Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHẠM HÙNG CƢỜNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ KIỂU
THẢM THỰC VẬT ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÝ,
HOÁ HỌC CƠ BẢN CỦA ĐẤT Ở XÃ ĐẠO ĐỨC
HUYỆN VỊ XUYÊN TỈNH HÀ GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Thái Nguyên – Năm 2011
Thái Nguyên – Năm 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.
TS. Lê Ngọc Công – người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS Hoàng Chung đã tận tình giúp đỡ
tôi trong quá trình điều tra,khảo sát ngoài thực địa.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, Ban Chủ nhiệm Khoa Sinh
- KTNN, các cán bộ Khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm – Đại học
Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập tại trường.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh Hà Giang,Trạm khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Giang,
Phòng thống kê huyện Vị Xuyên, Phòng địa chính huyện Vị Xuyên, Trạm kiểm
lâm huyện Vị Xuyên, Trường THPT Vị Xuyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi tiến hành điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành của mình tới bạn bè đồng
nghiệp, tới những người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi về mọi
mặt để tôi có thể hoàn thành khóa học và thực hiện luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả
Phạm Hùng Cường
Luận văn đã đƣợc chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng bảo vệ luận văn ngày
24/09/ năm 2011 tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái Nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
TÊN ĐẦY ĐỦ
OTC
Ô tiêu chuẩn
TĐT
Tuyến điều tra
Ph
Cây có chồi trên mặt đất
Ch
Cây có chồi sát đất
He
Cây có chồi nửa ẩn
Cr
Cây có chồi ẩn
Th
Cây 1 năm
RTS 30 tuổi
Rừng thứ sinh 30 tuổi
CBC 7 tuổi
Cây bụi cao 7 tuổi
Bảng 4.5: Một số tính chất lý học của đất trong các quần xã nghiên cứu 75
Bảng 4.6 Thành phần cơ giới đất ở các quần xã nghiên cứu 78
Bảng 4.7. Một số tính chất hóa học của đất dƣới các quần xã nghiên cứu 80
II. Danh mục các hình
Hình 2.1. Biểu đồ nhiệt độ trung bình tháng ở Hà Giang năm 2010 19
Hình 2.2. Biểu đồ lƣợng mƣa trung bình tháng ở Hà Giang năm 2010 19
Hình 2.3. Biểu đồ độ ẩm trung bình tháng ở Hà Giang năm 2010 20
Hình 4.1: Sự biến đổi độ chua pH(KCl)… 80
Hình 4.2: Sự biến đổi của hàm lƣợng mùn… 81
Hình 4.3: Hàm lƣợng đạm tổng số (%) ở các điểm nghiên cứu… 82
Hình 4.4: Hàm lƣợng lân dễ tiêu ở các điểm nghiên cứu… 83
Hình 4.5: Hàm lƣợng kali dễ tiêu ở các điểm nghiên cứu… 85
Hình 4.6: Hàm lƣợng Ca
++
ở các điểm nghiên cứu… 86
Hình 4.7: Hàm lƣợng Mg
++
ở các điểm nghiên cứu……………………… 86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái. Nó có ý nghĩa rất
lớn tới khả năng cung cấp nƣớc, muối khoáng, chất dinh dƣỡng cho cây. Do
đó nó có ảnh hƣởng tới quá trình sinh trƣởng, phát triển của thảm thực vật.
Mỗi loại đất sẽ có một kiểu thảm thực vật riêng. Ngƣợc lại mỗi kiểu thảm
thực vật sẽ đặc trƣng cho một kiểu đất xác định. Các kiểu đất này sẽ khác
nhau bởi hàng loạt chỉ tiêu nhƣ: màu sắc, tính chất lí học, hoá học, hệ vi sinh
Tỉnh Hà Giang nói chung và huyện Vị Xuyên nói riêng là địa phƣơng
miền núi có địa hình phức tạp, đồi núi có độ dốc cao. Trong nhiều năm qua
thảm thực vật rừng của tỉnh đã bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá
mức. Vì vậy, đất rừng bị xói mòn, rủa trôi ảnh hƣởng tới độ phì của đất.
Với mục đích cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về tính chất của
đất để thấy đƣợc ảnh hƣởng của thảm thực vật tới đất rừng, nhằm mục đích
phục hồi lại hệ sinh thái rừng và sử dụng đất một cách hợp lí trên quan điểm
sinh thái và phát triển bền vững. Với lý do nhƣ vậy chúng tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kiểu thảm thực vật đến một số tính
chất lý, hóa học cơ bản của đất ở xã Đạo Đức huyện Vị Xuyên tỉnh Hà
Giang”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định đƣợc đặc điểm về thành phần loài, thành phần dạng sống,
cấu trúc tầng tán, độ che phủ của các kiểu thảm thực vật nghiên cứu.
- Xác định đƣợc những tính chất vật lý, hóa học cơ bản của đất dƣới
các kiểu thảm thực vật nghiên cứu, trên cơ sở đó bƣớc đầu đánh giá đƣợc tác
dụng bảo vệ đất chống xói mòn và rửa trôi các chất dinh dƣỡng trong đất,
nâng cao độ phì của từng kiểu thảm thực vật.
3. Phạm vi nghiên cứu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Đề tài đƣợc thực hiện trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2011 tại xã
Đạo Đức (huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang). Do điều kiện hạn chế về thời gian
và kinh phí, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số tính chất lý, hóa học cơ
bản của đất trong mối quan hệ với một số kiểu thảm thực vật chọn nghiên
cứu mà không nghiên cứu sự tác động trở lại của các yếu tố môi trƣờng đất
đến các kiểu thảm thực vật.
Các khu vực chọn nghiên cứu thuộc xã Đạo Đức đều có những đặc
nƣơng rẫy ở vùng Tây Bắc Ấn Độ đã cho biết chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ
số loài ƣu thế cao điểm nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần
theo thời gian bỏ hóa.
Longchun và cộng sự (1993) [4] nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ
sinh thái nƣơng rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét:
Tại Bana khi nƣơng rẫy bỏ hóa đƣợc 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực
vật. Còn nếu đƣợc bỏ hóa 19 năm thì có 60 họ, 134 chi, 167 loài thực vật.
*Ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật cũng rất nhiều.
Hoàng Chung (1980) [9] nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt Nam
đã công bố 233 loài thực vật thuộc 54 họ và 44 bộ.
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [17] trong công trình “Cây cỏ Việt
Nam” đã thống kê đƣợc số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500
loài, gần đạt số lƣợng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học.
Lê Ngọc Công (1998) [12] khi nghiên cứu tác dụng cải tạo môi trƣờng
của một số mô hình rừng trồng trên vùng đồi núi trung du một số tỉnh miền
Bắc nƣớc ta đã thống kê đƣợc 211 loài thuộc 64 họ.
Thái Văn Trừng (1998) [38] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã
có nhận xét về tổ thành thực vật của tầng cây bụi nhƣ sau: Trong các trạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
thái thảm thực vật khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của
tầng cây bụi chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris,
Pavetta trong họ Rubiaceae; chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae);
chi Ardisia, Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae); chi Polyanthia (họ
Na -Annonaceae); chi Diospyros (họ Thị - Ebenaceae).
Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) [32] khi tổng kết các công trình nghiên cứu
về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
* Trên thế giới
Có nhiều phƣơng pháp phân loại dạng sống thực vật nhƣng phƣơng pháp
phân loại của Raunkiaer (1934) [29] là đƣợc chú ý hơn cả vì nó đảm bảo tính
khoa học, đơn giản và dễ áp dụng. Cơ sở phân chia dạng sống của Raunkiaer
thƣờng đƣợc sử dụng thông qua các dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đất trong
thời gian bất lợi của năm.
Raunkiaer đã chia ra 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1. Nhóm cây có chồi cao trên mặt đất : Phanerophytes (Ph)
2. Nhóm cây có chồi sát mặt đất : Chamactophytes (Ch)
3. Nhóm cây có chồi nửa ẩn : Hemicryptophytes (Cr)
4. Nhóm cây có chồi ẩn : Criptophytes (Cr)
5. Nhóm cây sống một năm : Theophytes (Th)
Ông đã xây dựng đƣợc phổ dạng sống tiêu chuẩn (SB)
SB = 46Ph + 9Ch + 26He + 6Cr + 13Th
Braun-Blanquet (1951), đánh giá cách mọc của thực vật dựa vào tính
liên tục hay đơn độc của loài đã chia thành 5 thang: mọc lẻ, mọc thành vạt,
mọc thành dải nhỏ, mọc thành vạt lớn và mọc thành khóm lớn [9].
*Ở Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần dạng sống của
thực vật, cụ thể nhƣ sau:
Thái Văn Trừng (1978) [37] cũng áp dụng phƣơng pháp phân loại của
Raunkiaer khi phân chia dạng sống của khu hệ thực vật ở Việt Nam.
Nguyễn Bá Thụ (1995) cũng phân chia dạng sống thực vật ở Vƣờn
Quốc gia Cúc Phƣơng theo nguyên tắc của Raunkiaer [36].
Đặng Kim Vui (2002) [45] nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi
sau nƣơng rẫy ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên phân chia dạng sống thực
Nhƣ vậy, nghiên cứu về thành phần loài và thành phân dạng sống thực
vật trong từng kiểu thảm đã đƣợc các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc quan
tâm từ khá sớm. Đặc điểm thành phần loài và dạng sống là một trong các chỉ
tiêu quan trọng để phân biệt giữa kiểu thảm thực vật này với kiểu thảm thực
vật khác.
1.2. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng qua lại giữa thảm thực vật và đất
1.2.1. Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của đất tới thảm thực vật
Đất đƣợc hình thành từ đá do sự biến đổi của nó theo thời gian dƣới tác
động của thực vật, động vật, vi sinh vật trong các điều kiện khác nhau của địa
hình và khí hậu [22]. Tính chất quan trọng của đất chính là độ phì vì độ phì có
ảnh hƣởng tới sự phân bố, sự sinh trƣởng và phát triển của cây rừng và hệ
sinh thái rừng.
* Trên thế giới.
Các công trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của đất tới thảm thực vật đƣợc
hình thành từ rất sớm. Các tác giả Alêkhin (1904), Graxits (1927), Sennhicop
(1938) đã thống nhất và đƣa ra kết luận mỗi vùng sinh thái xác định sẽ hình
thành một kiểu thảm thực vật đặc trƣng khi các tác giả này nghiên cứu trên
loại hình đồng cỏ và thảo nguyên ở Liên Xô [9].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Hađi (1936), Baur (1946),
P. W Richards (1952) cho rằng các đặc tính lí hóa của đất ảnh hƣởng đến khả
năng cung cấp nƣớc, tình hình thông khí và độ sâu tầng đất có tác dụng tạo ra
sự phân hóa trong thành phần của hệ sinh thái rừng mƣa hơn tính chất hóa học
của đất [33].
Nghiên cứu về vai trò của mùn trong đất đối với cây, A.Giacốp (1956) đã
kết luận: Ngoài khả năng cung cấp chất dinh dƣỡng cải tạo đất nâng cao độ phì,
trong mùn còn có chất quynon có tác dụng kích thích sự tăng trƣởng của rễ, do
ứng phù hợp với thành phần khoáng của loại đá mẹ đó.
Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thƣ, Lê Đồng Tấn (1995) [28] , khi nghiên cứu
quá trình tái sinh phục hồi thảm thực vật sau nƣơng rẫy tại Sapa đã nhận định:
đất thoái hóa nhẹ thì quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật diễn ra
nhanh, nếu đất xấu (đất thoái hóa trung bình, nặng và rất nặng) thì quá trình
diễn ra ngƣợc lại.
1.2.2.Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của thảm thực vật tới đất
Thảm thực vật có tác dụng mạnh mẽ tới đất. Chúng làm thay đổi tính
chất lí, hóa học, thành phần và số lƣợng động vật đất, vi sinh vật đất, từ đó có
tác dụng cải tạo đất.
Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hƣởng của thảm
thực vật tới đất.
* Trên thế giới.
Khi nghiên cứu trên các kiểu rừng khác nhau thì Monin (1937) đã đƣa
ra kết luận: rừng mƣa nhiệt đới, chất rơi rụng hàng năm là 10 - 20 tấn/ha,
rừng ôn đới là 5 - 7 tấn/ha , thảm cỏ và thảo nguyên là 1 - 3 tấn/ha. Vậy mỗi
kiểu thảm thực vật khác nhau thì lƣợng vật chất rơi rụng trả lại cho đất cũng
khác nhau. Trong đó kiểu rừng mƣa nhiệt đới có lƣợng vật chất cung cấp cho
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
đất là lớn nhất [27].
Theo M.M.Kononove (1951) bộ rễ của các loài cây thuộc thảo là nguồn
bổ sung các chất hữu cơ cho đất, có thể đạt tới 8 - 25 tấn/ha, còn theo
L.P.Beliakova (1953) thì lƣợng cây Medicago sativa cung cấp khoảng
40 tấn/ha/năm [44].
Theo P.W.Richards (1964) [30], đất rừng nhiệt đới càng thành thục thì
hàm lƣợng chất khoáng hòa tan càng giảm do quá trình rửa trôi và thảm thực
vật rừng nhiệt đới là nhân tố tích cực chống lại quá trình đó.
điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng
đã phát hiện đƣợc 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài và đƣa ra kết luận:
đa dạng về thành phần loài, dạng sống là yếu tố cải thiện tính chất lí hóa học
của đất [18].
Nguyễn Ngọc Bình (1996) [6] đã có nhận xét là các tính chất và độ phì
của đất có quan hệ đến sự phân bố của các loại thảm thực vật…
Khi nghiên cứu các loại đất rừng Việt Nam trên nhiều kiểu rừng tự
nhiên phân bố theo nhiều độ cao khác nhau, Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức
Minh (1978) [40], Nguyễn Tử Xiêm, Thái Phiên (1999) [41] cũng có nhận xét tƣơng tự.
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1998) [10], khi nghiên cứu vai trò của
độ che phủ ở các trạng thái thảm thực vật có nhận xét: trị số PH
(KCl)
, hàm
lƣợng mùn và hàm lƣợng các chất dễ tiêu trong đất tăng tỉ lệ thuận với độ che
phủ của thảm thực vật.
Lê Ngọc Công (2004) đã nghiên cứu ảnh hƣởng một số quần xã thực
vật đến môi trƣờng đất trong các giai đoạn diễn thế phục hồi rừng sau nƣơng
rẫy ở Thái Nguyên đã khẳng định: độ che phủ của thảm thực vật ảnh hƣởng
theo hƣớng tốt tới tính chất hóa học của đất, tới lƣợng vi sinh vật, thành phần
giun đất [11].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
Nguyễn Thị Kim Anh (2006) khi nghiên cứu ảnh hƣởng của một số
thảm thực vật đến môi trƣờng đất ở vùng đồi tỉnh Thái Nguyên đã đi đến kết
luận: thảm thực vật có vai trò quan trọng trong việc làm biến đổi tính chất hóa
học của đất, từ đó làm tăng độ phì (tăng hàm lƣợng mùn, đạm, K
2
O, P
+
, P
2
O
5
,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
K
2
O ở đất trồng Bạch đàn nghèo hơn so với đất dƣới rừng Keo lá tràm và
rừng hỗn giao [21].
Trƣơng Văn Lung (1996) với công trình nghiên cứu trồng cây bộ đậu
cải tạo đất và hƣớng phát triển vƣờn đồi miền Tây Thừa Thiên Huế và có
những kết luận: Trồng cây bộ đậu cải tạo đất thì mọi thành phần nông hóa của
đất đều đƣợc nâng lên rõ rệt. Sử dụng một số cây bộ đậu làm tiên phong cải
tạo đất và định hƣớng phát triển theo mô hình vƣờn đồi là giải pháp hợp lý để
sử dụng có hiệu quả vùng gò đồi rộng lớn mà hiện nay đang ngày càng xói
mòn, trơ sỏi đá của Thừa Thiên Huế [26].
Hoàng Xuân Tý (1996) với công trình nghiên cứu nâng cao công nghệ
thâm canh rừng trồng (Bồ đề, Bạch đàn, Keo) sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất
và nâng cao chất lƣợng rừng nhƣ sử dụng cây Đậu triều Ấn Độ, cây Keo dậu,
cây Đậu tràm để diệt cỏ, chống cháy mùa khô, cải thiện độ phì cho đất [39].
Trần Đình Lý (1997) [27] nghiên cứu trồng cây họ Đậu (Keo hoa vàng,
Keo mỡ), Thông và Bạch đàn trồng xen để cải tạo đất gò đồi ở Bình Trị
Thiên. Sau 10 năm rừng khép tán, kết quả các chỉ tiêu lý học, hóa học của đất
trƣớc và sau khi trồng các cây họ Đậu nhƣ sau: Độ ẩm tăng từ 2% lên 17%,
pH tăng từ 4,1% lên 4,3%, mùn tăng từ 0,94% lên 2,91%, Nitơ tổng số tăng từ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu
2.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính
Hà Giang là tỉnh miền núi cao nằm ở cực Bắc Tổ quốc, phía Bắc giáp
các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây – Trung Quốc, phía Nam giáp các tỉnh
Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp các tỉnh Yên Bái
và Lào Cai.
Vị Xuyên là huyện vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang, có tọa độ địa lý
nằm trong khoảng từ 104
O
23’ 30” đến 105
O
nƣớc biển, độ dốc lớn tạo ra các tiểu vùng mang đặc điểm riêng biệt:
- Tiểu vùng núi cao: Bao gồm các xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức,
Thanh Thủy, Thƣợng Sơn, Quảng Ngần, Cao Bồ, Phƣơng Tiến, vùng này có
độ cao trung bình trên 1.000 m, thuận lợi cho phát triển các cây đặc sản nhƣ
chè Shan, quế, thảo mộc, chăn nuôi đại gia súc và phát triển nghề rừng.
- Tiểu vùng núi trung bình: Bao gồm các xã Trung Thành, Bạch Ngọc,
Ngọc Minh, Ngọc Linh, Minh Tân, Thuận Hòa, Việt Lâm, Linh Hồ, vùng này
có độ cao trung bình từ 500 - 800 m, thuận lợi cho phát triển các loại cây công
nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chè, chăn nuôi gia súc và trồng rừng.
- Tiểu vùng thung lũng và núi thấp: Bao gồm các xã Tùng Bá, Phong
Quang, Kim Linh, Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức, Thị trấn Vị Xuyên, Thị
trấn Việt Lâm, vùng này có độ cao trung bình dƣới 500 m, thuận lợi cho phát
triển lúa nƣớc, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và phát triển chăn nuôi.
2.1.3. Khí hậu
Các số liệu về nhiệt độ, độ ẩm, tổng số giờ nắng và lƣợng mƣa trung
bình tháng tỉnh Hà Giang năm 2010 (Theo trạm khí tƣợng Hà Giang) đƣợc
trình bầy trong bảng 2.1
Hà Giang có khí hậu đặc thù của một tỉnh miền núi cao phía đông Bắc
bộ. Một năm chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa khô và mùa mƣa.
Mùa mƣa là những tháng có nhiệt độ cao, lƣợng mƣa lớn, nhiệt độ cao nhất
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
24
vào tháng 6 đến tháng 8 và lƣợng mƣa cũng tập trung vào các tháng này.
(tháng 8 có nhiệt độ trung bình cao nhất (29,9
o
C) và tháng 7 có lƣợng mƣa
cao nhất 738,8 mm).
Bảng 2.1. Nhiệt độ, độ ẩm, tổng số giờ nắng và
23
78
4,5
4
24,1
37
81
101,4
5
28,0
46
82
140,5
6
28,4
34
84
393,5
7
28,4
54
85
738,8
8
29,9
310
84
420,2
9
27,4
thƣờng có gió mùa Đông Bắc tràn về. Trong các tháng 12, 1, 2 độ ẩm không
khí khô, nắng hanh, có kèm theo sƣơng muối đã làm ảnh hƣởng lớn đến sản
xuất nông nghiệp và sinh hoạt của ngƣời dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
2.1.3.1. Chế độ nhiệt
Qua bảng 2.2 biểu diễn khí hậu tỉnh Hà Giang năm 2010 ta thấy: Nhiệt
độ trung bình năm là 23,9
o
C và có sự phân hóa rõ rệt theo hai mùa là mùa hè
(mùa mƣa) và mùa đông (mùa khô) nên sự chênh lệch nhiệt giữa hai mùa là
tƣơng đối lớn. Mùa đông lạnh thời tiết khô hanh, nhiệt độ ngày xuống thấp tới
5,2
o
C, mùa hè thời tiết nóng ẩm, nhiệt độ ngày cao nhất là 36
o
C.
0
5
10
15
20
25
30
35
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nhiệt độ
tháng