B
Ộ GIÁO DỤC V
À ĐÀO TẠO
TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐÀO QUANG NGH
Ị
NGHIÊN C
ỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TR
ƯỞNG PHÁT TRIỂN,
ẢNH H
ƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG
VÀ BI
ỆN PHÁP KHOANH VỎ ĐẾN KHẢ NĂNG RA HOA,
Đ
ẬU QUẢ VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG VẢI CHÍN SỚM
BÌNH KHÊ T
ẠI UÔNG BÍ, QUẢNG NINH
LUẬN ÁN TIẾN S
Ĩ NÔNG NGHI
ỆP
HÀ NỘI, 2012
B
Ộ GIÁO DỤC V
À ĐÀO TẠO
TRƯ
ỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
ĐÀO QUANG NGH
Ị
NGHIÊN C
ỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TR
ưởng phát triển, ảnh hưởng
c
ủa chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa, đậu
qu
ả v
à năng suất của giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí, Quảng Ninh
”,
chuyên ngành Khoa học cây trồng, mã số 62.62.01.10 là công trình nghiên cứu của
riêng tôi.
Tôi xin cam đoan các s
ố liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực
và chưa s
ử dụng để bảo vệ một học vị n
ào hoặc chưa từng được ai công bố trong bất
k
ỳ một công trình nghiên c
ứu n
ào.
Lu
ận án có sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn t
ư liệu khác nhau, các
thông tin đư
ợc trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà N
ội, ngày
20 tháng 11 năm 2012
Tác gi
ả Luận án
Đào Quang Ngh
ị
ã Phương Nam, Thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đ
ể b
ày tỏ lòng biết ơn, tôi xin trân trọng cảm Ban Giám hiệu Trường Đ
ại
h
ọc Nông nghiệp H
à Nội, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả đã cho tôi cơ hội
tham gia khoá đào t
ạo Tiến sĩ 2008
- 2011.
Tôi xin trân tr
ọng cảm
ơn GS.TS. Hoàng Minh Tấn đã hướng dẫn tôi tận tình
trong su
ốt quá tr
ình thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.
Tôi xin trân tr
ọng cảm
ơn các thầy, cô giáo công tác tại Bộ môn Sinh lý thực
v
ật, Khoa Nông học, Viện Đào tạo Sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ và
t
ạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin trân tr
ọng cảm ơn lãnh đạo và
t
ập thể xã viên Hợp tác xã Dịch vụ
Nông nghi
ệp Phong Thái đã tạo điều kiện về địa bàn triển khai và giúp đỡ tôi trong
ục lục
iii
Danh m
ục các chữ viết tắt
vi
Danh m
ục các bảng
vii
Danh m
ục h
ình
x
M
Ở ĐẦU
1
1 Tính c
ấp thiết
1
2 M
ục đích, yêu cầu của đề tài
2
3 Ý ngh
ĩa khoa học v
à thực tiễn của đề tài
3
4 Nh
ững đóng góp mới của luận
án 4
5 Gi
ới hạn nghi
1.3.3 Nghiên c
ứu về dinh d
ưỡng cho cây vải
24
1.3.4 Nghiên c
ứu về C/N của cây vải
26
1.3.5 Nghiên c
ứ
u s
ử dụng chất điều h
òa sinh trưởng cho vải
27
1.3.6 Nghiên cứu về các biện pháp tác động cơ giới 36
1.4 Nh
ững kết luận qua phân
tích t
ổng quan
39
iv
Chương 2 V
ẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
41
2.1 Vật liệu nghi
ên c
ứu
41
2.1.1 Giống vải 41
2.1.2 Hoá ch
ất thí nghiệm
s
ớm
Bình Khê. 44
2.3 Phương pháp nghiên c
ứu
44
2.3.1 B
ố trí thí nghiệm v
à phương pháp bố trí thí nghiệm
44
2.3.2 Các ch
ỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định
50
2.3.3 X
ử lý số liệu
53
Chương 3 K
ẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
54
3.1 Đi
ểm sinh tr
ưởng, phát triển của giống vải
Bình Khê 54
3.1.1 Một số yếu tố khí hậu năm 2008 - 2010 tại Uông Bí, Quảng Ninh 54
3.1.2 Đ
ặc điểm ra lộc v
à khả năng sinh trưởng các đợt lộc
56
3.1.3 Đ
ặc điểm sinh trưởng bộ khung tá
đ
ậu quả, sinh tr
ưởng quả và hạt giống vải chín sớm Bình Khê.
85
3.3 Ảnh hư
ởng của biện pháp khoanh vỏ đến quá trình ra hoa, đậu quả và
năng su
ất giống vải chín sớm B
ình Khê
112
3.3.1 Ảnh h
ưởng c
ủa biện pháp khoanh vỏ đến sự biến đổi tỷ lệ
cácbon/nitơ (C/N) trong lá 112
3.3.2 Ảnh h
ưởng của biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa vải
Bình Khê 114
3.3.3 Ảnh h
ưởng của biện pháp khoanh vỏ đến các yếu tố cấu thành
năng su
ất và năng suất
117
3.4 Ảnh hưởng của việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp đến
kh
ả năn
g ra hoa, đ
ậu quả và năng suất vải chín sớm bình khê
119
K
ẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
DANH M
ỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1 M
ột số đặc tr
ưng về khí hậu, thời tiết tại Uông Bí
- Qu
ảng Ninh năm
2008 - 2010 (S
ố liệu trung bình 3 năm)
54
3.2 Th
ời gian phát sinh các đợt lộc qua 3 năm
(2008 - 2010) 56
3.3 Đặc điểm sinh trưởng thân cành của giống vải Bình Khê 58
3.4 Đ
ặc điểm ra hoa v
à tỷ lệ đậu quả của vải Bình Khê (Vụ quả năm 2
008
- 2009) 59
3.5 Đ
ộng thái nở hoa của vải B
ình Khê (số liệu năm 2009)
60
3.6 Ảnh h
ưởng của thời gian ra đợt lộc cuối tới khả
năng ra hoa c
ủa giống
ư
ởng của thời điểm xử lý thiourea đến khả năng ra hoa của vải
Bình Khê (S
ố liệu năm 2008
- 2009) 80
3.14 Ảnh h
ưởng của thiourea đến thời gian bật mầm hoa của vải được xử lý
paclobutrazol v
ụ tr
ư
ớc (Số liệu năm 2010 - 2011) 81
3.15 Ảnh h
ưởng của nồng độ ethrel đến tình trạng sinh trưởng và khả năng
ra hoa c
ủa vải B
ình Khê (Vụ quả 2009
- 2010) 83
viii
3.16 Ảnh h
ưởng của nồng độ ethrel đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng su
ất (Vụ quả 2009
- 2010) 84
3.17 Ảnh hưởng tương tác giữa yếu tố nồng độ và thời điểm xử lý GA
3
đến
đ
ộng thái giữ quả (Số liệu năm 2009)
86
3.18 Ảnh h
ệu
năm 2009) 103
3.24 Ảnh h
ư
ởng của 3,5,6 TPA đến khối lượng hạt của vải Bình Khê (Số
li
ệu năm 2009)
104
3.25 T
ỷ lệ nảy mầm của hạ
t trong thí nghi
ệm xử lý 3,5,6 TPA (Số liệu
năm 2009) 105
3.26 Ảnh h
ư
ởng của 3,5,6 TPA phối hợp GA
3
đ
ến khả năng giữ quả (vụ
quả 2009 - 2010) 106
3.27 Ảnh h
ư
ởng của 3,5,6 TPA phối hợp GA
3
đ
ến sinh tr
ưởng của quả (Số
li
ệu năm 2010)
108
ình Khê (Vụ quả 2009
- 2010) 115
3.32 Ảnh h
ưởng của biện pháp khoanh vỏ đến số lượng hoa và thành phần
các lo
ại hoa (Số liệu năm 2010)
116
3.33 Ảnh h
ưởng của biện pháp khoanh vỏ và thời điểm khoanh đến các yếu
t
ố cấu th
ành năng suất và năng suất (Số liệu năm 2010)
117
3.34 Ảnh h
ưởng của biện pháp tác động đế
n kh
ả năng ra hoa vải Bình
Khê (V
ụ
qu
ả 2010
- 2011) 120
3.35 Ảnh h
ưởng của các biện pháp tác động đến một số chỉ tiêu về quả và
năng su
ất vải Bình Khê (Vụ quả 2010
- 2011) 121
3.36 Hi
ệu quả kinh tế đạt được khi phối hợp một số biện pháp tác động
(Tính cho 1 ha tương đương v
68
3.8 Tương quan gi
ữa tỷ lệ C/N của lộc hè với tỷ lệ C/N giai đoạn phân
hóa hoa 69
3.9 Tươngquan gi
ữa tỷ lệ C/N giai đoạn phân hóa mầm hoa với năng
su
ất
69
3.10 Tương quan gi
ữa tỷ lệ C/N thời kỳ rụng quả sinh lý đến nă
ng su
ất
70
3.11 Ảnh hưởng của GA
3
đến động thái giữ quả của vải Bình Khê 87
3.12 Ảnh h
ưởng của α
- NAA đ
ến năng suất vải Bình Kh
ê 93
3.13 Ảnh h
ư
ởng của 2,4,5 TP đến khả năng giữ quả qua các giai đoạn
96
3.14 Ảnh h
ưởng của 2,4,5 TP đến năng suất vải Bình K
hê 98
3.15 Ảnh h
và giá tr
ị kinh tế cao, thuộc vào nhóm cây ăn quả chủ đạo của miền Bắc Việt Nam.
S
ản lượng vải được xếp sau dứa, chuối, cam, quýt, xoài Về mặt chất lượng, quả
v
ải được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ dưỡng, đượ
c nhi
ều
người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Ngoài sử dụng ăn tươi, quả vải còn
đư
ợc chế biến như sấy khô, làm đồ hộp, chế biến nước giải khát, được thị trường
trong nư
ớc v
à thế giới ưa thích.
Theo th
ống kê của Cục Trồng trọt
(B
ộ Nông nghiệp và P
hát tri
ển nông thôn
)
[3] và Trung tâm Phân vùng Kinh t
ế Nông nghiệp
(Vi
ện Quy hoạch v
à Thiết kế Nông
nghi
ệp
, 2011) [38], năm 2008, di
ện tích vải ở nước ta khoảng 86.900 ha (chiếm 11,1%
:
35.800 ha, H
ải Dương
: 13.000 ha, Qu
ảng Ninh
: 3.700 ha, Thái Nguyên: 4.400 ha và
V
ĩnh Phúc
: 2.400 ha (di
ện tích
đ
ã
được làm tròn số
). Gi
ống trồng tại các v
ùng chủ
l
ực là vải thiều Thanh H
à có th
ời vụ thu hoạch chủ yếu trong tháng 6 đã gây khó khăn
trong vi
ệc bố trí lao động, thu hoạch, vận chuyển, bảo quản chế biến v
à tiêu thụ, làm
gi
ảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải. Chính vì vậy, một số giống vải chín sớm
đang mang l
ại hiệu quả cao
cho ngư
ời sản xuất do sự chênh lêch khá lớn về giá bán.
Nh
ch
ất l
ượng
v
ải chín sớm thường không ổn định do các yếu tố kỹ thuật chưa được đáp ứng.
V
ề mặt chất l
ượng, hầu hết các giống vải chín sớm thường có vị ngọt, hơi
chua, cùi m
ỏng, hạt to hơn hạt vải thiều Thanh Hà, đôi khi mã quả kém hấp dẫn.
Tương t
ự, về năn
g su
ất vải chín sớm th
ường không ổn định và phụ thuộc rất lớn vào
đi
ều kiện thời tiết. Có những năm, do th
ay đ
ổi của điều kiện thời tiết, đ
ặc biệt những
năm mùa đông đ
ến muộn, sự phát sinh lộc đông của vải sớm rất mạnh, cản trở sự
phân hóa m
ầm hoa làm giảm
năng su
ất, chất lượng quả, thậm chí gây mất mùa.
Trong các gi
ống vải chín sớm hiện nay, giống vải chín sớm Bình Khê là
gi
ống nổi trội về các đặc tính: chín sớm hơn vải Thiều Thanh Hà từ 20
năng c
ủa
gi
ống.
Do v
ậy, song song với quá tr
ình sản xuất, việc
“Nghiên c
ứu đặc
đi
ểm sinh trưởng
phát tri
ển,
ảnh h
ưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện
pháp khoanh v
ỏ
đ
ến
s
ự
ra hoa, đ
ậu
qu
ả
và năng su
ất
của gi
ống vải chín sớm
Bình Khê t
nh
ằm
nâng cao năng su
ất, chất l
ượng
và hi
ệu quả
s
ản xuất
gi
ống vải
chín s
ớm B
ình
khê tại Uông Bí, Quảng Ninh và các vùng lân cận.
2.2 Yêu c
ầu
Đánh giá đư
ợc khả năng sinh trưởng, phát triển của giống vải chín sớm Bình
Khê t
ại Uông Bí, Quảng ninh. Phân tích các
ưu điểm cũng như nhưng tồn tại của
gi
ống, từ đó đưa ra những hướng nghiên cứu phát huy ưu điểm và khắc phục những
t
ồn tại của g
i
ống nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất v
à làm tăng hiệu quả cho
ngư
3
thích h
ợp l
àm
tăng năng su
ất, phẩm chất quả vải chín sớm Bình Khê.
- Xác đ
ịnh đ
ược công thức khoanh vỏ phù hợp cho quá trình tích luỹ, ra hoa,
đ
ậu quả và nă
ng su
ất giống vải Bình Khê.
3 Ý NGH
ĨA KHOA H
ỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Ý ngh
ĩa khoa học
- K
ết quả nghi
ên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học có giá
tr
ị về giống vải chín sớm Bình Khê, ảnh hưởng của biện pháp hoá học cũng như
bi
ện pháp t
ác đ
ộng c
ơ giới đến quá trình ra hoa, hình thành quả, năng suất và phẩm
ch
ất của giống vải này.
đ
ến
khả năng ra hoa,
đ
ậu
quả của cây; t
ỷ lệ hoa cái
, hoa lư
ỡng tính
cũng như t
ỷ lệ đậu quả
thấp; hạt to
dẫn đ
ế
n tỷ lệ phần ăn đư
ợc
không cao.
- Sử dụng các chất ức chế sinh tr
ưởng (retardant) như paclobutrzol (
PBZ),
thiourea, ethrel đ
ã
đi
ều chỉnh
đư
ợc
khả năng ra hoa và gi
ữ quả của vải chín sớm
Bình Khê. Do v
ậy
ượng nghiên cứu
là gi
ống vải chín sớm B
ình Khê ở độ tuổi từ 1
- 10
năm, đư
ợc nhân giống bằng phương pháp chiết cành.
5.2 Đ
ịa điểm nghi
ên cứu
Các thí nghi
ệm được thực hiện tại Uô
ng Bí, Qu
ảng Ninh.
5.3 Th
ời gian nghi
ên cứu
Th
ời gian thực hiện đề tài: từ năm 2008 năm 2011.
5
Chương 1
T
ỔNG QUAN T
ÀI LIỆU
1.1 NGUỒN GỐC, LỊCH SỬ VÀ PHÂN LOẠI CỦA CÂY VẢI
1.1.1 Ngu
ồn gốc, lịch sử cây vải
Cây v
ải có tên khoa học là
Litchi chinenis Sonn., thu
Đài hoa có nhi
ều lông m
àu nâu (điển hình là loài “Vải lông nâu” hoặc “Hemaoli”),
chín s
ớm hơn vải trồng.
Trung Qu
ốc l
à nước có lịch sử
tr
ồng vải lâu nhất thế giới. Qua các t
ài liệu cổ,
nh
ững hạt được khai quật từ những ngôi mộ cổ và những mẫu vật sống hàng nghìn
năm tu
ổi đ
ã cho thấy lịch sử trồng vải đã có vào năm 200 trước Công nguyên ở Hải
Nam, Qu
ảng Đông và Quảng Tây (
d
ẫn theo
Wu, 1998) [121].
Tên “Litchi” ho
ặc “Li
- zhi” trong phiên âm La tinh ngh
ĩa l
à “rời ra khỏi
cành” (to be detached from the branch) l
ần đầu tiên xuất hiện trong một văn bản vào
năm 200 trư
ớc Công nguyên. Về sau người ta thấy cái tên này còn có nghĩa là “một
ế sau thu
ho
ạch và sử dụng quả ở Trung Quốc thời cổ
. Nh
ững người trồng vải đã biết chọn
h
ạt từ những cây quả to, c
ùi dày và đặc biệt đã quan tâm tuyển chọn những cây có
qu
ả hạt lép hoặc dạng lưỡi gà (chicken
-tongue) đ
ể đưa về trồng. Guo Yigong t
rong
cu
ốn “Guangzhi” của ông xuất bản v
ào trước năm 1800 đã ghi chép về 1 trong 4
cây tr
ồng được mô tả là có hạt teo lại (shrivelled
-seeded).
Ở thế kỷ thứ 10 trong
cu
ốn sách “Vải ở Quảng Đông” biên soạn bởi Zheng Xiong đã ghi nhận 22 giống.
C
ũng theo tài
li
ệu của Xuming Huang
và cs (2005) [123], Cai Xiang đ
ã mô
t
ả 32 giống ở Phúc Kiến, mặc dù một tài liệu sau này đã chỉ ra rằng hầu hết các
ến thế kỷ thứ 4 sau Công nguy
ên
, phương pháp chi
ết c
ành mới được sử
dụng và đến thế kỷ 16, phương pháp ghép lần đầu tiên mới được ghi nhận
(Anonymous, 1978) [48]. S
ử dụng
phương pháp ghép và chiết cành đ
ối với vải
đư
ợc mô tả chi tiết lần đầu tiên trong sách của Xu Bo năm 1579 và Deng Qingcai
năm 1628. L
ịch sử trồng vải có từ lâu đời nh
ư vậy, song mãi đến cuối thế kỷ 17
vi
ệc trồng vải ở Nam Trung Quốc và có thể ở Bắc Việt Nam mới được khẳng định
(Tindall, 1994) [119].
Theo Galan Sauco và Menini (1989) [61], v
ải di thực sang Myanmar, phần
biên gi
ới
v
ới tỉnh Vân Nam Trung Quốc vào cuối thế kỷ 17. Tới Ấn Độ năm 1798
7
(Singh và Babita, 2002), sau này t
ới Nepal (Budathuki, 2002)
[55] và Bangladesh
(Abu Baker Siddiqui, 2002) [47]. V
ải đ
ần và phát âm khác
.
V
ải nhập nội từ Trung Quốc vào Philippine
trư
ớc
năm 1916 nhưng không có
qu
ả ở vùng vĩ độ thấp (Sotto, 2002
) [105]. Cho tới năm 1931, v
ẫn không có ghi
nh
ận nào về vải
ra hoa
ở Philippine. Vải được đưa sang Australia cùng với những
người di trú Trung Quốc vào khoảng năm 1854 (dẫn theo Menzel và cs, 1988) [79] và
nh
ập nội vào Nam Phi sớm hơn 50 năm
(d
ẫn theo Milne, 1999
) [86]. Tuy nhiên, theo
Oosthuizen (1991) [94], nh
ững cây vải đầu ti
ên được nhập nội vào Nam Phi từ
Mauritius vào năm 1875, nh
ập nội vào Madagascar sau năm 1802. Từ Natal, những
cây v
ải đ
ã lan sang Transvaal Lowveld và những vùng thích hợp không có sương muối
khác. V
b
ằng 28, 30 hoặc 32 (Menzel, 1992
[82], 2000 [83]). Theo Leenhouts (1978) [75]
chi vải gồm 3 loài phụ: Litchi chinensis ssp. chinensis; L. chinensis ssp.
philippinensis; và L. chinensis ssp. javensis. Loài ph
ụ
Philippinensis là loài b
ản địa
c
ủa Philippine, còn loài phụ
javensis có ngu
ồn gốc ở bán đảo Mala
ixia và Indonexia
(Menzel, 1991 [81]; Sotto, 2002 [105]). Không có loài nào trong hai loài này đư
ợc
tr
ồng thương mại. Loài được trồng thương mại là loài
chinensis có ngu
ồn gốc ở
Nam Trung Qu
ốc.
Ở Việt Nam trong họ Bồ h
òn đến nay biết được 25 chi, 91 loài phân bố khắp
c
ả nước. Trong họ này có nhiều loài cây ăn quả như vải, nhãn và chôm chôm. Cây
v
ải là cây gỗ nhỡ, lá kép lông chim, hoa nhỏ và lưỡng tính, khô
ng có cánh hoa, v
ỏ
qu
80% di
ện tích. Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tích
khoảng hơn 25.000 ha. Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc có hai
nhóm chính: nhóm khi qu
ả chín, thịt quả th
ường nhão và ướt còn nhóm kia khi chín
thì cùi ráo và khô. Phân theo v
ụ thu hoạch thì có 3 nhóm:
Nhóm chín s
ớm v
à cực sớm: giống Sanyuehong, Feizixiao, Edanli, Ziliangxi,
các gi
ống này được trồng
t
ập trung chủ yếu ở tỉnh H
ải Nam. Gi
ống Sanyuehong là
gi
ống chín sớm nhất v
ào cuối tháng 4.
Nhóm chín chính v
ụ: Khoảng 90% sản xuất vải ở Trung Quốc là giống
chính v
ụ, gồm các giống: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồng
9
t
ập trung ở tỉnh Qu
ảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Zhanjiang, Maoming v
à
Yangjiang. Th
“Mauritius” vì có ngu
ồn gốc từ hòn đảo này) chiếm 75% sản xuấ
t v
ải ở Nam
Phi; ti
ếp đến là giống McLean
-Red, chi
ếm 16% (Milne, 1999
[86]; Ghosh, 2001
[65]).
Ấn Độ có khoảng 51 giống, trong đó giống được trồng nhiều là: Shahi,
Bombai, Rose Scented, China, Deshi, Calcutia và Mazaffarpur (Chen và Huang,
2000) [58].
Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan l
à gi
ống Hong Huay, chiếm tới 70%
di
ện tích, sau đó là giống Kom, chiếm 11%, còn lại là các giống khác như O
-Hia,
Hoài Chi (Huazhi) và Chakrapad (Subhadrabandhu và Yapwattanaphun, 2001,
[115]). Gi
ống vải của Thái Lan được c
hia làm hai nhóm: nhóm yêu c
ầu ít chặt
ch
ẽ với nhiệt độ lạnh trong m
ùa đông được trồng ở khu vực trung tâm của Thái
Lan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh chặt chẽ hơn trong mùa đông được trồng ở các
t
ỉnh phía Bắc (Anupunt, 2003
Các gi
ống vải trồng ở Australia chủ yếu là: Kwai May Pi
nk, ti
ếp đến là
Feizixiao, Shuidong và Huaizhi. Gi
ống địa ph
ương là Salathiel. Sản xuất vải ở
Australia tập trung chủ yếu ở bang Queensland: có tới 50% diện tích trồng ở
phía B
ắc, 40% ở phía Nam Queensland. Chỉ 10% diện tích vải đ
ược trồng ở Bắc
New South Wales (Menzel, 2002) [84].
Israel c
ũng trồng vải từ năm 1930 với những giống: Mauritius nhập nội từ
Nam Phi, gi
ống Floridian nhập nội từ Mỹ và Bengali nhập nội từ Ấn Độ (Goren
và cs, 2001) [67]. Tuy nhiên đ
ến năm 1970, trồng vải ở Israel mới trở th
ành
ngành s
ản xuất thương mại, với các giống chủ yếu là Mauritius (chiếm 80%) và
Floridian (20%) (Gazit, 2001) [62].
1.1.2.2 M
ột số giống vải chính ở Việt Nam
Ở Việt Nam, các giống vải đ
ược phân theo thời vụ thu hoạch như sau:
Các gi
ống vải chín sớm
: các gi
ống
nhiên
ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân
l
ập nguồn gen của các giống
chín mu
ộn
chưa có do v
ậy các
gi
ống chín muộn hiện nay vẫn có thể l
à các giống
chín chính v
ụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn. Các
gi
ống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh H
à, chín muộn
L
ụ
c Ng
ạn (Trần Thế Tục, 2004
[42]).
Năm 1991 nư
ớc ta nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc là các giống:
11
Heiye (H
ắc diệp), Fezixiao
(Phi T
ử Tiếu)
, Guiwei (Qu
ế vị), Nuomici (Nhu mễ tư)
tri
ển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao và ổn định. Hiện nay, 5
gi
ống đã được công nhận giống quốc gia là thiều Thanh Hà, Hùng Long, Bình
Khê, Yên Hưng, Yên Phú. Trong đó, tr
ừ giống thiều Thanh Hà ra, 4 giống còn
lại đều là giống chín sớm.
Hi
ện nay hơn 95% diện tích trồng vải của n
ước ta trồng giống vải thiều
Thanh Hà, là gi
ống chính vụ
[43], [44], chín r
ất tập trung, gây trở ngại cho chế
bi
ến và tiêu thụ. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế của vườn quả, cần
có m
ột c
ơ cấu giống vải hợp lý với thời gian thu hoạch khác nhau. Trong đó,
gi
ống chín sớm được tập trung ưu tiên mở rộng diện tích do khả năng tiêu thụ và
giá bán cao (V
ũ Mạnh H
ải, 2005) [18].
1.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ VẢI TRÊN THẾ
GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1.2.1 Tình hình s
ản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình s
ản xuất, ti
ượng 81.000 tấn (Sethpakdee, 2002)
[99]; Đài Loan: 12.000 ha, s
ản l
ượng
108.000 t
ấn (Mitra, 2002)
[87]. M
ột số nước có diện tích và sản lượng vải đáng kể
như: Bangladesh có di
ện tích 4.800 ha, sản l
ượng 12.800 tấn; Madagaska: 3.000 ha
và 20.000 t
ấn; Nepal: 2.380 ha và 14.000 tấn; Nam Phi: 1.500 ha và 8.000 tấn;
Australia: 1.500 ha và 5.000 t
ấn; Florida (Mỹ): 240 ha v
à 1.000 tấn; Israel: 300 ha
và 2.000 t
ấn
(Menzel và cs, 2005) [85].
* Th
ị tr
ường ti
êu th
ụ
Hi
ện nay thị trường tiêu thụ chính của vải là Hồng Kông và Singapore, hai
nư
ớc này nhập khẩu từ 12.000 đến 15.000 tấn vải từ T
rung Qu
ốc và Đài Loan vào
i năm ch
ỉ khoảng gần 200 tấn
[106]. Vi
ệt Nam đến năm
2004 m
ới bắt đầu xuất khẩu vải tươi sang thị trường châu Âu với số lượng chỉ vài
ch
ục tấn. Tuy nhi
ên đây là một thị trường đầy tiềm năng nếu chúng ta biết tập
trung vào khâu chăm sóc, b
ảo quản, nâng cao
ch
ất lượng vải quả tươi thì hoàn
toàn có th
ể nâng cao đ
ược số lượng vải xuất khẩu sang các n
ước châu Âu.
Các th
ị trường mới như các nước Ả Rập Xê út, Saudi Arabia, Yemen,
Dubai hàng năm c
ũng nhập khẩu vài trăm tấn vải tươi. Tuy nhiên, so với tổng sản
13
lư
ợn
g, v
ải xuất khẩu vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Ngoại trừ Australia là nước xuất
kh
ẩu k
ho
ảng 25
ều ngày để vận chuyển đi xa
ho
ặc kéo dài thời gian cung cấp vải tươi là vấn đề có ý nghĩa kinh tế lớ
n. Sau thu
ho
ạch từ 2
- 3 ngày v
ỏ quả vải thường bị chuyển sang màu nâu làm giảm giá trị của
s
ản phẩm. Ở Australia, vải được xử lý bằng thuốc chống nấm Benlate ở 50
o
C, sau
đó b
ảo quản ở nhiệt độ 5
o
C.
Ở Trung Quốc, vải được bảo quản trong túi P.E buộc
kín để ở nhiệt độ 2 - 4
o
C. Xử lý sau thu hoạch bằng khí SO
2
là phương pháp bảo
qu
ản vải được lâu nhất hiện nay
(Jahiel và cs, 2005 [72]; Shi và Wang, 2000 [100]).
Nghiên c
ứu của Lemmer
và cs (2002) [76] cho th
ấy: khả năng tồn d
ư của
ảo quản của Xu
và cs (2006) [124] cho 3 gi
ống
v
ải
Huaizhi (Hoài Chi), Nuomici (Nhu M
ễ Tư
) và Guiwei (Qu
ế Vị
)
ở nhiệt độ 4
o
C
cho th
ấy: có sự quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ v
à khả năng ô xy hóa cũng như sự
chuy
ển hóa giữa các enzym trong t
ế b
ào của
th
ịt quả.
Thay đ
ổi nhiệt độ từ kho bảo
qu
ản ra môi trường bên ngoài một cách từ từ sẽ giảm được sự mất màu của quả vải.