Nghiên cứu đặc điểm sinh học và sức sản xuất của gà đa cựa nuôi tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ - Pdf 14


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THẾ HOÀN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ ĐA CỰA NUÔI TẠI
XÃ XUÂN SƠN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05

: TS. TRƢƠNG HỮU DŨNG


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
các thầy giáo, cô giáo Khoa Chăn nuôi, khoa sau Đại học - Trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình học tập và nghiên cứu.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
đến thầy hướng dẫn là TS. Trương Hữu Dũng, đã trực tiếp tận tình hướng dẫn
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
,
khích lệ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 2 năm 2014
Tác giả Luận văn Bùi Thế Hoàn Số hóa bởi trung tâm học liệu

iii

iv
2.3. Nội dung nghiên cứu 29
2.4. Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1. Phương pháp theo dõi đặc điểm sinh học gà Đa Cựa 29
2.4.2. Phương pháp theo dõi sinh trưởng của gà Đa Cựa 30
2.4.3. Phương pháp phân tích thành phần hóa học, chất lượng thịt 31
2.4.4. Phương pháp theo dõi sinh sản của gà Đa Cựa 33
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu 33
2.5.1. Các chỉ tiêu về đặc điểm sinh học 33
2.5.2. Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục 33
2.5.3. Chỉ tiêu về năng suất sinh sản 35
2.5.4. Chỉ tiêu sinh trưởng 36
2.5.5. Chỉ tiêu về khảo sát năng suất thịt 36
2.6. Phương pháp sử lý số liệu 37
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1. Cơ cấu và sự phân bố đàn gà Đa Cựa tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ38
3.1.1. Số lượng gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 38
3.1.2. Cơ cấu phân bố và qui mô đàn gà nuôi tại Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ40
3.2. Một số chỉ tiêu về đặc điểm sinh học của gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn-
Tân Sơn-Phú Thọ 43
3.2.1. Đặc điểm ngoại hình của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 43
3.2.2. Một số tập tính sinh hoạt của giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn-
Tân Sơn-Phú Thọ 49
3.3. Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục về tính và sinh sản của giống gà Đa
Cựa nuôi tại Xuân Sơn - Thanh Sơn - Phú Thọ 50
3.3.1. Một số chỉ tiêu về thành thục sinh dục 50
3.3.2 .Tỷ lệ đẻ và năng suất, chất lượng trứng của giống gà Đa Cựa nuôi tại
Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ 52

Số hóa bởi trung tâm học liệu

vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Số lượng gà Đa Cựa nuôi tại Xuân Sơn qua các năm 38
Bảng 3.2: Cơ cấu phân bố đàn gà nuôi tại xã Xuân Sơn 41
Bảng 3.3: Qui mô chăn nuôi gà Đa Cựa 42
Bảng 3.4: Nguồn gốc nhân đàn gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn 43
Bảng 3.5: Đặc điểm màu lông của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 44
Bảng 3.6. Kiểu mào của gà Đa Cựa 28 tuần tuổi 46
Bảng 3.7. Số cựa hai bên chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 48
Bảng 3.8. Màu da chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 49
Bảng 3.9: Tập tính sinh hoạt của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi 50
Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục sinh dục của gà Đa Cựa 51
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu về tỉ lệ đẻ và năng suất trứng 53
Bảng 3.12: Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của đàn gà thí nghiệm 55
Bảng 3.13. Sinh trưởng tích lũy của gà Đa Cựa 0 - 28 tuần tuổi (g) 58
Bảng 3.14: Khảo sát thành phần thân thịt của giống gà Đa Cựa ở các độ tuổi
khác nhau 62
Bảng 3.15: Phân tích một số thành phần hóa học của thịt ngực gà Đa Cựa ở 20
tuần tuổi (n=3) 64
Bảng 3.16: Độ pH của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi 65
Bảng 3.17: Tỷ lệ mất nước do bảo quản, chế biến vàđộ dai của thịt gà Đa Cựa
ở 20 tuần tuổi 67
Bảng 3.18: Màu sắc sau bảo quản 24h của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi 68

Số hóa bởi trung tâm học liệu

viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Gà Đa Cựa 1 ngày tuổi 44

thị hiếu đa dạng của con người.
Là người Việt Nam không ai không biết đến câu chuyện truyền thuyết
Vua Hùng kén rể (Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh), trong câu chuyện này có xuất
hiện một loài gia cầm được chọn làm lễ vật gả công chúa mà ai cũng nghĩ nó
chỉ có trong truyền thuyết, đó là con gà chín cựa. Ngày nay, ở vùng đất tổ Phú
Thọ xuất hiện giống gà lạ, từ khi nở ra gà đã có nhiều ngón chân, các ngón
chân này mọc thành từng chùm ở vị trí cổ chân, gần với vị trí cựa của các
giống gà địa phương khác. Gà có tên là gà Đa Cựa, được gọi theo cách gọi
của người dân địa phương.
Gà Đa Cựa là gà quý hiếm ngoài việc gắn liền với truyền thuyết, nó còn
gắn liền với đời sống của người dân tộc Dao, đã được phát hiện, thuần hóa và
nuôi tập trung ở xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ. Giống gà này
có đặc điểm ngoại hình rất đặc biệt là từ khi sinh ra chân gà đã mọc từng
chùm cựa, chất lượng thịt thơm ngon và được coi như một món quà quý về
mặt tâm linh.
Gà được nuôi với hình thức chăn thả tự nhiên, chủ yếu sống trên đồi,
tối mới về chuồng ngủ. Nguồn thức ăn chính là giun, dế, cỏ do gà bới tìm,
một phần là ngô, thóc và các sản phẩm phụ nông nghiệp khác. Đây là một

Số hóa bởi trung tâm học liệu

2
giống gà quý, có khả năng chống chịu với các loại bệnh cao, nhưng hiện nay
gà Đa Cựa có số lượng ít, phân tán, tỷ lệ nuôi sống thấp, thường bị lai tạp với
các giống gà khác và cũng chưa có nhiều nghiên cứu về giống gà này.
Để đóng góp cơ sở khoa học cho việc đánh giá một cách có hệ thống về
giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ và
cung cấp số liệu cơ sở để so sánh với các giống nội địa khác. Cũng như góp
phần nâng cao chất lượng, số lượng của giống gà này ở các địa phương trong
tỉnh, nhằm tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc

chỉ tiêu cho chọn lọc: thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, trên
cơ sở đồng nhất đó mà loang là không thuần, đã bị pha tạp. Màu sắc do một
số ít gen kiểm soát nên có thể sử dụng để phân tích di truyền dự đoán màu
của đời sau trong chọn lọc.
Hầu như không có tính trạng bên ngoài nào của vật nuôi được những
nhà chăn nuôi chú ý bằng sắc lông và đốm. Vì vậy, không lấy làm lạ khi
thấy sắc lông là một tính trạng của phẩm giống và đặc tính của phần lớn
phẩm giống đều có yêu cầu nhất định về sắc lông. Sắc tố da, lông của gà
được xác định bằng hai loại sắc tố là xantofin và melanin. Xantofin là sắc
tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn, nó chỉ nằm ở da những
con có sắc vàng ở da, mỏ và cổ chân đều đồng hợp thể theo gen mà alen
trội của nó (W) hạn chế sự tích luỹ cơ - xantofin trong máu và mỡ (Hutt).
Melanin có ở da và gốc lông, xuất hiện không phụ thuộc vào lứa tuổi.
Ở những con hoàn toàn có màu, da thường có melanin. Ngoài ra,
trong một vài trường hợp đặc biệt, chất này cũng có cả ở lớp da trong, da
ngoài. Ở những con đồng hợp thể hay nửa đồng hợp thể do gen lặn (id) liên
kết với giới tính, chất melanin không lan rộng được do lớp da trong hạn
chế. Nếu lớp da ngoài cũng có chất xantofin thì da có màu óng ánh thấy rõ

Số hóa bởi trung tâm học liệu

4
qua các tế bào Stratun corneum trong vắt của cẳng chân. Nếu cũng trong
lớp da ấy mà lại có xantofin nữa thì màu trở thành xanh. Ở các giống có
màu sắc đen, màu vàng có thể hoàn toàn do màu đen che lấp.
Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về
màu sắc lông thì phức tạp hơn. Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên
nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế
bào, thứ hai là số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh
sáng của các tế bào ấy (Hutt). Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu

Ở những nhóm động vật càng cao, càng tiến hóa, loại tập tính đó học
được càng nhiều, do đó chúng càng dễ thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh
sống. Ngoài ra, có thể kể loại tập tính thứ ba là tập tính hỗn hợp (mixed).
Sức sống và khả năng kháng bệnh là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng
trực tiếp tới cơ thể. Hiệu quả chăn nuôi bị chi phối bởi các yếu tố bên trong cơ
thể (di truyền) và môi trường ngoại cảnh (dinh dưỡng, chăm sóc, mùa vụ, dịch
tễ, chuồng trại ). Lê Viết Ly (1995)[19] cho biết, động vật thích nghi tốt thể
hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt,
sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp.
Sức sống được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng có thể chống
lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch
bệnh (Johanson, 1972) [13].
Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do tác động của các gen
nửa gây chết, nhưng chủ yếu là do tác động của môi trường (Brandsch and cs,
1978) [58]. Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền
nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở vùng ôn đới
(Trần Đình Miên và cs, 1994) [32].
Trần Thị Mai Phương, (2004) [26] cho biết, tỷ lệ nuôi sống của gà Ác
từ 0 - 8 tuần tuổi đạt 93,6 - 96,9%. Tỷ lệ nuôi sống của gà Ri từ 0 - 9 tuần
92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [42].

Số hóa bởi trung tâm học liệu

6
1.1.2. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh
hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm
1.1.2.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp
protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá
khả năng sinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân

phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc. Ông cho rằng ở
gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó phần tăng khối
lượng giảm dần theo tuổi. Theo Kislowsky (1930) trong tài liệu của Nguyễn
Ân, (1984)[1] đã khẳng định: Thời gian của các giai đoạn dài hay ngắn, số
lượng giai đoạn và sự đột biến trong sinh trưởng của từng giống, từng cá thể
có sự khác nhau. Sự sinh trưởng không đều còn thể hiện ở từng bộ phận cơ
quan (mô, xương, cơ), có bộ phận ở thời kỳ này phát triển nhanh, nhưng ở
thời kỳ khác lại phát triển chậm.
1.1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia cầm
Các tính trạng số lượng, trong đó tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ
thể gà, chịu ảnh rất lớn các tác động của môi trường E (Environment). Theo
Đặng Vũ Bình (2002)[2]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1995)[29] quan hệ giữa
kiểu hình P (Phenotype), kiểu gen G (Genotype) và môi trường E
(Environment) được biểu thị bằng công thức P = G + E; Đặng Hữu Lanh và cs,
(1999)[15]; Nguyễn Văn Thiện và cs, (1998)[31] cho rằng căn cứ vào mức
độ, tính chất ảnh hưởng lên cơ thể gia súc, gia cầm, môi trường E được chia
làm hai loại:
- Môi trường chung Eg (General environment) tác động thường xuyên
liên tục đến tất cả các cá thể trong quần thể.
- Môi trường riêng E
S
(Special environment) tác động đến một số cá thể
riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

8
Theo Lê Đình Lương và cs, (1994)[18] các giống gia súc, gia cầm đều
nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó
có các tính trạng số lượng. Đó chính là những đặc điểm di truyền của giống

Nguyễn Đức Hưng và cs (1997)[12] cũng khẳng định các giống gia cầm khác
nhau có năng suất khác nhau.
Qua đó ta thấy khối lượng cơ thể, tốc độ sinh trưởng của các dòng,
giống gia cầm chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố di truyền. Trong thực tế sản
xuất cũng như trong nghiên cứu, để xác định mức độ ảnh hưởng của phần di
truyền tới năng suất của gia súc, gia cầm người ta xác định hệ số di truyền của
tính trạng đối với quần thể gia cầm cụ thể để xây dựng chương trình công tác
giống phù hợp. Theo Nguyễn Ân (1983)[1] thì hệ số di truyền khối lượng cơ
thể 3 tháng tuổi là 0,26 -0,5; Cook and cs, (1956)[48] xác định hệ số di truyền
khối lượng cơ thể gà lúc 6 tuần tuổi là 0,5. Dẫn theo tài liệu của Chambers
(1990)[46] thì Sigel và Kiney đã tổng kết tương đối hoàn chỉnh hệ số di
truyền tốc độ sinh trưởng là 0,4 - 0,5.
Tóm lại ở các lứa tuổi khác nhau,các dòng gà khác nhau có hệ số di
truyền khác nhau và biến động trong khoảng 0,26 - 0,60. Ở các quần thể càng
được chọn lọc nhiều thì hệ số di truyền thấp và ngược lại.
b) Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Chamber (1990)[46] cho biết: “Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến
tốc độ sinh trưởng, đến sự phát triển của từng mô khác nhau và gây nên sự
biến đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác. Dinh
dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến sự di
truyền về sinh trưởng”.
Có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý sinh dưỡng đã chứng minh
để đạt được năng suất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

10
Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm đảm bảo các hoạt động duy trì cơ thể và
sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng). Năng lượng và protein là hai yếu tố

độ môi trường quá cao thì sẽ hạn chế việc sử dụng thức ăn, gà uống nhiều
nước, bài tiết phân lỏng, hạn chế khả năng sinh trưởng và gà dễ mắc các bệnh
đường tiêu hoá.
Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ là những tác động của nó liên quan
đến việc tiêu thụ thức ăn, ngoài ra còn làm tăng hoạt động sinh lý của hệ
tuần hoàn, hô hấp gây stress mạnh. Nhiệt độ thích hợp nhất cho gà là 15
0
C
đến 25
0
C. Những thay đổi nhiệt độ trên và dưới ngưỡng này đều có thể gây
stress và ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của gà.
Scoft and cs (1976)[56] cho biết trong khoảng 26
0
C đến 32
0
C khi nuôi gà
broiler, tiêu thụ thức ăn giảm 1,5g/1
0
C/1 gà và trong khoảng 32
0
C - 36
0
C tiêu
thụ thức ăn giảm 4,2g/1
0
C/1 gà.
+ Ảnh hưởng của độ ẩm không khí:
Ẩm độ cũng là một tác nhân ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển
của gia cầm. Trong mọi điều kiện của thời tiết, nếu ẩm độ không khí cao đều

những nước có khí hậu không thuận hoà. Khí hậu nước ta thuộc loại khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Trong quá trình chăn nuôi, rất nhiều tác nhân khí
hậu đã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ
không khí, ánh sáng cho nên ở nước ta, nhất là ở miền Bắc phải có
những biện pháp bảo vệ chuồng nuôi chu đáo. Những biện pháp như che
gió, thông thoáng, sưởi ấm nhằm tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu,
cũng như nuôi ở mật độ hợp lý, vận dụng một cách linh hoạt tuỳ thuộc
vào sự biến động của thời tiết là một việc làm cần thiết để triệt tiêu hoặc
làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường,
sẽ giúp chăn nuôi đạt kết quả cao.
Sự biến đổi của tiểu khí hậu trong chuồng nuôi về tính chất vật lý
(nhiệt độ, ẩm độ, gió, bụi, ánh sáng ) và tính chất hóa học (oxi, nitơ,
cacbonic, amoniac ) và vi sinh vật, khác xa so với không khí ngoài tự nhiên.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

13
Mật độ nuôi cũng là một vấn đề nhạy cảm, ảnh hưởng tới hiệu quả
và năng suất chăn nuôi gia cầm. Nuôi mật độ thưa lãng phí lao động, lãng
phí chuồng trại và hiệu quả sản xuất thấp. Nuôi ở mật độ cao không hợp
lý ảnh hưởng tới tiểu khí hậu chuồng nuôi. Ảnh hưởng của mật độ nuôi
gồm nhiều yếu tố:
+ Mật độ nuôi ảnh hưởng tới hàm lượng khí độc sinh ra trong chuồng
nuôi. Khí độc trong chuồng sinh ra từ phân bị phân huỷ, nước tiểu, nước
thải, thức ăn thừa tạo thành các khí NH
3
, CO
2
, H
2

chiều do trong một đơn vị thời gian nhất định. Khối lượng cơ thể ở tại một
thời điểm nào đó là chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả năng
sinh trưởng. Xác định được khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian khác
nhau như: 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng tích
luỹ. Đối với gà thịt, sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất
làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

14
Đối với gà đẻ trứng sinh trưởng tích luỹ ( đặc biệt giai đoạn hậu bị )
liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn đẻ trứng. Nếu
khối lượng cơ thể nhỏ thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn
thì tiêu tốn thức ăn tăng. Như vậy khối lượng cơ thể gà mái đẻ trứng có ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế.
Trần Long (1994)[16] đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các
dòng gà V
1
, V
3
, V
5
thuộc giống gà Hybro (HV 85), đường cong sinh trưởng
của 3 dòng gà có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và mái
cũng có sự khác nhau: Tốc độ sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà
trống và 6 - 7 tuần đối với gà mái.
Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể
tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát. Trong chăn nuôi
thường sử dụng chỉ tiêu (gram/con/ ngày hoặc gram/con/ tháng) để đánh giá
sinh trưởng tuyệt. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabon.

Ngoài ra tiêu tốn thức ăn của gia cầm còn phụ thuộc vào điều kiện khí
hậu, thời tiết, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và tình trạng sức khoẻ.
1.1.3. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm
1.1.3.1. Cơ sở khoa học của năng suất trứng
Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gia cầm nói chung và trứng gà nói
riêng là một tế bào sinh sản khổng lồ gồm lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.
Buồng trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các thành phần khác như
lòng trắng, màng vỏ và vỏ do ống trứng tạo nên. Nhiều công trình nghiên cứu
đã khẳng định ở gà mái, trong quá trình phát triển phôi 2 bên phải, trái của gà
mái đều có buồng trứng, nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến,
chỉ còn lại buồng trứng bên trái.
Số lượng tế bào trứng theo một số tác giả có khác nhau. Pearl and
Schoppe (1921) đếm được 1906 trứng bằng mắt thường và 12000 trứng
bằng kính hiển vi, Jull (1939 - 1948) thì cho rằng ở gà mái thời kỳ đẻ trứng
có thể đếm được 3600 trứng, trong khi đó Hutt (1978) đã đếm và cho biết

Số hóa bởi trung tâm học liệu

16
số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào. Còn Frege
(1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt đầu đẻ là 900 - 3500 ở gà mái, 1500 ở
vịt mái, nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế được chín và rụng (dẫn theo
Lê Thị Nga, 2004) [25].
1.1.3.2. Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt
của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó.
được thể hiện qua các chỉ tiêu về
năng suất trứng,
và ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của
chúng cũng rất khác nhau. Bởi vậy, các nhà nhà khoa học trên thế giới đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status