BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRÀ NGUYÊN TRÂN
ĐÁNH GIÁ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ – HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN
TRỒNG CAM QUÝT Ở HUYỆN LAI VUNG ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học : TS.Phạm Quang Khánh
Lớp: Cao học Quản lý đất đai khóa 2015
MỞ ĐẦU
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn
và phát triển. Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc
thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể tự nhiên nào có được – đó là độ phì
nhiêu (Lê Văn Khoa, 2004).
Đất được hình thành, phát triển và thoái hóa theo thời gian dưới tác động của
điều kiện tự nhiên và các hoạt động của con người (Wada, 2000).
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu về sự thoái hoá vật lý, hoá học
và sinh học ở các vùng đất thâm canh 03 vụ lúa/năm; trên các vườn cây ăn trái nhiều
năm tuổi bước đầu nghiên cứu cho thấy sự giảm hàm lượng chất hữu cơ, độ nén
dẽ cao, hệ số thấm của nước thấp (Võ Thị Gương, 2004).
Do hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây nhiều nhà vườn đã cải tạo vườn
tạp, nhiều chủ vườn đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũ hiệu quả kinh tế thấp sang
trồng chuyên canh cây ăn trái. Bên cạnh những kết quả và lợi nhuận thu được thì
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005), đất là vật thể bao gồm các kích thước
hạt có kích thước khác nhau. Chính các cấp hạt này gọi là thành phần cơ giới. Tuỳ
theo tỷ lệ các cấp hạt mà đất có tính chất khác nhau. Ba cấp hạt: cát (Sand), thịt
(Silt), sét (Clay) sẽ tạo nên kết cấu của đất. Tỷ lệ các cấp hạt khác nhau dẫn đến
sự khác nhau về đặc điểm tính chất như: tỷ trọng, dung trọng, khả năng giữ nước,
tính bền của đất... Thành phần cơ giới là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá độ phì
của đất (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2005). Đất Đồng bằng sông Cửu Long đa số là
đất phù sa màu mỡ, có thành phần cơ giới nặng nên khả năng giữ nước và hấp phụ
chất dinh dưỡng tốt chính vì thế phục vụ rất tốt cho việc sản xuất nông nghiệp.
Thành phần cơ giới đất là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến đặc tính
của đất như sự thấm nước, sự kiềm giữ nước, sự phát triển của rễ cây (Raymond
W. Miller et al, 2001) Trong nông nghiệp, thành phần cơ giới có ý nghĩa rất quan
trọng trong nghiên cứu phát sinh đất, loại đất và các quá trình thổ nhưỡng của đất.
Nhiều tính chất hoá học, vật lý như khả năng giữ ẩm, khả năng giữ nhiệt và động
thái nhiệt, chế độ khí và động thái khí, CEC và khả năng điều tiết chất dinh
dưỡng...đều liên quan đến thành phần cơ giới (Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998).
1.1.2 Tính bền cấu trúc
Độ bền đoàn lạp là tính bền của tập hợp các phần tử đất, là đặc tính cấu trúc
quan trọng của đất giúp đo lường mức độ chịu đựng của đất dưới tác động của
mưa, các lực cơ giới khi cày hoặc hoạt động tưới nước.
Tính bền cấu trúc đất phụ thuộc vào hàm lượng của chất hữu cơ, hàm lượng
sét và các oxit sắt (Trần Kim Tính, 2003).
Tính bền của đất được xem như là một trong những chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá chất lượng đất đai. Tính bền của đất có thể tác động mạnh mẽ đến đặc
tính đất cả về hoá học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003).
1.1.3 Dung trọng
Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng dùng để đánh giá độ phì vật lý và
hoá học đất (Trần Bá Linh và ctv, 2006). Dung trọng phụ thuộc vào thành phần
2,30 g/cm3 (Trần Kông Tấu, 2006).
Nhìn chung tỷ trọng của đất đa số nhỏ ở các loại đất mùn và thường lớn ở
những loại đất khoáng. Do vậy thông thường ở những tầng mặt thì tỷ trọng của đất
nhỏ so với các tầng sâu hơn.
1.1.5 Độ xốp
Độ xốp của đất là phần trăm thể tích của đất được chiếm bởi không khí và
nước (Trần Bá Linh và ctv, 2006). Độ xốp là tổng các tế khổng trong đất biểu thị
bằng % thể tích đất. Độ xốp đất phụ thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ giới,
dung trọng và tỷ trọng đất. Khả năng thoáng khí, khả năng giữ nước phụ thuộc lớn
vào độ xốp đất. Đối với cây lúa độ xốp là chỉ tiêu không quan trọng, ngoại trừ các
mao quản, lượng tế khổng lớn chứa khí trong đất phải không dưới 25% cho đất
canh tác cây trồng cạn. Độ xốp thích hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng
là 50%. (Võ Thị Gương và ctv, 2004).
Sự trao đổi không khí đặc biệt là sự khuếch tán oxy có ý nghĩa rất quan trọng
cho cây trồng. Việc giảm chất hữu cơ trong đất sẽ đưa đến giảm độ xốp đất. Đất
kém thông thoáng có thể giới hạn sự phát triển của rễ, đặc biệt ảnh hưởng đến
việc hấp thu chất dinh dưỡng (Lipiec and Stepniewski, 1995).
1.1.6 Hệ số thấm (Ksat)
Hệ số thấm bảo hoà Ksat là thông số chính để dự đoán dòng chảy bảo hoà
trong đất, ngoài các tác nhân khác làm ảnh hưởng đến hệ số thấm, sa cấu và cấu
trúc đất cũng làm cho hệ số thấm bị thay đổi một cách đáng kể. Chỉ tiêu này dùng
để phân biệt khả năng thấm và thoát nước của đất. Đất có giá trị Ksat cao sẽ có tác
dụng thấm nước và thoát nước nhanh không bị ngập úng (Radeliffe and Rasmussen,
2000).
Hầu hết đất lúa nước đạt năng suất cao tại Nhật Bản có tốc độ thấm trong
khoảng 20 – 30mm/ngày (Takai and Mada, 1997). Riêng ở Trung Quốc để đạt được
năng suất cao, tốc độ thấm trong đất từ 9 – 15 mm/ngày (Yang and Chen, 1961).
Thực tế thì tốc độ thấm tối hảo cho năng suất lúa tuỳ thuộc vào hàm lượng chất
mặt đất. Lớp vỏ cứng trên mặt đất này có thể dầy vài milimet nhưng nó sẽ làm
giảm khả năng thấm nước và tăng dòng chảy trên mặt gây xói mòn đất, làm giảm
khả năng nẩy mầm và phát triển của cây trồng (Lê Văn Khoa và ctv, 2003).
Sự hình thành nên lớp váng ở bề mặt (do sự bong đất mặt) thì thường được
thấy nhiều hơn trên những vùng đất có hàm lượng thịt cao, hay cát mịn và hàm
lượng sét của nó tương đối thấp (Trần Kim Tính, 2003).
Việc canh tác làm phá huỷ cấu trúc đất sẽ làm giảm lượng tế khổng lớn trong
đất và tăng các tế khổng nhỏ ở bề mặt của tầng canh tác ảnh hưởng đến tính thấm
của đất (S.S Prihar et al, 1985).
Sự kết cứng của đất tác động trực tiếp đến sự nẩy mầm của hạt giống, sự
tăng trưởng của cây trồng, khả năng thoáng khí và thoát nước của đất. Tuy nhiên, ở
một số loại đất ở Châu Âu điều này có thể được thay đổi bởi sự thêm vào một
lượng các hydroxide sắt, nhôm vào trong đất như là tác nhân liên kết (Lê Văn Khoa,
2003).
Hình 1.7: Sự đóng váng kết cứng bề mặt khi đất khô
1.2. Hoá học đất
1.2.1 Độ chua hiện tại(pHH20)
Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng,
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc
phản ứng hóa học và sinh hóa trong đất. Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất,
hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất.
pH đất ảnh hưởng đến độ hữu dụng của dinh dưỡng cây trồng, độc chất
trong đất, đến hoạt động của vi sinh vật đất (Tất Anh Thư, 2006). Theo Trần Thành
Lập (1999), đất Đồng bằng sông Cửu Long thường có pH thấp, đất phù sa không
phèn thường có pH = 4,05,5. Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng
pH có thể
Chất hữu cơ góp phần cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất và cung
cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng (Prihar et al, 1985).
Theo Đỗ Ánh (2002) chất mùn trong đất là một nguồn dinh dưỡng có tương
quan rất chặt chẽ với độ phì nhiêu của đất, nhất là trong điều kiện nhiệt đới ẩm
của chúng ta. Những thành tựu nghiên cứu về chất mùn ở điều kiện nhiệt đới ẩm
của Castagnol 1942, Fridland 19581964, Duchaufour 1968...đã ghi nhận, về sau Ngô
Văn Phụ (19701979) đều cho rằng mùn ở đất Việt Nam rất quan trong việc tạo độ
phì nhiêu đất (Đỗ Ánh và ctv, 2000). Viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng hàm
lượng chất hữu cơ tối thích cho đất lúa nước là 4%. Nếu giảm 1% chất hữu cơ thì
lân bị giữ chặt trong đất tăng 50mg/100g đất (Đỗ Ánh và ctv, 2000).
Theo Thái Công Tụng (1971), sự ảnh hưởng của chất hữu cơ đến tính chất đất
đai.
Ảnh hưởng của màu sắc đất đai: nâu đến đen
Ảnh hưởng đến tính chất hóa học của đất như: khả năng giữ nước, độ dẻo
dính.
Ảnh hưởng đến khả năng trao đổi base như: làm cho đất đai hấp thụ được
nhiều chất base hơn, 30 90% ngoại hấp là do chất hữu cơ.
Cung cấp và tăng độ hữu dụng của chất dinh dưỡng.
là đất có khả năng bảo quản cao dinh dưỡng cây trồng. Nếu đất chứa Al chiếm
60% CEC thì gây độc cho cây trồng. Đất bạc màu có CEC thấp thì CEC trở thành
yếu tố hạn chế (Đỗ Ánh và ctv, 2000). Theo Nguyễn Vy (2003), dung tích hấp phụ
trong các loại đất Việt Nam trong khoảng 5 30 meq/100g đất. Nhìn chung giá trị
dung tích hấp phụ càng cao thì đất càng phì nhiêu. Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất
còn phụ thuộc vào thành phần và tỷ lệ các cation trong dung tích hấp phụ đó
(Nguyễn Vy, 2003).
1.2.5 Độ dẫn điện dung dịch đất (EC)
Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng,
giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc của đất (Tất Anh Thư,
2006).
EC được tính bằng đơn vị mmhos trên centimet, chính mmhos cũng là trị số
nghịch đảo của đơn vị đo sức cản điện (ohms). Trị số mhos/cm là một đơn vị rất
lớn, phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ hơn trị số này rất nhiều (Trần Kim
Tính, 2003).
EC là độ mặn của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong
dung dịch đất. Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất
phèn sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho
cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999). Theo H. Eswaran (1985), cây lúa rất nhạy cảm với
độ mặn, cây lúa sẽ không phát triển được nếu trên đất lúa nước có EC > 6
mmhos/cm. EC = 4 – 6 mmhos/cm thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa,
nếu EC
Tuy vậy, Lai Vung là huyện nằm xa các thành phố, cảng, sân bay và các trung
tâm kinh tế lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vùng Tàu, Đồng Nai, Bình
Dương…. Nên ít được sức lan toả của các khu vực này và khó khăn trong việc kêu
gọi đầu tư lớn từ bên ngoài cho phát triển công nghiệp.
1.3.2 Đặc điểm địa chất với vấn đề chất lượng đất đai và khả năng sử dụng
đất huyện Lai Vung.
Huyện Lai Vung có mẫu chất đơn giản tạo cho huyện một quỹ đất tương đối
đồng nhất, Huyện có các mẫu chất sau:
+ Đặc điểm địa chất huyện Lai Vung mang cấu trúc chung của tỉnh Đồng Tháp
cũng như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là loại trầm tích trẻ sông biển.
+ Loại đất được hình thành từ trầm tích sông, phân bổ ven sông lớn hình thành
đất phù sa chiếm hầu hết diện tích trong huyện.
Từ các đặc điểm địa chất và địa hình đã tạo nên lớp vỏ thổ nhưỡng thể hiện
cấu trúc đất đai khác nhau giữa các vùng trong huyện. Từ đó bố trí sử dụng đất sẽ
khác nhau.
1.3.3 Đặc điểm địa hình với vấn đề chất lượng đất đai và khả năng sử dụng
đất.
Căn cứ bản đồ địa hình do viện Khảo sát Thiết Kế Thuỷ lợi Nam bộ lập năm
1982 cho thấy xu thế địa hình toàn huyện tương đối bằng phẳng thuận lợi cho canh
tác nông nghiệp.
Địa hình của huyện cao ở ven sông Tiền và phía sông Hậu, trũng lòng máng ở
giữa, cao độ phổ biến (+0,9)(+0,1), cao nhất (+2,0), thấp nhất (+0,8), bề mặt địa
hình bị chia cắt bởi hệ thống kênh mương dầy đặc thuận lợi cho tưới, tiêu, song
hạn chế trong việc cơ giới hoá nông nghiệp.
Đất đai vùng ven sông Hậu là các dải đất phù sa ven sông và ven các kênh rạch
lớn lâu đời, hàng năm được phù sa bồi bắp, nguồn nước ngọt dồ dào quanh năm
thuận lợi cho việc phát triển lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và
nuôi trồng thuỷ sản.
lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô. Lượng mưa và tập trung kết hợp
với nước nguồn đã xảy ra lũ lụt lớn trong vùng.
1.3.5. Thuỷ văn
Chịu tác động của 3 yếu tố: Lũ, mưa nội đồng và thuỷ triều biển đông, hàng
năm hình thành hai mùa rõ rệt: Mùa lũ trùng hợp với mùa mưa và mùa kiệt trùng với
mùa khô.
+ Mùa kiệt nối tiếp sau mùa lũ từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Chế độ thuỷ
văn trong sông, kênh chịu tác động trực tiếp của thuỷ triều biển Đông, mực nước
giảm dần đến tháng 1, 2 trở đi bắt đầu thấp hơn mặt ruộng, từ một số khu vực phía
Nam có thể lợi dụng thuỷ triều khai thác tưới tự chảy.
Biên độ các tháng mùa kiệt lớn, biên độ bình quân từ 0,4 – 1,7 m.
+ Mùa lũ : Lũ xuất hiện ở Đồng Tháp từ tháng 7 đến tháng 11 vào loại sớm
nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó các huyện thị phía Nam cũng
như huyện Lai Vung, lũ về muộn hơn so với các huyện đầu nguồn ảnh hưởng đến
sản xuất, sinh hoạt. Việc tăng cường và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi là biện pháp
quan trọng để khắc phục khó khăn này.
1.3.6. Cảnh quan môi trường
Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái của huyện là:
Đất phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất tự nhiên.
Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa.
Nguồn nước ngọt sông Tiền rất dồi dào, chất lượng tốt.
Về cảnh quan của Lai Vung mang đặc trưng cơ bản của vùng đồng bằng Nam
Bộ, với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Địa hình bằng phẳng sông ngòi chằng
chịt, dân cư sống ven theo đường giao thông và kênh rạch, nhà ở chủ yếu là nhà tre,
lá, cơ sở hạ tầng kém phát triển. Môi trường ít bị ô nhiễm bởi chất thải công
nghiệp. Tuy nhiên, đất phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất, mấy năm
gần đây lũ lụt xảy ra thường xuyên, dân cư đổ mọi chất thải ra kênh rạch, môi
trường nước bị ô nhiễm. Nhân dân lại sử dụng nước mặt để sinh hoạt ăn uống nên
các nghiên cứu cho thấy, trong năm hoạt động của rễ có các thời kỳ nhất định
như:
Trước lúc mọc cành mùa xuân
Sau khi rụng trái đợt đầu đến trước lúc mọc cành mùa hè
Sau khi cành mùa thu đã phát triễn đầy đủ
Thường thì khi rễ hoạt động mạnh, rễ lông phát triễn, thân cành sẽ hoạt động
chậm và ngược lại. sự hoạt động của bộ rễ thường kéo dài cả sau các đợt cành
mọc rộ, do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triễn có tác dụng cung cấp
dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn rễ hoạt động.
Sự phân bố của bộ rễ tùy thuộc các yếu tố: tầng đất canh tác, hình thức nhân
giống, loại giống, loại gốc ghép, mực thủy cấp và kỹ thuật trồng. các yếu tố này có
ảnh hưởng làm rễ mọc sâu hay cạn, xa hay gần. Nói chung, rễ cam quýt thường
mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt. do đó việc giữ cho lớp
đất mặt tơi xốp êm mát có tác dụng giúp cây hút thu được dinh dưỡng tốt hơn.
Rễ mọc ra từ hột thường khỏe, mọc sâu, nếu đất thoát nước tốt và tơi xốp rễ
có thể mọc sâu trên 4 mét. Do đó ở ĐBSCL, trên những vùng đất thấp việc trồng
cam quýt bằng hột hay gốc tháp thường bị ảnh hưởng bởi mặt thủy cấp. Nếu
không lên líp trồng cao và thiết kế bờ bao vườn để điều tiết nước, cây có thể bị suy
yếu dần và chết do thối rễ. Trái lại rễ mọc ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn
cạn hơn, ít bị tác hại bởi mặt thủy cấp.
b. Thân, cành:
cam quýt thuộc loại thân gỗ, dạng bụi hay bán bụi. Các cành chính thường
mọc ra ở các vị trí trong khoảng 1 mét cách mặt đất. Cành có thể có gai, nhất là khi
trồng bằng hột. tuy nhiên sau giai đoạn ra hoa trái, các gai thường ít phát triển. Ở
một vài loài, gai chỉ mọc ra từ những cành sinh trưởng mạnh.
Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một khoảng
nhất định thì ngừng lại, các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn cành sẽ mọc
ra, các cành thứ cấp này cũng mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng và các
cành mọc ra không nhiều. Do đó cần phải chú ý bồi dưỡng cho cây ở giai đoạn sau
thu hoạch để giúp cây có đủ dinh dưỡng tạo nhiều cành mới.
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. PHƯƠNG TIỆN
2.1.1 Phương tiện nghiên cứu
20 mẫu đất được lấy tầng mặt canh tác (030cm)
Các dụng cụ lấy mẫu đất: khoan, ring, bao nilong, ….
Dụng cụ xử lý mẫu: hệ thống sấy mẫu, hệ thống rây, hệ thống ống hút
Robinson…
Phần mềm hỗ trợ: Word, Excel, chương trình thống kê ANOVA,….
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu Đánh giá tính vật lý – hóa học trên vùng đất trồng cam quýt ở
huyện Lai Vung – Đồng Tháp. Đề tài được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2009
đến ngày 01 tháng 01 năm 2010.
2.1.3. Địa điểm phân tích mẫu
Khoa Quản lý đất đai, trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu đất được lấy ở tầng mặt canh tác (030cm) từ những vườn trồng cam,
quýt điển hình tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Mẫu đất được làm khô không
khí, nghiền và qua rây theo yêu cầu của mỗi chỉ tiêu khác nhau.
2.2.1. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vật lý
2.2.1.1. Tính bền cơ học đất
Tính bền của đất được phân tích theo phương pháp rây khô và rây ướt của Đại
học Gent, Bỉ (Verplancke, 2002). Hai nghiệm thức tác động ẩm độ khác nhau trước
khi rây ướt được thực hiện:
Phá vỡ tập hợp đất bằng cách không làm ẩm: tập hợp đất được chuyển từ