Đánh giá đặc tính vật lý – hóa học đất vườn trồng cam quýt ở huyện lai vung đồng tháp - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­

NGUYỄN TRÀ NGUYÊN TRÂN

ĐÁNH GIÁ ĐẶC TÍNH VẬT LÝ – HÓA HỌC ĐẤT VƯỜN 
TRỒNG CAM QUÝT Ở HUYỆN LAI VUNG ­ ĐỒNG THÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ 

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 
Người hướng dẫn khoa học : TS.Phạm Quang Khánh
Lớp: Cao học Quản lý đất đai khóa 2015


MỞ ĐẦU
Đất là một tài nguyên vô giá mà tự nhiên đã ban tặng cho con người để sinh tồn  
và phát triển. Đất là tư liệu sản xuất, là đối tượng lao động, là vật mang được đặc 
thù bởi tính chất độc đáo mà không vật thể  tự  nhiên nào có được – đó là độ  phì 
nhiêu (Lê Văn Khoa, 2004).
Đất được hình thành, phát triển và thoái hóa theo thời gian dưới tác động của 
điều kiện tự nhiên và các hoạt động của con người (Wada, 2000).
Ở  Đồng bằng sông Cửu Long, các nghiên cứu về  sự thoái hoá vật lý, hoá học  
và sinh học ở các vùng đất thâm canh 03 vụ lúa/năm; trên các vườn cây ăn trái nhiều 
năm tuổi bước đầu nghiên cứu cho thấy sự giảm hàm lượng chất hữu cơ, độ  nén  
dẽ cao, hệ số thấm của nước thấp (Võ Thị Gương, 2004). 
Do hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây nhiều nhà vườn đã cải tạo vườn  
tạp, nhiều chủ vườn đã chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũ hiệu quả kinh tế thấp sang  
trồng chuyên canh cây ăn trái. Bên cạnh những kết quả  và lợi nhuận thu được thì  

 Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005), đất là vật thể bao gồm các kích thước 
hạt có kích thước khác nhau. Chính các cấp hạt này gọi là thành phần cơ giới. Tuỳ 
theo tỷ  lệ  các cấp hạt mà đất có tính chất khác nhau. Ba cấp hạt: cát (Sand), thịt 
(Silt), sét (Clay) sẽ tạo nên kết cấu của đất. Tỷ  lệ  các cấp hạt khác nhau dẫn đến 
sự khác nhau về đặc điểm tính chất như: tỷ trọng, dung trọng, khả năng giữ nước,  
tính bền của đất... Thành phần cơ giới là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá độ phì 
của đất (Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv, 2005). Đất Đồng bằng sông Cửu Long đa số là 
đất phù sa màu mỡ, có thành phần cơ giới nặng nên khả năng giữ nước và hấp phụ 
chất dinh dưỡng tốt chính vì thế phục vụ rất tốt cho việc sản xuất nông nghiệp.
   Thành phần cơ  giới đất là một chỉ  tiêu quan trọng  ảnh hưởng đến đặc tính 
của đất như sự thấm nước, sự kiềm giữ nước, sự phát triển của rễ  cây (Raymond 


W. Miller et al, 2001) Trong nông nghiệp, thành phần cơ  giới có ý nghĩa rất quan 
trọng trong nghiên cứu phát sinh đất, loại đất và các quá trình thổ nhưỡng của đất.  
Nhiều tính chất hoá học, vật lý như khả năng giữ  ẩm, khả năng giữ  nhiệt và động  
thái   nhiệt,   chế   độ   khí   và   động   thái   khí,   CEC   và   khả   năng   điều   tiết   chất   dinh 
dưỡng...đều liên quan đến thành phần cơ giới (Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998).
1.1.2 Tính bền cấu trúc
Độ bền đoàn lạp là tính bền của tập hợp các phần tử đất, là đặc tính cấu trúc 
quan trọng của đất giúp đo lường mức độ  chịu đựng của đất dưới tác động của 
mưa, các lực cơ giới khi cày hoặc hoạt động tưới nước.
Tính bền cấu trúc đất phụ  thuộc vào hàm lượng của chất hữu cơ, hàm lượng  
sét và các oxit sắt (Trần Kim Tính, 2003).
Tính bền của đất được xem như  là một trong những chỉ  tiêu quan trọng để 
đánh giá chất lượng đất đai. Tính bền của đất có thể  tác động mạnh mẽ  đến đặc  
tính đất cả về hoá học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003). 
1.1.3 Dung trọng
 Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng dùng để  đánh giá độ  phì vật lý và  
hoá học đất (Trần Bá Linh và ctv, 2006). Dung trọng phụ  thuộc vào thành phần 

2,30 g/cm3 (Trần Kông Tấu, 2006). 
           Nhìn chung tỷ trọng của đất đa số nhỏ ở các loại đất mùn và thường lớn ở  
những loại đất khoáng. Do vậy thông thường ở những tầng mặt thì tỷ trọng của đất 
nhỏ so với các tầng sâu hơn.
1.1.5 Độ xốp 
            Độ xốp của đất là phần trăm thể tích của đất được chiếm bởi không khí và 
nước (Trần Bá Linh và ctv, 2006). Độ  xốp là tổng các tế  khổng trong đất biểu thị 
bằng % thể tích đất. Độ  xốp đất phụ  thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ  giới, 
dung trọng và tỷ trọng đất. Khả năng thoáng khí, khả năng giữ nước phụ thuộc lớn  
vào độ xốp đất. Đối với cây lúa độ  xốp là chỉ tiêu không quan trọng, ngoại trừ các  
mao quản, lượng tế  khổng lớn chứa khí trong đất phải không dưới 25% cho đất 
canh tác cây trồng cạn. Độ xốp thích hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng 
là 50%. (Võ Thị Gương và ctv, 2004).
 Sự trao đổi không khí đặc biệt là sự khuếch tán oxy có ý nghĩa rất quan trọng  
cho cây trồng. Việc giảm chất hữu cơ trong đất sẽ đưa đến giảm độ xốp đất. Đất  


kém  thông thoáng có thể  giới hạn sự  phát triển của rễ, đặc biệt  ảnh hưởng đến 
việc hấp thu chất dinh dưỡng (Lipiec and Stepniewski, 1995).
1.1.6 Hệ số thấm (Ksat)
            Hệ số thấm bảo hoà Ksat là thông số chính để dự đoán dòng chảy bảo hoà  
trong đất, ngoài các tác nhân khác làm  ảnh hưởng đến hệ  số  thấm, sa cấu và cấu  
trúc đất cũng làm cho hệ số thấm  bị thay đổi một cách đáng kể. Chỉ tiêu này dùng 
để phân biệt khả năng thấm và thoát nước của đất. Đất có giá trị Ksat cao sẽ có tác  
dụng thấm nước và thoát nước nhanh không bị ngập úng (Radeliffe and Rasmussen,  
2000).
          Hầu hết đất lúa nước đạt năng suất cao tại Nhật Bản có tốc độ  thấm trong  
khoảng 20 – 30mm/ngày (Takai and Mada, 1997). Riêng ở Trung Quốc để đạt được  
năng suất cao, tốc độ  thấm trong đất từ  9 – 15 mm/ngày (Yang and Chen, 1961).  
Thực tế  thì tốc độ  thấm tối hảo cho năng suất lúa tuỳ  thuộc vào hàm lượng chất 

mặt đất. Lớp vỏ  cứng trên mặt đất này có thể  dầy vài milimet nhưng nó sẽ  làm 
giảm khả  năng thấm nước và tăng dòng chảy trên mặt gây xói mòn đất, làm giảm  
khả năng nẩy mầm và phát triển của cây trồng (Lê Văn Khoa và ctv, 2003).
Sự  hình thành nên lớp váng  ở  bề  mặt (do sự  bong đất mặt) thì thường được 
thấy nhiều hơn trên những vùng đất có hàm lượng thịt cao, hay cát mịn và hàm  
lượng sét của nó tương đối thấp (Trần Kim Tính, 2003).
Việc canh tác làm phá huỷ cấu trúc đất sẽ làm giảm lượng tế khổng lớn trong  
đất và tăng các tế khổng nhỏ ở bề mặt của tầng canh tác ảnh hưởng đến tính thấm 
của đất (S.S Prihar et al, 1985).
Sự  kết cứng của đất tác động trực tiếp đến sự  nẩy mầm của hạt giống, sự 
tăng trưởng của cây trồng, khả năng thoáng khí và thoát nước của đất. Tuy nhiên, ở 
một số  loại đất  ở  Châu Âu điều này có thể  được thay đổi bởi sự  thêm vào một  
lượng các hydroxide sắt, nhôm vào trong đất như là tác nhân liên kết (Lê Văn Khoa, 
2003).


Hình 1.7: Sự đóng váng kết cứng bề mặt khi đất khô

1.2. Hoá học đất
1.2.1 Độ chua hiện tại(pHH20)
Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv (2004), pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng,  
vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc 
phản  ứng hóa học và sinh hóa trong đất. Độ  hữu dụng của dưỡng chất trong đất, 
hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua của đất. 
   pH đất  ảnh hưởng đến độ  hữu dụng của dinh dưỡng cây trồng, độc chất 
trong đất, đến hoạt động của vi sinh vật đất (Tất Anh Thư, 2006). Theo Trần Thành 
Lập (1999), đất Đồng bằng sông Cửu Long thường có pH thấp, đất phù sa không 
phèn thường có pH = 4,0­5,5. Đất có pH thấp nhất là đất phèn, trên đất phèn nặng  
pH có thể  
 Chất hữu cơ góp phần cải thiện các tính chất lý, hoá và sinh học đất và cung  
cấp nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng (Prihar et al, 1985). 
         Theo Đỗ  Ánh (2002) chất mùn trong đất là một nguồn dinh dưỡng có tương 
quan rất chặt chẽ  với độ  phì nhiêu của đất, nhất là trong điều kiện nhiệt đới  ẩm  
của chúng ta. Những thành tựu nghiên cứu về  chất mùn ở  điều kiện nhiệt đới ẩm 
của Castagnol 1942, Fridland 1958­1964, Duchaufour 1968...đã ghi nhận, về sau Ngô 
Văn Phụ (1970­1979) đều cho rằng mùn ở đất Việt Nam rất quan trong việc tạo độ 
phì nhiêu đất (Đỗ  Ánh và ctv, 2000). Viện nghiên cứu lúa quốc tế  cho rằng hàm  
lượng chất hữu cơ tối thích cho đất lúa nước là 4%. Nếu giảm 1% chất hữu cơ thì  
lân bị giữ chặt trong đất tăng 50mg/100g đất (Đỗ Ánh và ctv, 2000). 
      Theo Thái Công Tụng (1971), sự ảnh hưởng của chất hữu cơ đến tính chất đất 
đai.
­

Ảnh hưởng của màu sắc đất đai: nâu đến đen


­

Ảnh hưởng đến tính chất hóa học của đất như: khả năng giữ  nước, độ  dẻo  
dính.

­

Ảnh hưởng đến khả  năng trao đổi base như: làm cho đất đai hấp thụ  được 
nhiều chất base hơn, 30 ­ 90% ngoại hấp là do chất hữu cơ.

­

Cung cấp và tăng độ hữu dụng của chất dinh dưỡng.

là đất có khả  năng bảo quản cao dinh dưỡng cây trồng. Nếu đất chứa Al chiếm  
60% CEC thì gây độc cho cây trồng. Đất bạc màu có CEC thấp thì CEC trở  thành  
yếu tố hạn chế (Đỗ Ánh và ctv, 2000). Theo Nguyễn Vy (2003), dung tích hấp phụ 
trong các loại đất Việt Nam trong khoảng 5 ­ 30 meq/100g đất. Nhìn chung giá trị 
dung tích hấp phụ  càng cao thì đất càng phì nhiêu. Tuy nhiên độ  phì nhiêu của đất 
còn   phụ   thuộc   vào  thành  phần   và   tỷ   lệ   các   cation   trong   dung  tích  hấp  phụ   đó 
(Nguyễn Vy, 2003).
1.2.5 Độ dẫn điện  dung dịch đất (EC)
       Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng,  
giảm lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ  cấu trúc của đất (Tất Anh Thư,  
2006).
  EC được tính bằng đơn vị  mmhos trên centimet, chính mmhos cũng là trị  số 
nghịch đảo của đơn vị  đo sức cản điện (ohms). Trị  số  mhos/cm là một đơn vị  rất  
lớn, phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ  hơn trị  số  này rất nhiều (Trần Kim 
Tính, 2003).
 EC là độ mặn của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong 
dung dịch đất. Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất 
phèn sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho  
cây (Đỗ  Thị  Thanh Ren, 1999). Theo H. Eswaran (1985), cây lúa rất nhạy cảm với  
độ   mặn,   cây   lúa   sẽ   không   phát   triển   được   nếu   trên   đất   lúa   nước   có   EC   >   6 
mmhos/cm. EC = 4 – 6 mmhos/cm thì sẽ ảnh hưởng đến sự  phát triển của cây lúa,  
nếu EC 
Tuy vậy, Lai Vung là huyện nằm xa các thành phố, cảng, sân bay và các trung  
tâm kinh tế  lớn như  thành phố  Hồ  Chí Minh, Bà Rịa Vùng Tàu, Đồng Nai, Bình  
Dương…. Nên ít được sức lan toả của các khu vực này và khó khăn trong việc kêu 
gọi đầu tư lớn từ bên ngoài cho phát triển công nghiệp.
1.3.2 Đặc điểm địa chất với vấn đề  chất lượng đất đai và khả  năng sử dụng  
đất huyện Lai Vung.
Huyện Lai Vung có mẫu chất đơn giản tạo cho huyện một quỹ đất tương đối 
đồng nhất, Huyện có các mẫu chất sau:
+ Đặc điểm địa chất huyện Lai Vung mang cấu trúc chung của tỉnh Đồng Tháp 
cũng như vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là loại trầm tích trẻ sông biển.
+ Loại đất được hình thành từ trầm tích sông, phân bổ ven sông lớn hình thành 
đất phù sa chiếm hầu hết diện tích trong huyện.
Từ  các đặc điểm địa chất và địa hình đã tạo nên lớp vỏ  thổ  nhưỡng thể  hiện  
cấu trúc đất đai khác nhau giữa các vùng trong huyện. Từ đó bố  trí sử dụng đất sẽ 
khác nhau.
1.3.3 Đặc điểm địa hình với vấn đề  chất lượng đất đai và khả  năng sử  dụng  
đất.


Căn cứ bản đồ địa hình do viện Khảo sát Thiết Kế Thuỷ lợi Nam bộ lập năm 
1982 cho thấy xu thế địa hình toàn huyện tương đối bằng phẳng thuận lợi cho canh  
tác nông nghiệp.
Địa hình của huyện cao ở ven sông Tiền và phía sông Hậu, trũng lòng máng ở 
giữa, cao độ  phổ  biến (+0,9)­(+0,1), cao nhất (+2,0), thấp nhất (+0,8), bề mặt địa 
hình bị  chia cắt bởi hệ  thống kênh mương dầy đặc thuận lợi cho tưới, tiêu, song  
hạn chế trong việc cơ giới hoá nông nghiệp.
Đất đai vùng ven sông Hậu là các dải đất phù sa ven sông và ven các kênh rạch 
lớn lâu đời, hàng năm được phù sa bồi bắp, nguồn nước ngọt dồ  dào quanh năm 
thuận lợi cho việc phát triển lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn trái và  
nuôi trồng thuỷ sản.

lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô. Lượng mưa và tập trung kết hợp  
với nước nguồn đã xảy ra lũ lụt lớn trong vùng.
1.3.5. Thuỷ văn
Chịu tác động của 3 yếu tố: Lũ, mưa nội đồng và thuỷ  triều biển đông, hàng  
năm hình thành hai mùa rõ rệt: Mùa lũ trùng hợp với mùa mưa và mùa kiệt trùng với 
mùa khô.
+ Mùa kiệt nối tiếp sau mùa lũ từ  tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Chế độ thuỷ 
văn trong sông, kênh chịu tác động trực tiếp của thuỷ  triều biển Đông, mực nước  
giảm dần đến tháng 1, 2 trở đi bắt đầu thấp hơn mặt ruộng, từ một số khu vực phía 
Nam có thể lợi dụng thuỷ triều khai thác tưới tự chảy.
­ Biên độ các tháng mùa kiệt lớn, biên độ bình quân từ 0,4 – 1,7 m.
+ Mùa lũ : Lũ xuất hiện  ở  Đồng Tháp từ  tháng 7 đến tháng 11 vào loại sớm  
nhất  ở  khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó các huyện thị  phía Nam cũng 
như huyện Lai Vung, lũ về muộn hơn so với các huyện đầu nguồn ảnh hưởng đến 
sản xuất, sinh hoạt. Việc tăng cường và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi là biện pháp  
quan trọng để khắc phục khó khăn này.
1.3.6. Cảnh quan môi trường
Những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái của huyện là:
­ Đất phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất tự nhiên.
­ Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa.
­ Nguồn nước ngọt sông Tiền rất dồi dào, chất lượng tốt.


Về cảnh quan của Lai Vung mang đặc trưng cơ bản của vùng đồng bằng Nam 
Bộ, với sản xuất nông nghiệp là chủ  yếu. Địa hình bằng phẳng sông ngòi chằng 
chịt, dân cư sống ven theo đường giao thông và kênh rạch, nhà ở chủ yếu là nhà tre, 
lá, cơ  sở  hạ  tầng kém phát triển. Môi trường  ít bị  ô nhiễm bởi chất thải công 
nghiệp. Tuy nhiên, đất phèn chiếm khoảng 43,79% tổng diện tích đất, mấy năm 
gần đây lũ lụt xảy ra thường xuyên, dân cư  đổ  mọi chất thải ra kênh rạch, môi 
trường nước bị ô nhiễm. Nhân dân lại sử dụng nước mặt để sinh hoạt ăn uống nên 

các nghiên cứu cho thấy, trong năm hoạt động của rễ có các thời kỳ nhất định 
như:
Trước lúc mọc cành mùa xuân
Sau khi rụng trái đợt đầu đến trước lúc mọc cành mùa hè
Sau khi cành mùa thu đã phát triễn đầy đủ
Thường thì khi rễ hoạt động mạnh, rễ lông phát triễn, thân cành sẽ hoạt động  
chậm và ngược lại. sự  hoạt động của bộ  rễ  thường kéo dài cả  sau các đợt cành 
mọc rộ, do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triễn có tác dụng cung cấp  
dinh dưỡng cho cây trong giai đoạn rễ hoạt động.
Sự phân bố của bộ rễ tùy thuộc các yếu tố: tầng đất canh tác, hình thức nhân 
giống, loại giống, loại gốc ghép, mực thủy cấp và kỹ thuật trồng. các yếu tố này có 
ảnh hưởng làm rễ  mọc sâu hay cạn, xa hay gần. Nói chung, rễ  cam quýt thường  
mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt. do đó việc giữ cho lớp  
đất mặt tơi xốp êm mát có tác dụng giúp cây hút thu được dinh dưỡng tốt hơn.
Rễ mọc ra từ hột thường khỏe, mọc sâu, nếu đất thoát nước tốt và tơi xốp rễ 
có thể  mọc sâu trên 4 mét. Do đó  ở  ĐBSCL, trên những vùng đất thấp việc trồng  
cam quýt bằng hột hay gốc tháp thường bị   ảnh hưởng bởi mặt thủy cấp. Nếu  
không lên líp trồng cao và thiết kế bờ bao vườn để điều tiết nước, cây có thể bị suy  
yếu dần và chết do thối rễ. Trái lại rễ mọc ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn  
cạn hơn, ít bị tác hại bởi mặt thủy cấp.
b. Thân, cành:
cam quýt thuộc loại thân gỗ, dạng bụi hay bán bụi. Các cành chính thường  
mọc ra ở các vị trí trong khoảng 1 mét cách mặt đất. Cành có thể có gai, nhất là khi  
trồng bằng hột. tuy nhiên sau giai đoạn ra hoa trái, các gai thường ít phát triển.  Ở 
một vài loài, gai chỉ mọc ra từ những cành sinh trưởng mạnh.


Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một khoảng 
nhất định thì ngừng lại, các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn cành sẽ mọc  
ra, các cành thứ  cấp này cũng mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng và các 

cành mọc ra không nhiều. Do đó cần phải chú ý bồi dưỡng cho cây ở giai đoạn sau 
thu hoạch để giúp cây có đủ dinh dưỡng tạo nhiều cành mới.


CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. PHƯƠNG TIỆN 
2.1.1 Phương tiện nghiên cứu 
­ 20 mẫu đất được lấy tầng mặt canh tác (0­30cm)
­ Các dụng cụ lấy mẫu đất: khoan, ring, bao nilong, ….
­ Dụng cụ  xử  lý mẫu: hệ  thống sấy mẫu, hệ  thống rây, hệ  thống  ống hút  
Robinson…
­ Phần mềm hỗ trợ: Word, Excel, chương trình thống kê ANOVA,….
2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 
Nghiên cứu Đánh giá tính vật lý – hóa học trên vùng đất trồng cam quýt  ở 
huyện Lai Vung – Đồng Tháp. Đề  tài được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 
đến ngày 01 tháng 01 năm 2010.
2.1.3. Địa điểm phân tích mẫu
Khoa Quản lý đất đai, trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Các mẫu đất được lấy ở tầng mặt canh tác (0­30cm) từ những vườn trồng cam,  
quýt điển hình tại huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Mẫu đất được làm khô không 
khí, nghiền và qua rây theo yêu cầu của mỗi chỉ tiêu khác nhau.
2.2.1. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vật lý
2.2.1.1. Tính bền cơ học đất
Tính bền của đất được phân tích theo phương pháp rây khô và rây ướt của Đại 
học Gent, Bỉ (Verplancke, 2002). Hai nghiệm thức tác động ẩm độ khác nhau trước  
khi rây ướt được thực hiện:
Phá vỡ tập hợp đất bằng cách không làm ẩm: tập hợp đất được chuyển từ 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status