Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và sức sản xuất của dê dịa phương tại một số xã vùng cao huyện vị xuyên, tỉnh hà giang - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
_____________________

PHAN ANH TÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỨC
SẢN XUẤT CỦA DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ
VÙNG CAO HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2006


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
_____________________

PHAN ANH TÂN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ SỨC
SẢN XUẤT CỦA DÊ ĐỊA PHƯƠNG TẠI MỘT SỐ XÃ
VÙNG CAO HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành : CHĂN NUÔI ĐỘNG VẬT NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60 . 62 . 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới toàn thể gia đình và bạn
bè gần xa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, sự giúp đỡ về mọi mặt, động
viên tôi hoàn thành Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp này.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2006

Tác giả

Phan Anh Tân


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU

1

1. Đặt vấn đề

1

2. Mục đích của đề tài

2

Chương I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài


1.1.2.3. Khả năng cho thịt

10

1.1.3. Bản chất di truyền của các tính trạng năng suất ở động vật
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

10
12

1.2.1. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới

12

1.2.2. Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam

18

1.2.2.1. Tình hình chung

18

1.2.2.2 Một số đặc điểm của dê nội

20

1.2.3. Một số nghiên cứu về sức sản xuất của dê

22

Chương II : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

40

2.1. Đối tượng nghiên cứu

40

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

40

2.2.1. Thời gian nghiên cứu

40

2.2.2. Địa điểm nghiên cứu

40

2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

40

2.3.1. Nội dung nghiên cứu

40

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu


3.1.1. Biến động về số lượng đàn dê qua 5 năm (2001-2005)

47

3.1.2. Tình hình chăn nuôi dê và quy mô đàn dê

48

3.1.3. Cơ cấu đàn dê tại huyện Vị Xuyên

49

3.1.3.1. Cơ cấu đàn dê theo tính biệt

50

3.1.3.2. Cơ cấu đàn dê cái sinh sản theo tuổi

51

3.2. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của dê

52

3.2.1. Đặc điểm ngoại hình và tập tính sinh hoạt của dê

52

3.2.1.1. Đặc điểm ngoại hình của dê


57
61

3.4.1. Tỷ lệ nuôi sống và các yếu tố ảnh hưởng

61

3.4.2. Khả năng sinh trưởng của dê

63

3.4.2.1. Sinh trưởng tích lũy

64

3.4.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối

66

3.4.2.3. Sinh trưởng tương đối

67

3.4.3. Kích thước một số chiều đo và chỉ số cấu tạo thể hình dê

69

3.4.3.1. Kích thước một số chiều đo

69


80

1.Tiếng Việt

80

2.Tiếng nước ngoài

83

PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG

Nội dung

Trang

Bảng 3.1

Biến động số lượng đàn dê qua 5 năm (2001 - 2005)

47

Bảng 3.2

Tình hình nuôi dê và quy mô đàn dê ở các địa phương


56

Bảng 3.8

Một số chỉ tiêu về khả năng sinh sản của đàn dê

58

Bảng 3.9

Tỷ lệ nuôi sống của dê con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi

61

Bảng 3.10 Khối lượng cơ thể dê ở các độ tuổi

64

Bảng 3.11 Sinh trưởng tuyệt đối của dê qua các giai đoạn

66

Bảng 3.12 Sinh trưởng tương đối của dê qua các tháng tuổi (%)

68

Bảng 3.13 Kích thước một số chiều đo chính của dê

70


65

Đồ thị 3.2

Sinh trưởng tương đối của dê qua các giai đoạn

69


MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghiên cứu giống vật nuôi có nghĩa là xem quá trình hình thành của giống
ấy, xem xét sự sinh trưởng và phát triển của giống trong những điều kiện địa lý,
kinh tế nhất định. Để thực hiện tốt công tác giống, trước tiên phải chú ý công tác
nghiên cứu cơ bản, lấy đó làm công việc trọng tâm và công việc này được coi là
giai đoạn mở đầu của công tác giống trong một khu vực, một địa phương nào đó.
Vì vậy phải nghiên cứu kỹ về các ưu điểm, nhược điểm về ngoại hình thể chất,
sinh trưởng phát dục, sức sản xuất, khả năng sinh sản, sinh trưởng (cho thịt, sữa,
lông, da ...) của giống để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa
tiềm năng vốn có của giống đó.
Dê là một loại vật nuôi truyền thống ở nước ta và được phân bố khá rộng rãi,
đặc biệt ở các vùng trung du và miền núi phía Bắc đàn dê chiếm một tỷ lệ khá lớn
và được chăn nuôi theo phương thức quảng canh, tận dụng nguồn thức ăn thiên
nhiên là chủ yếu. Con dê đã tự khẳng định được những ưu thế của nó và được thể
hiện qua các mặt sau :
- Tính thích nghi cao với các điều kiện tự nhiên và phù hợp với phương thức
chăn thả quảng canh.
- Có tính bầy đàn cao và có khả năng tự tìm kiếm thức ăn trên những địa
hình núi đá hiểm trở nên ít tốn công chăn dắt và có khả năng sử dụng được nhiều

sách, các giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần thúc đẩy nghề chăn nuôi dê địa
phương thuộc khu vực miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng.


CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1. Nguồn gốc và vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật
1.1.1.1. Nguồn gốc của dê
Dê là một trong những loài động vật được thuần hoá từ lâu đời và được con
người nuôi cách đây hơn hai vạn năm, trong đó các nước Trung Đông, Ấn Độ nuôi
từ rất sớm. Các tác giả Trần Kiên, Nguyễn Hữu Phước, Nguyễn Chí Trung, 1995
[14] cho rằng dê được thuần hoá từ 3 trung tâm :
- Trung tâm cổ nhất là trung tâm Cận Á - Ấn Độ, giống dê ở đây giống với
dê sừng xoắn (Capra Falconeri) hiện còn sống ở miền tây Hymalaya, Kasơmia,
Afganistan, loài dê này có sừng xoắn hướng lên trên.
- Trung tâm Cận Á có giống dê với nguồn gốc từ loài dê rừng (Capra
aegagrus), hiện còn sống ở miền Tây Ấn Độ, Cáp Ca, Tiểu Á và quần đảo Hy Lạp.
Loài này có sừng dẹp xuôi xuống 2 bên vai và cong về phía sau.
- Trung tâm Đông Nam Á là trung tâm mới nhất, ở đây việc nuôi dê bắt đầu
từ thời kỳ đồ đồng. Nơi đây là nguồn gốc các loài dê núi (Capra Prisca). Sừng của
loài dê này cong về phía sau, đi sang hai bên và hơi soắn một chút. Giống dê này
sau khi được thuần hoá thì được nuôi phổ biến ở Châu Âu, Châu Á và Châu Phi.
Theo một số tài liệu khác, dê nhà đã xuất hiện khoảng 6 - 7 nghìn năm trước
Công nguyên. Khó xác định chính xác thời điểm mà con người thuần dưỡng loài
dê và chỉ có thể cho rằng sự thuần dưỡng dê đã xảy ra ở vùng Tây Á hoặc quanh
vùng này. Phần lớn những dê rừng này có bộ lông đen, có lông dài ở khuỷu chân,
từ đây dê được phổ biến sang các vùng khác từ thời xa xưa. Việc nghiên cứu

: Caprarovance

- Chủng (Genus) : Capra
- Loài (Species)

: Caprahircus

Tuy con dê được xếp cùng trong họ phụ dê cừu nhưng nó khác hẳn cừu
không chỉ ở ngoại hình, mà dê còn khác về tập tính hoạt động như thích leo trèo
núi đá, ăn được rất nhiều loài lá cây mà trâu bò không sử dụng được.
Việc chọn lọc định hướng về giống, năng suất sản phẩm đã được nhiều nhà
khoa học nghiên cứu trong những thế kỷ qua và đã tạo ra nhiều giống dê, có năng
suất và chất lượng cao như các giống dê chuyên dụng sản xuất sữa, kiêm dụng sữathịt ... đã phục vụ được phần nào nhu cầu đời sống của con người.
1.1.1.3. Đặc điểm sinh vật học của dê
Đặc điểm ngoại hình: dê là loài động vật được thuần hoá rất lâu đời, nhìn
bên ngoài dê có râu ở cả con đực và con cái, có sừng, hai sừng gần sát nhau, trên
cổ có các túm lông. Trán dê lồi, xương mũi thẳng, mõm dê mỏng, môi hoạt động,
răng cửa sắc nhờ đó dê có thể gặm được cỏ mọc thấp và chọn lấy những lá, thân


cây mềm mại. Dê thích leo trèo ở những vùng núi đá cao, khô ráo, ưa các loại thức
ăn trên cành, lá. Lông dê sạch, da có ít tuyến mồ hôi, tuyến mỡ nhờ đó mà các cơ
quan hô hấp tham gia tích cực hơn vào quá trình điều tiết thân nhiệt. Lông tơ của
dê có cấu tạo mô học như lông cừu Merinos, lông tơ bắt mầu thuốc nhuộm tốt, sợi
lông tơ càng kéo dài thì độ thô của nó cũng ít.
Đặc điểm sinh lý: thân nhiệt của dê từ 38 - 400C, nhịp đập tim 70 - 80
P

P


P

1995) [14]. Ở dê cái khi động dục cũng biểu hiện rất mãnh liệt, nhiều khi dê cái
tìm đến dê đực để giao phối. Trong đàn thường có dê đầu đàn dẫn đầu trên bãi
chăn, ở trong đàn dê rất yên tâm, khi bị tách khỏi đàn dê tỏ ra sợ hãi. Dê thích
nghỉ, ngủ ở những nơi cao ráo, trên những mô đất hoặc trên những tảng đá, khi
nằm dê vẫn thường nhai lại. Dê có khứu giác và thính giác rất phát triển, ban đêm
nếu có tiếng động nhỏ hoặc con người đi gần chuồng chúng phát hiện được ngay
và lao xao kêu khe khẽ như thông báo cho nhau biết.
Dê là những con vật hiếu động, dễ dàng di chuyển và có thể sử dụng những
diện tích đồng cỏ rộng, bởi vậy nhiều nước nuôi dê chủ yếu theo phương pháp
chăn thả trên đồng cỏ.


1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các tính trạng về năng suất
1.1.2.1. Khả năng sinh sản
Sinh sản là hoạt động sinh lý cơ bản của động vật để duy trì nòi giống, là sự
truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia thông qua các tế bào
sinh dục là tinh trùng và trứng. Sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp
tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra một thế hệ mới.
Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch
của cơ thể điều khiển và chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh
(thời tiết, khí hậu, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng ...). Trong chăn nuôi người ta
đánh giá khả năng sinh sản của chúng thông qua các chỉ tiêu sau:
- Ở con đực : tuổi thành thục sinh dục, tuổi phối giống lần đầu, khả năng sản
xuất, chất lượng tinh dịch và khả năng phối giống.
- Ở con cái : tuổi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lần đầu,
chu kỳ động dục, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (số lần đẻ/năm), số con đẻ ra/lứa, khối
lượng dê con đẻ ra, tỷ lệ nuôi sống của dê con sau 1, 3, 6 và 12 tháng tuổi.
Hoạt động sinh dục của dê cái theo chu kỳ, chu kỳ đó được gọi là chu kỳ

1.1.2.2. Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá,
là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng, các cơ quan bộ phận
và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các đặc tính di truyền từ đời trước truyền lại
cho đời sau (Trần Đình Miên và cộng sự, 1994) [18].
Bản chất về sự tăng khối lượng, thể tích tế bào cũng như toàn bộ cơ thể là do
sự tích lũy các chất dinh dưỡng thông qua thức ăn, trao đổi chất với ngoại cảnh làm
cho cơ thể đạt tới khối lượng nhất định nào đó (tất nhiên khả năng đó còn được
quy định bởi gen di truyền mà đời trước để lại). Tế bào phân chia mạnh ở giai đoạn
phát triển của phôi thai, tăng thể tích và các chất chứa trong tế bào và đó là cả quá
trình từ khi hình thành phôi thai tới khi cơ thể đạt tới sự ổn định về thể vóc. Tác


giả Trần Đình Miên và cộng sự, 1994 [18] cho biết trong quá trình sinh trưởng, sự
tăng số lượng tế bào và thể tích tế bào do kết quả của quá trình đồng hóa là quan
trọng nhất.
Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng.
Các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể để phát triển tế bào, vừa là cơ sở để hình thành
các chất trong tế bào và giữa các tế bào đó là protein, lipit, gluxit và các chất
khoáng ...
Đàm Văn Tiện, Lê Văn Thọ, 1992 [33] cho rằng quá trình sinh trưởng là sự
tổng hợp, sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ.
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem là sự tăng cường tổng hợp protein
trong các mô bào. Vì thế việc tăng khối lượng, thể tích và kích thước các chiều đo
là chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Quá trình này thể hiện ở ba mặt :
- Phân chia làm tăng số lượng tế bào.
- Tăng thể tích của mỗi tế bào.
- Tăng thể tích giữa các tế bào.
Đồng thời sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặc tính : tốc độ,
thời gian và tính chất diễn tiến. Tốc độ sinh trưởng biểu thị sự tăng khối lượng, thể

triển của từng cơ quan bộ phận trong cơ thể cũng có sự thay đổi khác nhau về
cường độ, tốc độ tăng trưởng. Trong nghiên cứu đánh giá khả năng sinh trưởng
người ta thường dùng các chỉ tiêu:
- Sinh trưởng tích luỹ.
- Sinh trưởng tuyệt đối.
- Sinh trưởng tương đối.
- Kích thước cơ thể và các chỉ số cấu tạo thể hình.
Tính quy luật trong sự sinh trưởng phát triển của cơ thể động vật có ý nghĩa
rất quan trọng trong công tác giống. Qua đó giúp chúng ta xây dựng và đề ra những
giải pháp kỹ thuật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho con vật phát triển tốt ngày từ


trong bào thai cho đến khi trưởng thành để từ đó nâng cao chất lượng phẩm giống,
nâng cao sức sản xuất và chất lượng sản phẩm sau này.
1.1.2.3. Khả năng cho thịt
Khả năng sản xuất thịt là một đặc điểm sinh vật học, đó là khả năng cung
cấp một khối lượng cơ vân cùng một số mô khác như mô mỡ, mô chống đỡ như
mô liên kết gồm : gân, dây chằng, nội mạc cơ. Ngoài sản phẩm thịt ra chúng ta còn
thu được một số sản phẩm như: nội tạng, máu, xương, lưỡi, lông, da ... có được
những sản phẩm này là do quá trình dinh dưỡng của các bộ phận khác nhau của thịt
và các sản phẩm phụ không đồng đều nhau. Mỗi loại gia súc, gia cầm khác nhau
đều cho sản phẩm thịt khác nhau, khả năng cho thịt của gia súc chính là mức độ
tích tụ các vật chất dinh dưỡng cho tế bào cơ, hệ thống cơ này khi gia súc còn sống
nó thực hiện hàng loạt các chức năng sinh lý như vận động, tuần hoàn, tiêu hoá,
hấp thu ...
Thành phần lý học, hoá học, đặc điểm cấu tạo của cơ phụ thuộc vào đặc
điểm di truyền, trao đổi chất và khả năng vận động cùng với những tác động khác
của điều kiện ngoại cảnh. Con người đã dùng các biện pháp kỹ thuật, kết hợp với
những khả năng sẵn có của gia súc để nâng cao khả năng cho thịt, đáp ứng nhu cầu
của con người. Trong chăn nuôi gia súc người ta đánh giá khả năng cho thịt theo

được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì
đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm.
Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E), bao
gồm 2 thành phần là Eg và Es, do đó E được biểu diễn qua công thức:
E = Eg + Es
- Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental Deviation) là sai
lệch do các nhân tố môi trường tác động thường xuyên lên tính trạng một cách lâu
dài. Đó là các yếu tố thức ăn, khí hậu, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng... tác động lên
một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc. (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29].


- Sai lệch môi trường riêng (Es): (Special Environmental Deviation) là sai
lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong
nhóm vật nuôi hoặc một vài bộ phận riêng của một cá thể nào đó trong quần thể
trong một thời gian ngắn và không thường xuyên. (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [29]).
Như vậy, giá trị kiểu hình có một tính trạng nào đó chi phối bởi từ 2 locus
trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau:
P = G + E = A + D + I + Eg + Es
Từ những phân tích trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở dê cũng như ở
các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi
trường. Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi
trường sống, đặc biệt là các yếu tố khí hậu, thức ăn, chăm sóc, nuôi dưỡng, quản
lý. Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng
cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất
lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối
với con vật.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.2.1. Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới
Chăn nuôi dê là một nghề đã được hình thành từ lâu đời. Đến nay đã hình

737.175.842

750.390.679

764.510.558

- Các nước phát triển

30.998.608

31.490.117

31.649.683

- Các nước đang phát triển

706.177.234

718.849.562

732.860.875

- Châu Á

464.344.462

474.179.766

487.588.456


Nguồn : Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22]
Qua đó cho thấy, số lượng dê của thế giới tăng dần qua các năm và đến năm
2003 đạt 764.510.558 con. Trong đó đàn dê tập trung chủ yếu ở các nước đang
phát triển với số lượng 732.860.875 con (chiếm 95,86% so với các nước phát triển)
và Châu Á có nhiều dê nhất với số lượng 478.588.456 con dê (chiếm 63,78 % tổng


đàn dê trên toàn thế giới). Tiếp theo là Châu Phi có 219.736.486 con (chiếm
28,74% tổng đàn). Châu Mỹ và Caribe có số lượng dê đứng thứ 3 với 36.713.150
con (chiếm 4,8 % tổng đàn). Ở các nước phát triển, mặc dù số lượng dê ít hơn
nhưng chăn nuôi với quy mô đàn lớn hơn, sử dụng các phương thức chăn nuôi tiên
tiến với mục đích lấy sữa và pho mát, do đó có hiệu quả kinh tế cao.
Ở Châu Á, nước nuôi nhiều dê nhất là Trung Quốc (172.957.208 con), sau
đó là Ấn Độ (124.500.000 con); Pakistan (52.800.000 con); Việt Nam có
780.331 con.
Theo Trần Trang Nhung và cộng sự, 2005 [22] cho biết: trong năm 2003,
sản lượng thịt các loại của toàn thế giới đạt 249.851.017 tấn. Trong đó, sản lượng
thịt dê đạt 4.091.190 tấn (chiếm 1,64% tổng sản lượng). Khu vực các nước đang
phát triển là nơi sản xuất nhiều thịt dê nhất với số lượng 3.903.357 tấn (chiếm
73,42% tổng sản lượng), trong đó tập trung ở các nước Châu Á (3.003.742 tấn),
nước sản xuất nhiều thịt dê nhất là Trung Quốc (1.518.081 tấn), sau đó là Ấn Độ
(473.000 tấn), Pakistan (373.000 tấn). Sản lượng sữa các loại trên toàn thế giới đạt
600.978.420 tấn, trong đó sữa dê là 11.816.315 tấn (chiếm 1,97%). Cũng như thịt
dê, sữa dê chủ yếu do các nước đang phát triển sản xuất (9.277.942 tấn - chiếm
78,52% tổng sản lượng). Các nước Châu Á cung cấp phần lớn lượng sữa này
(6.291.364 tấn - chiếm 53,24% tổng sản lượng), trong đó đứng đầu là Ấn Độ
(2.610.000 tấn), sau đó là Bangladesh (1.312.000 tấn) đến Pakistan (640.000 tấn)
và Trung Quốc (242.000 tấn).
Ngoài ra, chăn nuôi dê cũng đã cung cấp một khối lượng khá lớn sản phẩm
về lông da, sản lượng trong các năm 2001, 2002, 2003 tương ứng là 864.055 tấn,

(Small Ruminant Production System Network for Asia) có trụ sở tại Indonexia với
mục đích góp phần đẩy mạnh trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi
dê cừu trong khu vực.


Một số giống dê cao sản trên thế giới

TT

1
2
3
4
5

6

7

8
9
10
11

Giống dê

Vùng nuôi chủ
yếu

Khối lượng

improved White)
Trắng cải tiến Ba
Lan
(Polish Ba Lan, Đông Âu 60 - 80
Improved White)
Nâu cải tiến Ba
Lan
(Polish Ba Lan, Đông Âu 65 - 85
Improved Brown)
Ấn Độ, Tây Á,
Jumnapari
80
Thổ Nhĩ Kỳ
Ấn Độ, Tây Á,
Beeltal
80 - 90
Thổ Nhĩ Kỳ
Ấn Độ, Tây Á,
Barbari
35 - 40
Thæ NhÜ Kú

Năng suất
sữa bình
quân/ngày
(kg)

50 - 70

2,5 - 3,5


1,0 - 1,2

45 - 50

0,8 - 1,0

25 - 30

0,6 - 0,9

Nguồn số liệu: Đặng Quang Nam, 1996 [20]



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status