào cơ thể nỗ lự
c để duy trì một trạng thái tương đối cố định bên
trong cơ thể trong một môi trường luôn thay đổi (Bernard, 1878)
Năm 1911, Walter Bradford, một sinh học gia Hoa Kỳ đã nhận thấy kích thích tố nang thượng
thận gia tăng khi cơ thể bị xúc động mạnh [64], những phát hiện này làm tiền đề cho những nghiên cứu
về mối liên hệ giữa stress và sức khỏe sau này.
Walter Cannon (1927) là nhà nghiên cứu đầu tiên mô tả một cách khái quát một phản ứ
ng đối
với sự đe dọa mà ông gọi là phản ứng “chống hoặc chạy” (fight or flight), mỗi khi các loài vật đối mặt
với kẻ săn mồi, chúng phải quyết định chống cự hay chạy trốn. Trong cả hai tình huống này, nhịp tim
và huyết áp tăng cao, tăng nhịp thở, tăng hoạt động cơ bắp. Thị lực và thính lực hoạt động mạnh hơn
đe dọa sẽ ít gây ra những hậu quả tai hại nếu chúng ta biết được khi nào nó sẽ xảy ra, nếu chúng ta có thể
làm được một việc gì đó trước sự kiện ấy, và nếu chúng ta nhận được những phản hồi về hiệu quả của
hành động ấy. Tầm quan tr
ọng của khả năng tiên đoán và kiểm soát cũng được thấy trong các đáp ứng
của con người đối với những tác nhân gây stress (Rodin, 1980) [84]
Nhiều người nghiên cứu cho rằng những nghiên cứu dựa trên quan điểm stress là một đáp ứng
sinh lý có tính không đặc hiệu - các loại sự kiện gây stress khác nhau đều dẫn đến những biến đổi tương
tự nhau là quan điểm đúng nhưng chưa thật đầ
y đủ. Vì vậy họ nghiên cứu stress theo quan điểm stress
như một sự kiện từ môi trường - tất cả các sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực từ môi trường, cuộc sống
đều có tính chất gây stress và mỗi một sự kiện nhất định đều có tính chất gây stress như nhau với tất cả
mọi người. Các nghiên cứu thực hiện theo quan điểm môi trường đều có bản chất dịch t
ễ học: số lượng
và mức độ của các sự kiện gây stress sẽ có tính tiên lượng cho tình trạng sức khỏe của đương sự. [84].
Tuy nhiên, sau này quan điểm stress như một sự kiên từ môi trường được đánh giá là cũng có hạn chế
trong việc giải thích tại sao lại có những sự kiện gây stress cho người này nhưng không gây stress cho
người khác.
Vào những năm 1970 và 1980, nhiều nhà nghiên cứu đã công bố các chương trình nghiên cứu
thự
c nghiệm nhằm tìm ra mối liên hệ giữa thay đổi cuộc sống và đau ốm. Điển hình cho những cuộc
nghiên cứu này là cuộc nghiên cứu của Thomas Holmes và Richard Rahe (1967), họ đã thiết kế một
thang đo mức độ stress đi kèm với các sự kiện thường gắn với cuộc sống hằng ngày gọi là thang đo sự
kiện cuộc sống (SRE: schedule of recent events - gồm 43 sự kiện cuộc sống) để
tìm ra những tình huống
nào trong cuộc sống có khả năng gây stress nhiều nhất [31, tr 243]. Ngoài ra cuộc nghiên cứu này cũng
đưa ra kết luận càng tích lũy nhiều khủng hỏang trong cuộc sống thì con người càng dễ bị đau ốm trong
khỏang thời gian nào đó [31, tr 247], [84]
Việc ra đời của SRE được xem là một đóng góp rất có giá trị trong việc nghiên cứu nhiều vấn đề
liên quan đến stress . Sau này, nhiều nhà nghiên cứu khác đã ứng dụng thang đo s
ự kiện cuộc sống vào
trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa stress vào nội dung giảng dạy cho sinh viên, có thể
khái quát những xu hướng nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu nội hàm của khái niệm stress dưới góc
độ tâm lý học : Gatchel & Baum (1983) R.S.
Lazarus and S. Folkman (1984), S. Palmer (1999), nhà tâm lý học Mc Grath, Robert S. Feldman
(1997), Stephen Worchel và Wayne Shebilsue, bác sĩ Eric Albert, nhà tâm lý học, người sáng lập Viện
nghiên cứu stress
- Nghiên cứu stress tâm lý : bao gồm những biểu hiện về mặt tâm lý khi bị stress và những ảnh
hưởng tâm lý của stress đối với cá nhân, những phương pháp,liệu pháp tâm lý giải tỏa stress, cách
phòng ngừa stress về mặt tâm lý v.v …điển hình như một số nghiên cứu của Weiss (1972), Lagone
(1981), [19]
- Nghiên cứu những tác nhân gây stress, phân loại chúng và những ảnh hưởng của những y
ếu tố
tâm lý cá nhân đến việc xuất hiện và duy trì stress, cũng như loại bỏ nó như loại nhân cách và stress,
ảnh hưởng của cảm xúc và quá trình nhận thức đến stress …Fleming, Baum & Singer (1984), Paterson
& Neufeld (1987), Lazaus &Cohen (1977), Folkman (1984), Rodin (1986), Taylor (1991) v.v…[52]
- Nghiên cứu những cách ứng phó, đương đầu với stress : Folkman & Lazarus (1980) , Adwin &
Revénon (1987), Compas (1987), Miller, Brody & Summerson (1988), Amirkhan (1990), Sarason
(1990) v.v…[52]
- Nghiên cứu ảnh hưởng của stress trong mối liên hệ với tâm lý học sức khỏe, bệnh tật và những
rối loạn tâm lý, tâm thể, tâm lý học thần kinh v.v…như Mason (1975), Selye (1976), Kiecolt-Glaser
&Glaser (1986), Schneiderman (1983), Brown (1984), Eckenrode (1984) v.v…[52] Năm 1977,
Caroline Bedell Thomas đã công bố kết quả nghiên cứu từ năm 1946-1977, những người thường ki
ềm
nén cảm xúc, che giấu các tình cảm mạnh, cả tiêu cực, lẫn tích cực trước tình huống khó thì dễ bị ung
thư. Bên cạnh đó, stress làm giảm hiệu quả của các loại vacxin, làm suy giảm hệ thống miễn dịch
(nghiên cứu của giáo sư Janice Kiecolt Glaser và tiến sĩ y học Ronald Glaser, tiến sỹ y học Sheldon
Cohen ). Tiến sĩ y học William Malarkeep còn cho thấy stress còn ảnh hưởng đến cả tuổi tác và tuổi
thọ. Philip Cowen và Walter Kaye (1989) nghiên cứu sự
tác động của stress với rối loạn tiêu hóa [8]
khỏe”, “ Cơ sở tâm lý học ứng dụng”, hoặc “ Tâm lý học và đời sống” của Đặng Phương Kiệt, Nguyễn
Khắc Viện….cung cấp một hệ thố
ng lý luận về stress làm cơ sở tham khảo lý luận cho những người
nghiên cứu về stress ở Việt Nam sau này, nhưng chủ yếu những nội dung trong các sách này được tham
khảo và dịch từ những tác phẩm nước ngòai. Hơn nữa , hai ông còn có một số bài viết về vấn đề stress ở
trẻ em . Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Sinh Phúc với tác phẩm “ tâm
lý học y học” đã chỉ rõ tác hại c
ủa stress tiêu cực với sức khỏe con người và cách phòng chống stress tiêu
cực [dẫn theo 27, tr17]; Nguyễn Công Khanh với tác phẩm “ tâm lý trị liệu” đóng góp những liệu pháp
tâm lý trong việc giải tỏa stress.
1.1.2.2 Những công trình nghiên cứu thực tiễn về stress
Trong những năm gần đây, stress đã bắt đầu được nghiên cứu dưới dạng những nghiên cứu
mang tính thực tiễn, như một công trình nghiên cứu khoa học nhiều hơn, làm phong phú thêm những
hiểu biết của chúng ta về stress. Nếu như trước đây, chúng ta chỉ thấy có một vài công trình nghiên cứu
cấp bộ về stress của Tô Như Khuê từ năm 1983 -1995 nghiên cứu stress của các bộ đội hoặc các
phương pháp phòng chống, giải tỏa stress như dùng võ thuật . Thì hiện nay, chúng ta đã có thêm những
nghiên cứu về stress qua các hội thảo khoa học “ Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và
thanh thiếu niên” do Viện sức khỏe tâm thần thuộc bệnh viện Bạch Mai tổ chức (1997) đã nghiên cứu
vấn đề stress trên đối tượng trẻ em và thanh thiếu niên; Hội thảo Việt – Pháp về tâm lý học “ trẻ em,
văn hóa, giáo dục” (2000) tập hợp những nhà tâm lý học, xã hội học đầu ngành của Việt Nam và thế
giới để trao đổi về những nghiên cứu liên quan đến trẻ em, trong đó các tác giả Nguyễn Công Khanh
đã có bài báo cáo về những rối nhiễu liên quan đến stress qua các trường hợp trị liệu điển hình, và Lại
Thị Bưởi cùng cộng sự với cuộc nghiên cứu “Tìm hiểu stress về thay đổi môi trường sống thanh thiếu
niên dân tộc ít người tại trường phổ thông vùng cao Việt Bắc” đã nêu ra những nhân tố tâm lý do thay
đổi môi trường sống gây ra stress và các biểu hiện về mặt cơ thể, tâm lý khi bị stress
Bên cạnh đó còn có những nghiên cứu về stress được đăng trên các tạp chí chuyên ngành như
Nguyễn Bá Đạt ( 2001) “ Ảnh hướng của stress đến kết quả thi học kì của sinh viên”, nghiên cứu biểu
hiện tâm sinh lý và kết quả học tập của những sinh viên bị stress trong kì thi. Phạm Thị Thanh Hương
(2004) “ một số biểu hiện và mức độ stress ở sinh viên trong học tập” nghiên cứu mức độ stress nói
chung và stress ở sinh viên đại học sư phạm hà nội trong học tập, các biểu hiện và thực trạng việc sử
thiếu niên (Trung ương Hội LHTNVN) phối hợp với Công ty Diana thực hiện trên 326 nữ CN làm việc
tại ba khu công nghiệp - khu chế xuất TP.HCM là Tân Thới Hiệp, Tân Bình và Linh Trung, có phần
nghiên cứu về tình trạng stress ở CN và những việc họ thường làm khi bị stress [60], [79], đề tài mang
tính một cuộc nghiên cứu xã hội về một số nội dung liên quan đến stress ở CN nữ mà không nghiên
cứu ở nam
Lê Thị Bưởi , “Nghiên cứu sức khoẻ tâm thần và các Stress ở CN ngành may mặc”. Nghiên cứu
trên 1066 CN may mặc nhằm đánh giá thực trạng sức khỏe tâm thần và các căng thẳng (stress) nghề
nghiệp, xác định các yếu tố nguy cơ gây stress. [61], đề tài này chỉ giới hạn nghiên cứu stress ở CN
may mặc .
Nguyễn Bạch Ngọc , “Stress nghề nghiệp và sức khoẻ tâm thần của người vận hành” nghiên
c
ứu 84 nam CN vận hành công trình ngầm, tuổi từ 22-43, thâm niên công tác từ 1 đến 15 năm. Các thử
nghiệm đối với CN đã được đo 3 lần trong 1 ca (ca sáng) vào các thời điểm trước khi vào cao, trước
khi nghỉ ăn trưa và trước khi tan ca. Kết quả làm test Zung và Beck của 41 sinh viên được dùng để làm
chứng[78]. Đề tài này cũng chỉ nghiên cứu CN làm việc ở công trình ngầm.
Qua những nghiên cứu trên có thể thấy nghiên cứu vấn đề stress ở CN không phải là một vấn đề
hoàn toàn mới mẻ ở nước ta mà nó đã được nghiên cứu bởi những nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực
khác như y tế và xã hội học, nhưng có sự giới hạn về đối tượng đa số là CN may, nữ CN hoặc các CN
trong những công trình ngầm và nội dung nghiên cứu thì thường nghiên cứu stress trong mối quan hệ vớ
i
những rối loạn tâm thần. Riêng đối với chuyên ngành tâm lý học, chúng tôi chỉ tìm thấy một nghiên cứu
về stress nghề nghiệp ở CN do Trịnh Thị Minh Dung thực hiện trong luận văn tốt nghiệp đại học chuyên
ngành tâm lý học “ Bước đầu tìm hiểu stress nghề nghịêp ở nữ CN một số công ty tại khu công nghịêp
Biên Hòa” (2005), chủ yếu nghiên cứu mức độ biểu hiện, nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp, những
ảnh h
ưởng về mặt tâm lý và cách ứng phó của nữ CN đối với stress nghề nghiệp. Đề tài này chỉ giới hạn
trên đối tượng nữ CN và vấn đề stress nghề nghiệp ở một khu công nghiệp tại Biên Hòa. Trong giới hạn
của mình chúng tôi chưa thấy một công trình nào nghiên cứu một cách khái quát vấn đề stress ở CN nói
chung đang làm việc ở các khu chế xuất, khu công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy có thể
thấ
trái ngược bên ngoài và có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe thể lý dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: tim
đập nhanh, huyết áp cao, căng cơ, cảm giác khó chịu, và ưu phiền” [45,16]. Định nghĩa này chỉ ra cả 3
khía cạnh của stress , nhất là chỉ rõ nh
ững dấu hiệu của stress về mặt cảm xúc và thể lý.
Trong A Dictionary of psychology của Andrew M. Colman , stress là “căng thẳng thể lý và tâm lý phát
sinh do những tình huống, sự kiện, trải nghiệm khó có thể chịu đựng hoặc vượt qua như những biến cố nghề
nghiệp, kinh tế, xã hội, cảm xúc và thể lý” [45,17].
Theo từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên “ stress là một thuật ngữ có giới hạn rộng dùng để
chỉ
những trạng thái của con người xuất hiện do phản ứng với những tác động đa dạng từ bên ngoài ở các mức độ
sinh lý, tâm lý, hành vi [14, tr 241]
Theo J. Delay “ stress là một tình trạng căng thẳng cấp diễn ra của cơ thể bị bắt buộc phải điều động những
tổ chức phòng vệ của nó để đương đầu với một tình huống đe doạ” [15]
Theo S. Palmer (1999), Stress xu
ất hiện khi áp lực vượt quá khả năng thông thường của cá nhân
để ứng phó .
=> Các định nghĩa này giống nhau ở chỗ không chỉ ra ảnh hưởng của stress ra sao.
Theo Đặng Phương Kiệt, Nguyễn Khắc Viện “stress được định nghĩa là một lực vật lý hoặc tâm
lý mà khi tác động vào một hệ thống thì đủ tạo ra sự căng thẳng hay méo mó trong hệ thống hoặc nếu
rất mạnh thì làm hỏng hệ
thống đó” .
Nguyễn Công Khanh hiểu “stress là trạng thái căng thẳng của cơ thể , phản ứng lại với những
kích thích bên trong hoặc bên ngoài cơ thể”. [28,185]
Trong luận án tiến sĩ về Stress ở cán bộ quản lý, Nguyễn Thành Khải đã đưa ra định nghĩa stress “ dưới
góc độ tâm lý học, stress là trạng thái căng thẳng về tâm lý mà con người cảm nhận được trong quá trình hoạt
động cũng như trong cuộc s
ống.” [27, tr20]
=> Ba định nghĩa trên không chỉ ra được nguồn gốc gây stress
Trong luận văn stress ở người trưởng thành, Nguyễn Thị Hải đã định nghĩa “stress là trạng thái
căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những
Theo Holroyd (1979), stress như một sự kiện từ môi trường đòi hỏi một cá nhân phải thử thách
những tiềm năng và đáp ứng không bình thường. [84]
Như vậy, Stress hình thành do những “đòi hỏi” của sự kiện môi trường hơn là bên trong cá nhân
người ấy , cách hiểu này có hạn chế ở chỗ là không phải sự kiện nào từ môi trường cũng gây ra stress và
không phải ai cũng bị
stress bởi một sự kiện như nhau.
Hướng thứ 4: Xem stress là một hiện tượng nhận thức của cá nhân, một quá trình tương tác với
môi trường
Theo giáo sư Ferreri, stress được hiểu là mối liên quan giữa con người và môi trường xung
quanh, nó vừa để chỉ tác nhân kích thích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước tác nhân đó. Như vậy
stress là mối tương tác giữa tác nhân kích thích và phản ứng của cơ thể. [10, 47]
Theo Charles Spielperger stress là quá trình t
ương tác giữa khả năng đáp ứng của mỗi cá nhân với những
đòi hỏi được đặt ra cho cá nhân đó trong môi trường của họ, quá trình tương tác đó có thể ảnh hưởng xấu về
nhiều mặt (sinh lý, tâm lý, cảm xúc, hành vi) [50,17]
Theo Gatchel & Baum (1983), “stress là một tiến trình mà bằng cách đó con người phản ứng lại
với các sự kiện môi trường và tâm lý được nhận thức là sự đe dọa hoặc thách thức” [19, tr 429]
Theo R.S. Lazarus (1966), “stress nh
ư một quá trình tương giao giữa con người và môi trường,
trong đó đương sự nhận định sự kiện từ môi trường là có tính chất đe dọa và có hại, và đòi hỏi đương sự
phải cố gắng sử dụng các tiềm năng thích ứng của mình”. [84]. Stress là một diễn tả chủ quan, từ trong
tâm trí, nên nó xuất hiện tùy theo cách nhìn của con người với sự việc (nó có chứa đựng yêu cầu cao đối
vớ
i cá nhân không, nó có đe dọa chủ thể không; và nhìn nhận về khả năng ứng phó của mình: liệu bản
thân mình có đủ nguồn lực để đáp ứng được với những yêu cầu và đe dọa đó không. Một sự kiện chỉ gây
stress khi cá nhân nhận định là “có hại”, và khi thiếu các phương tiện để ứng phó) . Đồng ý với quan
điểm này Nguyễn Khắc Viện đã nêu “stress là một vấn đề mang tính cá nhân, ta trải nghiệm bao nhiêu
stress là do bản chất của tác nhân gây stress quyết định, do cách stress được lý giải ra sao, những nguồn
lực sẵn có để đối phó với tác nhân gây stress và loại căng thẳng nào ta chịu ảnh hưởng”. Cũng như theo
Tô Như Khuê, “stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do
thiếu khả năng, nguồn lực để ứng phó)…
+ Những ảnh hưởng, hệ quả của stress : gây ra những hậu quả và ảnh hưởng đến sức khỏe con
người biểu hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý (quá trình nhận thức, cảm xúc,hành vi), xã hội (cuộc sống,
hoạt động thường ngày…) và nhữ
ng hậu quả đó sẽ tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người.
Theo chúng tôi, một khái niệm stress đầy đủ phải chỉ ra được 3 khía cạnh của stress là bản chất,
nguồn gốc và ảnh hưởng của stress. Do đó trong đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi hiểu dưới góc
độ tâm lý học: stress là một quá trình biến đổi trạng thái cân bằng hiện tại của con người gây ra sự
căng thẳng về tâm lý; nảy sinh do con ng
ười phản ứng lại với những nhân tố tác động, trong đó
một phần do bản chất của những kích thích đa dạng từ bên ngoài hoặc do chính bản thân gây ra,
một phần do nhận thức của cá nhân lý giải về những kích thích đó, về khả năng, tiềm lực của bản
thân, các nguồn lực sẵn có để ứng phó; quá trình này gây ra những ảnh hưởng cho con người biểu
hiện ở các mặt sinh lý, tâm lý, xã hội”
1.2.1.2 Khái niệm CN và stress ở CN
a. Khái niệm CN
Theo viện khoa học xã hội Việt Nam – Viện ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ
điển ngôn ngữ Hà Nội 1992 “ CN là những người lao động chân tay, làm việc ăn lương”. [15, tr 35]
Theo Lênin “ CN là những người lao động công nghiệp, làm việc trong nền đại công nghiệp” [5,
tr 12]
Trong nền sản xuất xã hội thì CN là một lực lượng xã hội, còn trong thể chế chính trị thì CN là
một giai cấp xã hội, đây là mộ
t giai cấp được nhiều nhà nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học quan
tâm:
Theo tác giả Đan Tâm “ Giai cấp CN Việt Nam là cộng đồng xã hội những người làm công ăn
lương, thu nhập và nguồn sống chủ yếu là tiền công , trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công
nghịêp hoặc có tính công nghiệp, tạo ra sản phẩm công nghiệp hoặc có tính công nghiệp; nắm giữ
những cơ sở vật chất kĩ thuật then chố
t của xã hội, tiêu biểu cho phương thức sản xuất mới và là cộng
1.2.2.1. Đặc điểm xã hội của CN
CN vừa là một lực lượng lao động trong xã hội, vừa là một giai cấp chính trị và giữ vai trò lãnh
đạo trong giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa nhưng trong đề tài này chúng tôi sẽ không đề cập đến
vai trò sứ mệnh lịch sử đó, mà chủ y
ếu quan tâm đến những mặt khác trong đặc điểm của CN Việt
Nam, đó là:
- Đội ngũ CN Việt Nam có nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ nông dân nên còn những mặt hạn chế
như: tính tổ chức, kỷ luật chưa cao; tư tưởng, tâm lý, tác phong và thói quen của những người sản xuất
nhỏ còn khá nặng nề, chưa trải qua hoạt động kinh tế đại công nghiệp, đa số họ
chưa qua đào tạo về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật, họ làm việc vì nhu cầu cơm ăn, áo mặc. Khi chịu ảnh hưởng nhiều
bởi những yếu tố đó, có nhiều CN chưa thích ứng được với những yêu cầu trong lao động công nghiệp
trong khi chủ nhân thuê mướn của họ lại là những người mang tác phong công nghiệp và quan hệ giữa
họ là quan hệ chủ tớ với nhữ
ng quy tắc và cách ứng xử nghiệt ngã, nên những mâu thuẫn chủ tớ sẽ diễn
ra. Thực tế hiện nay ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại TPHCM sử dụng phần lớn là CN, lao động
trẻ, đa số là dân nhập cư chiếm khoảng 71% số lượng CN (theo số liệu của ban quản lý các KCX-KCN
TPHCM) [5], [57]
- Mặc dù số liệu thống kê cho thấy trình độ tri thức, trình độ tay nghề của CN mỗi năm m
ột cao
hơn, nhưng mặt bằng chung là vẫn còn thấp vì các doanh nghiệp chưa chú trọng đến việc đào tạo, bồi
dưỡng tay nghề cho CN, cũng như chưa có các chính sách thỏa đáng về lương, ưu đãi và các phúc lợi,
quyền lợi vật chất, tinh thần khác đối CN bậc cao, lành nghề , còn mang tính chất bình quân nên không
khuyến khích được CN phấn đấu nâng cao bậc thợ, tay nghề. Hơn nữa, cuộc sống của ngườ
i CN hiện
nay vẫn khó khăn nên họ thiếu thời gian, điều kiện, nhiệt tình và lòng say mê nghề nghịêp để rèn luyện,
nâng cao tay nghề, bậc thợ. [5, tr 36,37] , [57, tr 19], [68]
- Điều kiện lao động, môi trường lao động và môi trường sống, đời sống của CN đang thiếu
những đảm bảo cần thiết: biểu hiện ở mức độ thiếu an toàn lao động, thiếu các phương tiện, dụng cụ
b
ị thích hợp cho bản thân.
1.2.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý của CN
Về mặt sinh lý : CN ở giai đoạn phát triển và hoàn thiện về thể chất, cũng như về mặt giới tính.
Về mặt tâm lý CN có những đặc điểm sau:
- Về mặt nhận thức: do trình độ văn hóa của CN tương đối thấp nên nhận thức của họ về nhiều
vấn đề trong cuộc số
ng, trong xã hội có nhiều hạn chế, điều này khiến cho họ có thể cảm thấy tự tin,
mặc cảm và khó hòa nhập vào cuộc sống hiện đại của xã hội, nhiều CN vì thế hạn chế giao tiếp, tự cô
lập mình với người khác rồi trở nên cô đơn không người thân thiết bên cạnh.
- Về đời sống tình cảm: Họ đang trong lứa tuổi có những rung động giới tính và cảm xúc yêu
đươ
ng với người khác giới, họ đã có những tình yêu thật sự và thông thường đó là những mối quan hệ để
chuẩn bị cho một cuộc sống hôn nhân. Trong tình yêu họ bộc lộ những thái độ, nhận thức và quan điểm
riêng, cũng như bản sắc riêng của mỗi người . Đối với CN, việc có được một mối quan hệ tình yêu tốt
đẹp là điều rất quan trọng, và là một nhu c
ầu rất lớn, tình yêu là nguồn động viên và là động lực để họ
sống và làm việc, ngược lại khi có những trục trặc trong mối quan hệ này thì sẽ ảnh hường không tốt đến
tâm lý của CN, từ đó ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc của họ. Hơn nữa, một đặc điểm cũng đáng
quan tâm của CN đang làm việc tại các KCN – KCX ở TPHCM là đa số h
ọ là những người nhập cư và
tỷ lệ nữ CN nhiều hơn nam CN nên việc có được một người yêu phù hợp không phải là chuyện dễ dàng.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều người cảm thấy hụt hẫng, cô đơn và chán nản khi
có những thất bại trong quá trình dẫn đến tình yêu và việc duy trì mối quan hệ đó. Mặt khác, cũng chính
vì có nhiều vấn đề không thuận lợi trong việc tìm cho mình một tình yêu và duy trì tình yêu (xa nhà, kinh
tế thiếu thốn, tỷ lệ nam nữ chênh lệch, không có môi trường giao lưu …) nên trong CN xảy ra các hiện
tượng sống chung, sống thử trước hôn nhân hoặc bị lợi dụng tình cảm , dẫn đến những hậu quả đáng tiếc.
Không chỉ có mối quan hệ tình yêu ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của CN mà cả những mối quan hệ
khác cũng có nhiều vấn đề nảy sinh. Con người khi tồn tạ
i ở một môi trường nào đó đều cần phải có
những mối quan hệ với những người xung quanh, nhưng đối với CN hầu hết những mối quan hệ thân
tác động bởi những tác nhân gây căng thẳng nhẹ hoặc vừa nhưng cá nhân vẫn giữ được trạng thái cân
bằng, không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể , ở mức độ này hoạt động tâm sinh lý diễn ra
bình thường.
- Mức độ stress cao : khi có các tác nhân gây căng thẳng đáng kể, cơ thể phải sử dụng thêm một
s
ố các năng lượng và cấu trúc lại hệ thống chức năng để thích nghi với những kích thích đó, các phản
ứng thích nghi đạt tới mức giới hạn nếu yếu tố gây căng thẳng đến mức tới hạn. Ở mức độ này, mặc dù
có những biến đổi của cơ thể nhưng nó sẽ được hồi phục lại sau khi tác nhân ngừng tác động. Tuy
nhiên nếu mức độ này kéo dài, hoặc các tác nhân kích thích quá mức hơn nữa thì phản ứng thích nghi
sẽ không đáp ứng được nữa, cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái bệnh lý.
- Mức độ stress bệnh lý : ở mức độ này, các phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả mong
muốn, các hệ thống chức năng mất tính mềm dẻo, môi trường bên trong có nhiều rối loạn và không trở
lại bình thường khi kích thích ng
ừng tác động.
Theo bác sĩ Đặng Phương Kiệt [31, tr39], stress có 3 mức độ, trong đó stress ở mức độ nhẹ là
mức độ làm cho chủ thể cảm nhận như một thách thức, có thể là một kích thích làm tăng thành tích.
Stress ở mức độ vừa là mức độ phá vỡ ứng xử, có thể dẫn đến những hành động lặp đi lặp lại. Stress ở
mức độ nặng là mức độ
ngăn chặn ứng xử và gây ra nhứng phản ứng lệch lạc
Nguyễn Thành Khải [27] lại phân chia mức độ stress thành 3 mức độ dựa trên sự cảm nhận của
chính chủ thể gồm mức độ rất căng thẳng khi chủ thể cảm nhận về mặt tâm lý là rất căng thẳng, khó
chịu . Mức độ căng thẳng khi chủ thể cảm nhận có sự că
ng thẳng cảm xúc, nếu mức độ này kéo dài sẽ
chuyển qua mức độ rất căng thẳng. Mức độ thứ ba là ít căng thẳng khi chủ thể cảm nhận bình thường
hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ. Tuy nhiên việc phân chia này mang tính tương đối, không có những tiêu
chuẩn cụ thể để có thể phân biệt được sự khác nhau rõ rệt giữa các mức độ.
Nguyễn Thị Hải [18, tr 29] lại phân chia m
ức độ stress thành 3 mức : ít trầm trọng khi stress chỉ
biểu hiện ở một mặt, không kéo dài, chủ thể có thể tự khắc phục được ; mức độ thứ hai là trầm trọng
biểu hiện ở hai hay một số mặt, lặp đi lặp lại trong thời gian tương đối dài, phải khắc phục trong một
nhận định là “rất tiêu cực”, và những phương thức ứng phó có khả năng thực thi được vẫn xảy ra stress
do tính chất nghiêm trọng của sự kiện. Tương tự, khi sự kiện ít nghiêm trọng, nhưng trong tay không
có sẵn những biện pháp giải quyết stress sẽ x
ảy ra do bị mất khả năng kiểm soát sự kiện. [84].
=> Từ những cách phân chia mức độ stress trên, chúng tôi nhận thấy chưa có một tiêu chí về mặt
định lượng hay định tính cụ thể để phân biệt mức độ stress là nặng, vừa hay nhẹ, trầm trọng hay ít trầm
trọng. Muốn đánh giá được mức độ stress một cách cụ thể thì cần phải có một trắc nghiệm để đo lườ
ng
về mặt định lượng, có thông số rõ ràng. Nhưng trong giới hạn của mình, chúng tôi chưa tìm thấy một
trắc nghiệm về stress khái quát chính thức nào do các nhà tâm lý học nước ta soạn thảo hay đã được
chuẩn hóa tại Việt Nam. Đồng thời căn cứ vào những yếu tố chi phối mức độ stress chúng tôi đã chọn
hướng nghiên cứu xem xét trong cuộc sống con người có thường xuyên bị stress hay không, những
biểu hiện củ
a stress là thường xuyên hay thỉnh thoảng hay là không có biểu hiện gì, và dựa trên luận
điểm một tác nhân gây stress nhiều hay ít là do chủ thể nhận định nó gây ảnh hưởng đến bản thân mình
như thế nào. Do đó chúng tôi đã phân chia mức độ stress dựa trên tần số bị stress trong cuộc sống qua
sự đánh giá chủ quan của cá nhân về tình trạng của mình với các mức thường xuyên, thỉnh thoảng,
hiếm khi hay hầu như chưa bao giờ
bị stress . Đồng thời dựa trên tần số biểu hiện của stress là thường
xuyên, thỉnh thoảng hay không có biểu hiện đó. Thứ ba là, dựa trên sự đánh giá của cá nhân về các tác
nhân gây stress ảnh hưởng cho mình ở mức độ nào ảnh hưởng nhiều, ảnh hưởng ít hay không ảnh
hưởng.
1.2.4 Những ảnh hưởng và biểu hiện của stress nói chung và stress ở CN
1.2.4.1 Những ảnh hưởng và biểu hiện của stress nói chung
Đầu tiên, những biểu hiện của stress được nhận biết qua những phản ứng sinh lý của cơ thể và
những ảnh hưởng về mặt sinh lý do stress gây ra:
Khi cơ thể phản ứng với các tác nhân kích thích thì các biến đổi sinh lý sẽ xảy ra theo một mô
hình đã được “cài đặt” sẵn như phản ứng “ chống hoặc chạy” mà Cannon đã nêu. Trong đó có sự gia
tăng nhịp tim, huyết áp và hô hấp. Máu được phân b
Một số người nghiên cứu khác như Kiecolt-Glaser& Glaser (1986); Schneiderman (1983);
Cohen, Tyrrell, & Smith, (1993) cũng nêu lên nhưng ảnh hưởng và tác hại của stress, các ông cho rằng
qua thời gian, các phản ứng với stress có thể thúc đẩy sự suy yếu của các mô, như mạch máu và tim
chẳng hạn. Kết cục, chúng ta dễ nhiễm bệnh hơn khi sự đề kháng vi trùng bị giảm sút. Ngoài những
trục trặc sức khỏe trầm trọng, nhiều cơn đau nhức nhỏ hơn có thể là nguyên nhân hoặc trở nên tồi tệ
hơn do stress : đau lưng, tim, da nổi mụn, khó tiêu, mệt mỏi và táo bón, thậm chí, liên quan đến cảm
cúm thông thường nữa. (Brown, 1984; Cohen, Tyrrell, & Smith, 1993). [87].
Ngoài ra, một số ảnh hưởng sinh lý, đồng thời cũng là những biểu hiện cụ thể của stress đã được
biết đến như:
+
Ảnh hưởng đến não: stress thường xuyên khiến não trở nên kém linh hoạt, minh mẫn, thậm
chí có nguy cơ bị tổn thương nghiêm trọng.
+ Ảnh hưởng đến hệ hô hấp: stress kích thích tuyến thượng thận giải phóng hormone
adrenaline. Khi lượng hormone này tăng cao thì hơi thở thường trở nên gấp gáp, hổn hển, không sâu,
phải rướn lên để thở. Người bị stress nếu đã mắc bệnh suyễn hoặc các bệnh khác về đường hô hấ
p thì
bệnh tình sẽ trở nên tồi tệ hơn.
+ Ảnh hưởng đến tim: stress liên quan đến bệnh sơ vữa động mạch vành, rối loạn nhịp tim (tim
đập nhanh, mạnh). Một số căng thẳng về tinh thần hoặc tình cảm, gây ra quá trình thiếu máu cục bộ cơ
tim có thể diễn ra một cách lặng lẽ.
+ Ảnh hưởng đến hệ bài tiết : khiến cơ thể hay bị
đổ mồ hôi một cách khác thường (ví dụ, đẫm
mồ hôi tay) ngay cả khi nhiệt độ không cao hoặc không có sự vận động cơ thể gắng sức