BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
----------
---------- TRẦN THỊ PHƯỢNG ðÁNH GIÁ ðẶC TÍNH SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÁC GIỐNG HOA PHƯỢNG LÊ NHẬP NỘI VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA ETHREL ðẾN SỰ RA HOA CỦA GIỐNG Guzmania cherry
TRỒNG CHẬU, TẠI GIA LÂM – HÀ NỘILUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : TRỒNG TRỌT
Mã số : 60.62.01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. HOÀNG MINH TẤN
HÀ NỘI - 2010
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện ñề tài nghiên cứu, tôi luôn
nhận ñược sự quan tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp ñỡ tận tình của các
thày cô, các ñồng nghiệp, bạn bè và gia ñình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớii
GS.TS. Hoàng Minh Tấn ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi thực hiện ñề tài
và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến Ban lãnh ñạo Viện Nghiên cứu
Rau quả ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ cho tôi ñược tham gia khoá ñào tạo này
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh ñạo Bộ môn Hoa cây cảnh - Viện
Nghiên cứu Rau quả, các thày cô giáo trong Bộ môn Sinh lý thực vật- Khoa
Nông học- Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội và các ñồng nghiệp ñã tạo
ñiều kiện, hướng ñẫn, giũp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu ñể
hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này , tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia ñình, bạn bè ñã
ñộng viên giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 08 tháng 09 năm 2010
Tác giả Trần Thị Phượng
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
iii
MỤC LỤC
3.3. Nội dung nghiên cứu 30
3.4 Phương pháp nghiên cứu: 30
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 ðánh giá ñặc tính sinh trưởng phát triển của các giống Phượng
Lê nhập nội 35
4.1.1 Khả năng sinh trưởng và ñặc ñiểm hình thái của các giống hoa
Phượng Lê nhập nội 35
4.1.2 Khả năng ra hoa và ñặc ñiểm hoa của các giống hoa Phượng Lê 42
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
iv
4.1.3 Sâu bệnh hại trên các giống hoa Phượng Lê 46
4.1.4 Hiệu qủa kinh tế của các giống hoa Phượng Lê 47
4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của xử lý ethrel ñến ra hoa của giống
Guzmalia cherry (PL1). 49
4.2.1 Ảnh hưởng của nồng ñộ ethrel ñến tỷ lệ và thời gian ra hoa của
PL1. 49
4.2.2. Ảnh hưởng của thời vụ xử lý ethrel ñến sự ra hoa của PL1 53
4.9: Hiệu qủa kinh tế của các giống hoa Phượng Lê 47
4.10: Ảnh hưởng của nồng ñộ xử lý ethrel ñến tỷ lệ và thời gian ra hoa
của PL1 50
4.11: Ảnh hưởng của nồng ñộ xử lý ethrel ñến chất lượng hoa của PL1 53
4.12: Ảnh hưởng của thời vụ xử lý ethrel ñến tỷ lệ và thời gian ra hoa
của PL1 54
4.13: Ảnh hưởng của thời vụ xử lý ethrel tới ñộng thái tăng trưởng
chiều cao hoa của PL1 57
4.14: Ảnh hưởng của thời vụ xử lý ethrel ñến chất lượng hoa của PL1 58
4.15: Ảnh hưởng của thời ñiểm xử lý ñến tỷ lệ và thời gian ra hoa PL1 60
4.16: Ảnh hưởng của thời ñiểm xử lý ethrel ñến chất lượng hoa của PL1 61
4.17: Ảnh hưởng của tần xuất xử lý ñến tỷ lệ và thời gian ra hoa của PL1 62
4.18: Ảnh hưởng của tần xuất xử lý ethrel ñến chất lượng hoa của PL1 63 Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
vi
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
4.1. Ảnh hưởng của nồng ñộ ethrel ñến tỷ lệ ra hoa của PL1 50
4.2. Ảnh hưởng của nồng ñộ ethrel ñến ñộ bền hoa của PL1 53
biết ñến như một loại hoa chậu với nhiều màu sắc khác nhau. Ở Việt Nam từ
trước ñến nay, việc sử dụng Phượng Lê chủ yếu là nhập cây ñã có sẵn hoa.
Tuy nhiên, hoa Phượng lê có nhược ñiểm là dễ bị dập hoa và lá trong quá
trình vận chuyển ñi xa, nếu ñược trồng và sử dụng tại chỗ giá trị sẽ ñược tăng
lên rất nhiều.
ðể góp phần phát triển sản xuất hoa chậu ở Việt Nam trên cơ sở kéo
dài thời gian sử dụng và tăng giá trị thẩm mỹ, chúng tôi tiến hành ñề tài:
“ðánh giá ñặc tính sinh trưởng và phát triển của các giống hoa
Phượng Lê nhập nội và ảnh hưởng của ethrel ñến sự ra hoa của giống
Guzmania cherry trồng chậu, tại Gia Lâm – Hà Nội”
1.2. Mục ñích của ñề tài
Trên cơ sở ñánh giá ñặc tính sinh trưởng, phát triển của một số giống
hoa Phượng Lê nhập nội ñể giới thiệu một số giống có hiệu quả kinh tế cao
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
2
cho miền Bắc Việt Nam - ñồng thời xác ñịnh biện pháp ñiều khiển ra hoa của
hoa Phượng Lê vào dịp Tết Nguyên ðán bằng xử lý ethrel.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ cung cấp các tư liệu mới, có giá trị
về ñặc ñiểm sinh trưởng phát triển của cây hoa Phượng Lê trong ñiều kiện
trồng tại Gia Lâm, Hà Nội và về ảnh hưởng của ethrel ñến sự ra hoa và chất
lượng hoa của giống hoa này.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và sản xuất hoa Phượng
Lê ở miền Bắc Việt Nam.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Giới thiệu một số giống hoa Phượng Lê có giá trị cho người sản xuất ở
các tỉnh miền Bắc Việt Nam
vùng có nhiệt ñộ trên nhiệt ñộ ñóng băng (Bộ môn Hoa cây cảnh – Viện
Nghiên cứu Rau quả, 2009) [2].
2.1.2 Lịch sử phát triển, nguồn gốc và phân loại của Phượng Lê.
2.1.2.1 Lịch sử phát triển, nguồn gốc của Phượng Lê.
Loài Phượng Lê ñược ghi vào lịch sử cách ñây khoảng 500 năm khi
Columbus ñưa cây dứa ăn quả (Ananas comosus (L) Merr) vào Tây Ban Nha
sau khi quay lại từ chuyến du lịch dài ngày bằng ñường biển của ông ñến thế
giới mới vào năm 1493. Trên chuyến ñi ñó, ông ñã tìm thấy cây dứa ñược
trồng trọt bởi những người da ñỏ Caribe ở Tây Ấn. Loài cây ăn quả nhiệt ñới
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
4
này ñược trồng ở Ấn ðộ và các nước thuộc thế giới cũ trong vòng 50 năm (Bộ
môn Hoa cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả, 2009) [2].
Một thời gian sau, các thực vật thuộc Phượng Lê khác ñược ñưa vào
trồng trọt, loài Guazmania lingulata ñược ñem tới Châu Âu vào năm 1776,
sau ñó là loài Aechmea fasciata vào năm 1828 và loài Vriesea slendens vào
năm 1840 (Bộ môn Hoa cây cảnh – Viện Nghiên cứu Rau quả, 2009) [2].
Thực vật thuộc họ Bromeliaceae (cây dứa) có mặt ở Việt Nam cách ñây
hơn 100 năm (theo Lan, 1928 và Nguyễn Công Huân, 1939). Riêng dứa
“Tây” ñược người Pháp ñưa ñến trồng ñầu tiên ở Trại Canh nông Thanh Ba
vào năm 1913, sau ñó ñược trồng rộng ra ở các Trại Phú Hộ, Tuyên Quang,
Âu Lâu và ðào Giã (Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải 1996) [3]. Giống dứa
Cayen không gai ñược trồng ñầu tiên ở Sơn Tây vào năm 1939, từ ñó phát
triển dần ra các vùng khác. Thực ra, cây dứa có thể ñã có mặt ở Việt nam sớm
hơn nữa; trong một tài liệu của giáo sĩ Borri người Ý viết năm 1633 xuất bản
ở Rome, ở phần nói về các sinh vật của miền Nam ñã có mô tả chi tiết về cây
dứa (Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải 1996) [3].
Vài chục năm trở lại ñây các loài thực vật thuộc Phượng Lê ñã ñược sử
- Neoregelia có lá bắc màu ñỏ, hoa có hình hoa hồng khi vẫn còn trong
cụm hoa.
- Nidularium có cụm hoa màu vàng.
Hiện nay Phượng Lê có rất nhiều giống với nhiều màu sắc rất khác
nhau, như màu cam (Bromelia alta, B.flemingii, B.humilis, B.scarlatina và
B.serra) hoặc màu ñỏ (B. alosdes, B. goyazensis và B. hieronimii), màu vàng
(B. chrysantha, B. geoldiana, B. palmiri) và hoa màu ñỏ tía (B. horstii, B.
karatas)... (Bộ Nông nghiệp và PTNT 2008 – 2010) [1]
2.1.3 Một số ñặc ñiểm thực vật học của cây Phượng Lê
2.1.3.1 Thân
Thân cây Phượng Lê thường có dạng hình chuỳ ñặc biệt, dài 2,5-3,5cm
ở gốc và 3,5-6,5cm dưới mô phân sinh tận cùng. Các lóng rất ngắn, ñộ dài
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
6
không quá 10cm. Dọc theo thân cây phát sinh các rễ phụ, quấn quanh thân
hoặc ñâm vào ñất.
2.1.3.2 Lá
Tất cả các cây Phượng Lê ñược tạo bởi sự sắp xếp các lá theo ñường
xoắn ốc, ñôi khi ñược gọi là theo hình hoa hồng; lá non ở giữa, lá già ở ngoài
cùng, thứ tự xếp theo kiểu phân bố là 5/13 (phải ñi 5 ñường xoắn ốc mới gặp
lại 2 mầm trên cùng một ñường dọc và cứ theo 2 mầm ñó sẽ ñếm ñược 13
mầm) (Burg, S.P; Burg, E.A 1966) [12].
ðộ lệch giữa các lá kế tiếp khác nhau giữa các loài, với một số ít loài
có các lá tách rời nhau 180 ñộ. ðiều này dẫn tới cây này sinh trưởng trong
hình dáng bẹt với các lá xếp thẳng hàng trong một mặt phẳng.
Hình dạng lá thay ñổi tuỳ theo vị trí của chúng trên cây tức là theo tuổi.
Trừ những lá còn non, lá cây Phượng Lê có dạng hình máng ñặc biệt nên càng
cứng càng giúp cây hứng mưa, kể cả sương vào gốc, biểu bì thường gồm một
biệt lắm mới thấy rễ ở lớp sâu 60cm hoặc hơn.
Do các rễ phụ phát sinh trong mô có nhiều mạch ngăn cách trung trụ
với vỏ (ñiển hình cho lớp ñơn tử diệp) và rễ thứ cấp là những rễ nhánh bên
của các rễ trên.
Một số trường hợp như loài Epiphytic, rễ của cây trở nên vững chắc
hơn khi sinh trưởng do hình thành các móc khỏe như dây sắt giúp chúng gắn
vào cây chủ. Mặc dù các cây dứa dại này thường ñược gọi là ‘Parasistor’ (các
cây ký sinh) ở những nước nổi tiếng của Tây Ban Nha, nhưng những cây này
không lấy thức ăn từ cây chủ mà chỉ sử dụng cây chủ ñể làm chỗ dựa.
2.1.3.4 Hoa
Bình thường, mô phân sinh tận cùng ñược phân chia và hình thành lá,
nhưng khi mô phân sinh tận cùng sau thời kỳ ngắn co rút, nó mở rộng ra và
phân hoá hình thành hoa tự. Mô phân sinh ñạt chiều rộng lớn nhất khi cuống
mới ñược vài milimét và bắt ñầu hình thành dẫy mắt ñầu tiên, sau ñó teo dần
lại. Sau 12 ngày xử lý dung dịch acethylene có thể nhìn thấy bằng mắt thường
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
8
hình phác tạo của hoa tự trên một lát cắt ngang ñầu ngọn (có thể tính tỷ lệ cây
xử lý có kết quả từ lúc này).
Ngoại trừ một số loài, trụ hoa của cây Phượng Lê ñược hình thành từ
trung tâm của vùng xoắn. Trụ hoa có thể ñược kéo dài với những bông hoa
nằm cách xa thân cây. Trụ hoa có thể tạo thành một hoa ñơn hoặc nhiều hoa
riêng biệt và có thể có các lá có màu sắc ñẹp giống như những phần phụ ñược
gọi là các lá bao trụ hoa. Chúng có tác dụng thu hút các côn trùng thụ phấn và
hấp dẫn những người yêu thích chơi hoa Phượng Lê.
Có một số rất ít thuộc loài Phượng Lê chỉ ra hoa một lần - từ khi cây
ngừng ra lá và ra hoa, nó sẽ không ra lá nữa. Tuy nhiên, chúng sẽ tạo ra các
cây con ñược gọi là các chồi hay các nhánh ñẻ. Những cây con này sẽ lấy
dưỡng từ không khí rất hiệu quả, vì vậy chúng có tên gọi là cây khí sinh[2].
Phượng Lê thích hợp trồng cảnh trong vườn nhà. Mầu sắc hoa và lá rực
rỡ hầu như trong cả vụ. Hoa có thể duy trì trong 3 - 4 tháng. Trung bình một
cây Phượng Lê có 40 lá và uốn cong ở ngọn, một số loài có răng cưa ở mép
lá. Phượng Lê có thể trồng ñơn trong chậu hoặc trồng theo hàng, thường thì
ñược trồng ở mép ñường hoặc trở thành ñiểm hấp dẫn ở giữa vườn. Chúng
ñược nhân giống bằng hạt hoặc nhân vô tính (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn 2008-2010) [1].
2.1.4.2. Giá thể trồng Phượng Lê
Lựa chọn các giá thể trồng Phượng Lê rất quan trọng, giá thể cần có
các hạt thô có tác dụng thoát nước và các hạt mịn (không bụi) có tác dụng duy
trì ñộ ẩm, phân phối nước và giữ chất dinh dưỡng. Nói chung, tỷ lệ giữa chất
thô và chất mịn tương ứng theo tỷ lệ 60-70% hạt thô và 30-40% hạt mịn. Các
hạt thô ñược lấy từ các vật liệu như than bùn thô, vỏ cây, sơ dừa; Các hạt mịn
có thể là than bùn mục hoặc ñá chân chu.
Tóm lại, các chất nền cần phải bao gồm các thành phần sau: chất rắn
chiếm 50%, nước chiếm 25%và không khí chiếm 25% [16]. Giá thể trồng
Phượng Lê yêu cầu thông khí, thoát nước tốt và tơi xốp; pH từ 5,5 - 6,5; ổn ñịnh
về tính chất vật lý và hóa học, có kết cấu ñịnh hình thô, giá thành rẻ và dễ kiếm.
Giá thể tốt nhất là than bùn ñể trồng trong nhà kính; nếu trồng ngoài trời không
nên dùng than bùn (Zhang Xule, Lin xia, Zhang Qingliang Feb.2007) [41]
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
10
Ngoài giá thể dùng trong chậu, các hệ thống thoát nước của chậu cũng
rất quan trọng. Nước không ñược tồn ñọng lại trong chậu trong một thời gian
quá lâu. Các chậu ñược sử dụng trồng hoa Phượng Lê thường có kích thước
từ 9-15 cm. Chậu có kích thước 9cm ñược sử dụng ñối với các cây nhỏ có
thời gian sinh trưởng ngắn và ra hoa sớm. Các chậu 15cm phù hợp cho những
ngọn cây, thường phải thông gió 1giờ/1 lần/1 phút (Shi Lanrong 2005) [35].
2.1.4.4 Phân bón cho Phượng Lê
Phượng Lê có thể sử dụng ñược phân bón phức hợp, phân ñược trộn
với giá thể hoặc có thể sử dụng một hợp chất phân bón Dosatron. Hiện có rất
nhiều loại phân bón có thể sử dụng cho Phượng lê.
Tuy nhiên cần thận trọng với việc sử dụng phân có chứa các nguyên tố
phốt phát, bo, kẽm và ñồng. Nếu nồng ñộ cao quá sẽ làm cho cây chậm phát
triển, dễ bị chết. Vì vậy, cần lưu ý một số thuốc trừ sâu có chứa ñồng và kẽm.
Khi sử dụng giá thể than bùn cần chú ý tới lượng phân bón, cần ñảm
bảo giá thể không chứa quá nhiều dolokal (nhỏ hơn 2-3 kg/m
3
); pH giá thể
thích hợp cho trồng hoa Phượng Lê khoảng 5,5 và EC là 0,5 mS/cm, sau khi
bón phân nồng ñộ EC nằm trong khoảng 0,8-1 mS/cm là thích hợp nhất.
Phượng Lê yêu cầu khí CO
2
không lớn nên thông thường không cần bổ sung
khíCO
2
(CultivationGuidelinesBromeliad, />loads/manual%20Bromelia%20ENG.pdf) [16].
2.1.4.5 Ánh sáng ñối với Phượng Lê
Ánh sáng là yếu tố quan trọng trong việc sinh trưởng phát triển của cây.
Cường ñộ ánh sáng quá mạnh sẽ làm thân lá biến ñổi (thành màu ñỏ) và lá có
thể bị cháy. Ngược lại nếu cường ñộ ánh sáng không ñủ sẽ dẫn ñến cây phát
triển không ñồng ñều, sinh trưởng kém.
Với ngày nắng, cường ñộ ánh sáng ñạt ngưỡng 1.400watt/m
2
, yêu cầu
che giảm tỷ lệ 80% ánh sáng. Việc ñiều khiển ánh sáng có thể sử dụng bằng
lưới che. Nhìn chung, cường ñộ ánh sáng thích hợp cho cây sinh trưởng và
C và cao
hơn 35
0
C ñều không có lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của Phượng Lê.
Nhiệt ñộ thích hợp nên duy trì ở ngưỡng nhiệt ñộ trung bình 18-20
0
C
(CultivationGuidelinesBromeliad, />manual%20Bromelia%20ENG.pdf) [16].
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
13
2.1.4.7 Sâu và bệnh hại Phượng Lê
Sâu bệnh hại Phượng Lê thường rất ít, chủ yếu thường gặp một số sâu
bệnh hại sau (Chen Changming, Luo Zhihua, Shang Wei 2008) [13]:
- Bệnh hại: bệnh thối nõn, bệnh thối rễ, bệnh thán thư.
- Sâu hại chủ yếu gồm: nhện ñỏ, bọ trĩ, rệp muội.
2.2 Sự phân hóa mầm hoa của cây Phượng Lê
2.2.1 Khái niệm về sinh lý phân hóa hoa.
Ra hoa là một quá trình tổng hợp có bản chất rất phức tạp và ñược ñiều
khiển bởi nhiều yếu tố và ñã ñược nghiên cứu khá sâu, từ các khía cạnh sinh
lý sinh thái ñến sinh lý sinh học (Bernier, G.; Kinet, J.-M.; Sachs, R.M 1981a)
[5], Bernier, G.; (Kinet, J.-M.; Sachs, R.M 1981b) [6], (Bernier, G.;
Havelange, A.; Houssa, C.; Petitjean, A.; Lejeune, P. 1993) [9], (Kinet, J.-M.;
SACHS, R.M.; BERNIER, G 1981) [23], (Kinet, J.-M 1993) [24].
Hầu hết cây trồng ñều phản ứng với các tín hiệu môi trường ñiều khiển
sự chuyển sang trạng thái ra hoa, vì tất cả các cá thể của các loài hiện có là ra
hoa ñồng loạt ñể tạo ñiều kiện cho lai tạo thành công, cũng vì chúng phải hoàn
thành giai ñoạn sinh sản sinh thực khi các ñiều kiện bên ngoài thuận lợi
(Bernier, G.; Havelange, A.; Houssa, C.; Petitjean, A.; Lejeune, P. 1993) [9].
ñược ñề cập: khái niệm "florigen/antiflorigen"; mô hình ñiều khiển bởi nhiều
yếu tố; giả thuyết về sự lệch dinh dưỡng, và các tính hiệu ñiện (Bernier, 1988)
thì 2 giả thuyết ñầu tiên ñược chấp nhận nhiều hơn cả mặc dù không có một
bằng chứng xác ñịnh nào chứng minh cả (Bernier,G 1988) [7]. Tuy nhiên,
Bernier et al. (1993) ñã ñưa ra những kết quả ủng hộ thuyết ñiều khiển bởi
nhiều yếu tố [9]. Theo O'Neil (1992) [34], bất kỳ giải thích nào về các cơ chế
ñiều khiển ra hoa bởi quang chu kỳ ñều công nhận sự có mặt của không
những chất kích thích mà cả các chất kìm hãm và ñi ñến thống nhất với mô
hình ñiều khiển "evocation" của Bernier. Theo các tác giả này, các yếu tố này
là không giống nhau ở các loài khác nhau và có thể ñược tổng hợp ở lá, rễ,
ngọn và các bộ phận khác của cây. Nếu chỉ một yếu tố không có mặt thì quá
trình ñó sẽ không thể tiếp tục, nhưng nhìn chung tất cả chúng ñều có mặt
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
15
trong ñiều kiện cảm ứng. Một vài minh chứng cho thấy ra hoa ở mô phân sinh
có thể bao gồm nhiều giai ñoạn, mỗi một giai ñoạn ñược kích hoạt một cách
riêng rẽ (Bernierr, G 1992) [8]. Tuy nhiên nhiều câu hỏi về vấn ñề này vẫn
cần ñược làm rõ.
2.2.2 Quá trình ra hoa của cây Phượng Lê
Sự phân hóa hoa của cây có thể ñược kích thích nhân tạo bởi các chất
hóa học, các chất này cũng liên quan ñến sự ra hoa tự nhiên. Quá trình ra hoa
sẽ ñược hiểu kỹ hơn nếu biết ñược chu kỳ sống của nó. Chu kỳ này khoảng
12-18 tháng tùy thuộc vào ñiều kiện môi trường và quản lý cây trồng. Chu kỳ
này ñược chia làm 3 thời kỳ
- Thời kỳ sinh dưỡng là giai ñoạn từ khi trồng ñến khi phân hóa hoa
- Thời kỳ sinh thực là giai ñoạn từ phân hóa hoa ñến chín (thu hoạch)
- Thời kỳ nhân giống bắt ñầu ở thời kỳ sinh thực
Trong các thời kì này, thời kỳ sinh thực là ít linh ñộng hơn, không kể
G.; Havelange, A.; Houssa, C.; Petitjean, A.; Lejeune, P. 1993) [9].
Cây Phượng Lê ñể tự nhiên có thể hình thành hoa trong ñiều kiện phát
triển ñạt mức ñộ thành thục. Trong ñiều kiện bình thường cây Phượng Lê ñạt
ñộ thành thục là từ 2-3 năm, số lá > 30 lá. Tuy nhiên trong ñiều kiện bình
thường cây cũng không dễ ra hoa, có ra cũng không ñồng ñều (Shi Lanrong
2005) [35].
Tỷ lệ ra hoa tự nhiên ở Phượng Lê phụ thuộc vào từng giống, từng
vùng khí hậu khác nhau, do vậy mà rất khó có thể dự ñoán trước ñược tỷ lệ nở
hoa. Tuy nhiên có thể khẳng ñịnh, hàng năm cây Phượng Lê ñều ra hoa (Xin
Caiyun, Li Zhiying 2009) [38].
2.2.2.2 ðiều khiển ra hoa Phượng Lê nhân tạo
Cách ñây vào khoảng 100 năm trước, người ta ñã chỉ ra tầm quan trọng
của các hợp chất hydratcacbon ñến sự hình thành hoa. Nó thực chất là các hợp
chất hóa học tồn tại trong cơ thể thực vật, ñồng thời là các hợp chất có thể
sinh ra năng lượng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
...........
17
ðầu thế kỷ trước, vào năm 1904 nhà khoa học người ðức G.Klebs ñã
ñưa ra lý luận về tỷ lệ hợp chất nitơ với ñường trong cơ thể thực vật quyết
ñịnh việc phân hóa mầm hóa. Khi tỷ lệ C/N chiếm ưu thế thì việc nở hoa sẽ
ñạt tốt hơn. Khi tỷ lệ N/C chiếm ưu thế thì sinh trưởng sinh dưỡng sẽ có ưu
thế hơn.
Hai nhà khoa học Sachs và Klackett, sau nhiều năm nghiên cứu ñã ñưa
học thuyết các hợp chất sinh dưỡng trong việc kích thích hình thành hoa, cho
rằng: năng lượng cho việc sinh trưởng phát dục yêu cầu dinh dưỡng cao hơn
giai ñoạn sinh trưởng sinh dưỡng. Trong ñiều kiện ra hoa, bất luận dù là
nguyên nhân nào thì ñều thông qua mối quan hệ cải biến và thay ñổi nội tại
(nguyên liệu) trong cơ thể thực vật và nhấn mạnh vai trò của hợp chất
Người ta tin rằng các chất ñiều hoà sinh trưởng thực vật hoạt ñộng bằng
cách kích thích làm tăng hàm lượng ethylene trong cây, chính xác hơn là ở
vùng mô phân sinh (Burg, S.P.; Burg, E.A 1966) [12], nơi sự hấp thu của sản
phẩm này nhanh hơn. Ở ñó do hoạt ñộng tế bào mạnh mẽ hơn nên phần ngọn
cây mẫn cảm hơn với ảnh hưởng của auxin nội sinh. Trước khi có thể tiếp tục
hoạt ñộng này, ethylene cần ñược cây tổng hợp hoặc bổ sung từ bên ngoài
(Yang, S.F.; Hoffman, N.E 1984) [39].
Liên quan ñến các hormon khác, người ta cho rằng ethylene tự liên kết
với một thụ quan (receptor), nhờ ñó tạo ta một phức hợp hoạt tính kích hoạt
hàng loạt các phản ứng, bao gồm cả các cải biến trong biểu hiện gen, dẫn ñến
sự ña dạng về ảnh hưởng sinh lý. Nhưng theo Yang [39], phản ứng của cây
Bromeliaceae với ethylene có thể ñược cải biến bằng cách ñiều khiển hoặc
ñiều hoà hàm lượng của sản phẩm này trong mô tế bào thông qua:
* Bổ sung hoặc loại bỏ nó;
* Kích thích hoặc kìm hãm sự sinh tổng hợp ethylene trong mô tế bào;
* ðiều chỉnh nồng ñộ các thụ quan;
* Thao tác ñiều khiển sự biểu hiện của gen phụ thuộc nó.
Về mặt hoá sinh học, sản xuất ethylene ñược ñiều chỉnh bởi nồng ñộ 1-
aminociclopropane-1-carboxilic acid (ACC), bởi hoạt tính của enzyme sinh
tổng hợp ethylene ACC oxidase (Yang, S.F.; Hoffman, N.E 1984) [39],
(Yang, S.F.; Hoffman, N.E 1984) (Kende, H 1989) [21], (Kende, H 1993)
[22] và bởi ACC synthase, nhân tố chủ yếu hạn chế sản xuất ACC (Turnbull,
C.G.N.; Nissen, R.J.; Sinclair, E.R.; Anderson, K.L.; Shorter, A.J 1993) [36]
Các bước sinh tổng hợp ethylene như sau (Kende, H 1989) [21]: