ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THẾ HỒNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT
ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÝ, HÓA HỌC CƠ BẢN CỦA ĐẤT
Ở XÃ TÂN PHƯỢNG, HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
THÁI NGUYÊN – 2013
ĐẠI HỌC THÁI
NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM
TRẦN THẾ HỒNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG
CỦA MỘT SỐ KIỂU THẢM THỰC VẬT
ĐẾN MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÝ, HÓA HỌC CƠ BẢN CỦA ĐẤT
Ở XÃ TÂN PHƯỢNG, HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
THÁI NGUYÊN - 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu
thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên
cứu khảo sát, thực địa và phân tích dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS - TS.
Lê Ngọc Công.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho
một học vị nào, phần trích dẫn tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc.
TÁC
GIẢ
iii
MỤC LỤC
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Đóng góp mới của luận văn 3
Chương
1
-
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
4
1.1. Những nghiên cứu về thành phần loài và dạng sống thực vật 4
1.1.1. Những nghiên cứu về thành phần loài 4
1.1.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống thực vật 6
1.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng qua lại giữa thảm thực vật và đất 9
1.2.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đất tới thảm thực vật 9
1.2.2.Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới đất 11
1.2.3. Những nghiên cứu về tác dụng cải tạo đất của thảm thực vật 13
Chương
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
29
4.1. Thành phần loài, dạng sống, cấu trúc quần xã rừng 29
4.1.1. Thành phần loài thực vật tại các điểm nghiên cứu 29
4.1.2. Thành phần dạng sống tại các điểm nghiên cứu 51
4.1.3. Cấu trúc hình thái của các quần xã nghiên cứu 55
4.2. Đặc điểm hình thái phẫu diện đất trong các quần xã thực vật 61
4.3. Ảnh hưởng của quần xã rừng đến một số tính chất lý, hóa học của đất 63
4.3.1. Ảnh hưởng của quần xã rừng đến một số tính chất lý học của đất 63
4.3.2. Ảnh hưởng của các quần xã thực vật đến một số tính chất hóa học của đất 67
4.3.2.1. Độ chua pH(KCl) 68
4.3.2.2. Hàm lượng mùn tổng số (%) 69
4.3.2.3. Hàm lượng đạm tổng số (%) 69
4.3.2.4. Hàm lượng lân và kali dễ tiêu 70
4.3.2.5. Hàm lượng Ca
2+
và Mg
2+
trao đổi 72
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
75
Kết luận 75
Đề nghị 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO
76
PHỤ LỤC
80
v
vii
DANH MỤC CÁC HÌNHHình 4.1. Sự biến đổi độ chua pH(KCl) ở các quần xã nghiên cứu 68
Hình 4.2. Sự biến đổi của hàm lượng mùn ở các quần xã nghiên cứu 69
Hình 4.3. Hàm lượng đạm tổng số (%) ở các quần xã nghiên cứu 70
Hình 4.4. Hàm lượng lân dễ tiêu ở các quần xã nghiên cứu 71
Hình 4.5. Hàm lượng kali dễ tiêu ở các quần xã nghiên cứu 72
Hình 4.6. Hàm lượng Ca
++
ở các điểm nghiên cứu 73
Hình 4.7. Hàm lượng Mg
++
ở các điểm nghiên cứu 74 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Rừng - lá phổi của hành tinh. Rừng không chỉ là nơi cung cấp nhiều loại
lâm sản quý và là nguồn nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp. Vai trò
quan trọng nhất của rừng đối với trái đất với đời sống con người là vai trò điều
hòa khí hậu. Ngoài ra, Rừng có vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn
đất, nhất là xói mòn trên sườn đất dốc, Có thể nói Rừng là tài nguyên vô cùng
quý giá của mỗi quốc gia
Đất là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái, đất có ý nghĩa rất lớn
phục hồi rừng đã trở nên khả quan hơn. Năm 2003 tổng diện tích rừng nước đã là
12 triệu ha, tương đương với và độ che phủ là 36,1%, trong đó rừng tự nhiên có 10
triệu ha và rừng trồng có 2 triệu ha. Tuy vậy vẫn chưa đảm bảo mức an toàn sinh
thái cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Trước thực tiễn đó, để có những nghiên cứu sâu hơn về tính chất của đất,
thấy được ảnh hưởng của thảm thực vật tới đất rừng, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kiểu thảm thực vật đến một
số tính chất lý, hóa học cơ bản của đất ở xã Tân Phượng, huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được đặc điểm về thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu
trúc tầng tán, độ che phủ của các kiểu thảm thực vật nghiên cứu.
- Xác định được những tính chất vật lý, hóa học cơ bản của đất dưới
các kiểu thảm thực vật nghiên cứu, trên cơ sở đó bước đầu đánh giá được tác
dụng bảo vệ đất chống xói mòn và rửa trôi các chất dinh dưỡng trong đất,
nâng cao độ phì của từng kiểu thảm thực vật.
- Đề xuất những biện pháp lâm sinh phù hợp cho một số kiểu thảm
nhằm nâng cao khả năng phục hồi rừng, tăng độ che phủ, góp phần vào việc
vừa có tác dụng bảo vệ môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng,
3
vừa tạo ra giá trị kinh tế phục vụ cho cuộc sống con người.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong năm 2012 tại xã Tân Phượng (huyện Lục
Yên, tỉnh Yên Bái). Do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu một số tính chất lý, hóa học cơ bản của đất trong mối quan hệ
với một số kiểu thảm thực vật chọn nghiên cứu mà không nghiên cứu sự tác
động trở lại của các yếu tố môi trường đất đến các kiểu thảm thực vật.
Các khu vực chọn nghiên cứu thuộc xã Tân Phượng đều có những
đặc điểm tương đối đồng nhất như: đá mẹ, địa hình, hướng phơi, sự tác động
nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì
có 60 họ, 134 chi và 167 loài (Phạm Hồng Ban, 2000 [4])
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về thành phần loài thực vật cũng
rất nhiều. Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam có
5609 loài thuộc 1660 chi và 240 họ [27]
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài thực
vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi, 289 họ [41]
Hoàng Chung (1980) [12] nghiên cứu về đồng cỏ vùng núi phía bắc Việt
Nam đã công bố 233 loài thực vật thuộc 54 họ và 44 bộ.
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1983) khi nghiên cứu hệ thực vật Tây
5
Nguyên đã thống kê được 3210 loài, chiếm gần 1/2 số loài đã biết của toàn
Đông Dương [6]
Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [19] trong công trình “Cây cỏ Việt Nam”
đã thống kê được số loài hiện có của hệ thực vật Việt Nam là 10.500 loài, gần
đạt số lượng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học.
Lê Mộng Chân (1994) điều tra tổ thành vùng núi cao Vườn quốc gia Ba
Vì đã phát hiện được 483 loài thuộc 323 chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch
trong đó gặp 7 loài được mô tả lần đầu tiên [10]
Thái Văn Trừng (1998) [42] khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có
nhận xét về tổ thành thực vật của tầng cây bụi như sau: Trong các trạng thái thảm
thực vật khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi
chủ yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta trong họ
Rubiaceae; chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia, Maesa
(họ Đơn nem - Myrsinaceae); chi Polyanthia (họ Na -Annonaceae); chi Diospyros
(họ Thị - Ebenaceae).
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) [35] khi tổng kết các công trình nghiên cứu
về khu hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2393 loài thực vật bậc thấp và
1373 loài thực vật bậc cao thuộc 2524 chi và 378 họ.
có 71 loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), IUCN (2001) và
Nghị định 32/2006/NĐ-CP [15].
1.1.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái cấu trúc cơ thể thực
vật thích nghi với điều kiện môi trường của nó, nên đã được nhiều nhà khoa
học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Việc nghiên cứu thành phần dạng sống là
một trong những nội dung quan trọng của việc nghiên cứu bất kì một hệ thực
vật nào. Khi nghiên cứu thành phần dạng sống cho ta thấy mối quan hệ chặt
chẽ của dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và sự tác động của
điều kiện sinh thái với từng loài thực vật.
7
I. K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường
xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên
mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có
thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát
triển lâu năm. G. N. Vưxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp
cây nhiều năm và lớp cây hàng năm (Nguyễn Thị Ngọc, 2000 [31])
Trên thế giới có nhiều phương pháp phân loại dạng sống thực vật nhưng
phương pháp phân loại của Raunkiaer (1934) (Trần Ngũ Phương, 1970 [32]) là
được chú ý hơn cả vì nó đảm bảo tính khoa học, đơn giản và dễ áp dụng. Cơ sở
phân chia dạng sống của Raunkiaer thường được sử dụng thông qua các dấu
hiệu vị trí chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm.
Raunkiaer đã chia ra 5 nhóm dạng sống cơ bản:
1. Nhóm cây có chồi cao trên mặt đất : Phanerophytes (Ph)
2. Nhóm cây có chồi sát mặt đất : Chamactophytes (Ch)
3. Nhóm cây có chồi nửa ẩn : Hemicryptophytes (Cr)
4. Nhóm cây có chồi ẩn : Criptophytes (Cr)
5. Nhóm cây sống một năm : Theophytes (Th)
Ông đã xây dựng được phổ dạng sống tiêu chuẩn (SB)
nhóm cây có chồi sát đất có 26 loài (8,02%); nhóm cây có chồi nửa ẩn có 43
loài (13,27%); nhóm cây có chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây một
năm có 35 loài chiếm 10,80%.
Lê Ngọc Công (2004) [14] khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng
khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở tỉnh Thái Nguyên đã phân chia thực
vật thành các dạng sống cơ bản như sau: cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, dây leo.
Đặng Thị Thu Hương (2005) [23] khi nghiên cứu đặc điểm và đánh giá
năng lực tái sinh tự nhiên của thảm thực vật cây bụi tại Trạm đa dạng Sinh học
Mê Linh (Vĩnh Phúc) đã có kết quả phổ dạng sống thực vật trong các kiểu thảm
là: SB = 75,4Ph + 6,3Ch + 6,6He + 5,4Cr + 6,3Th
Vũ Thị Liên (2005) [26] phân chia dạng sống trong các kiểu thảm thực
9
vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer đã có kết quả
phổ dạng sống như sau:
SB = 69,66Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th
Giáp Thị Hồng Anh (2007) [2] nghiên cứu đặc điểm của thảm thực vật
thứ sinh và tính chất hóa học của đất tại xã Canh Nậu, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc
Giang, đã áp dụng khung phân loại của Raunkiaer để phân chia dạng sống và
phổ dạng sống là: SB = 65,7Ph + 9,5Ch + 6,7He + 13,3Cr + 4,8Th
Như vậy, nghiên cứu về thành phần loài và thành phân dạng sống thực vật
trong từng kiểu thảm đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm từ
khá sớm. Đặc điểm thành phần loài và dạng sống là một trong các chỉ tiêu quan
trọng để phân biệt giữa kiểu thảm thực vật này với kiểu thảm thực vật khác.
1.2. Những nghiên cứu về ảnh hưởng qua lại giữa thảm thực vật và đất
1.2.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đất tới thảm thực vật
Đất được hình thành từ đá do sự biến đổi của nó theo thời gian dưới tác động
của thực vật, động vật, vi sinh vật trong các điều kiện khác nhau của địa hình và khí
hậu [20]. Tính chất quan trọng của đất chính là độ phì vì độ phì có ảnh hưởng tới sự
phân bố, sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng và hệ sinh thái rừng.
Hy (1956) cũng đưa ra bản phân loại các kiểu rừng Việt Nam dựa trên nhiều yếu
tố trong đó thổ nhưỡng là yếu tố phát sinh ra các kiểu thảm thực vật (Theo Thái
Văn Trừng, 1978 [41]. Nhiều tác giả như: Trần Ngũ Phương (1970) [32], Vũ Tự
Lập (1995) [25] cũng có nhận xét tương tự).
Nguyễn Hữu Thoan (1986) [38] cho rằng đá mẹ và thế nằm của đá, độ
dày tầng đất cũng như độ ẩm, độ cứng của đất là yếu tố ảnh hưởng đến sự
phát triển hình thái của rễ cây rừng, độ ẩm của đất và chất dinh dưỡng trong
đất ảnh hưởng đến sự phát triển của những bộ phận trên mặt đất.
Đặng Ngọc Anh (1993) [1] đã có nhận xét là hàm lượng chất dinh
dưỡng trong đất, độ sâu tầng đất đã ảnh hưởng tới khả năng tái sinh rừng Dẻ ở
Hà Bắc. Như vậy điều kiện đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới khả năng tái
11
sinh của cây rừng. Đặc điểm lí, hóa học của đất (đặc biệt là thành phần dinh
dưỡng, độ pH, thành phần cơ giới và độ ẩm của đất) có ảnh hưởng rất lớn đến
tổ thành rừng. Đất phát triển trên loại đá mẹ nào thì sẽ có loại đất ấy tương
ứng phù hợp với thành phần khoáng của loại đá mẹ đó.
Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn (1995) [30], khi nghiên cứu
quá trình tái sinh phục hồi thảm thực vật sau nương rẫy tại Sapa đã nhận định:
đất thoái hóa nhẹ thì quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật diễn ra
nhanh, nếu đất xấu (đất thoái hóa trung bình, nặng và rất nặng) thì quá trình
diễn ra ngược lại.
1.2.2.Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới đất
Thảm thực vật có tác dụng mạnh mẽ tới đất. Chúng làm thay đổi tính
chất lí, hóa học của đất từ đó có tác dụng cải tạo đất.
1.2.2.1. Những nghiên cứu về ảnh hưởng của thảm thực vật tới hệ sinh thái
đất rừng trên thế giới
Monin (1937) khi nghiên cứu trên các kiểu rừng khác nhau đã đưa ra kết
luận: rừng mưa nhiệt đới, chất rơi rụng hàng năm là 10 - 20 tấn/ha, rừng ôn
đới là 5 - 7 tấn/ha, thảm cỏ và thảo nguyên là 1-3 tấn/ha. Vậy mỗi kiểu
đất, ông cho thấy nguồn gốc từ xác cây xanh chiếm 4/5 tổng số chất hữu cơ
đưa vào đất. Tính trung bình hàng năm đất được thảm thực vật bổ sung vào
khoảng 2 - 10 tấn/ha chất hữu cơ. Tùy theo thảm thực vật khác nhau mà lượng
chất hữu cơ cung cấp hàng năm cho đất cũng khác nhau [16].
Nguyễn Trọng Điều (1992) cho biết dưới tán rừng thuần loại 5 - 6 tuổi
lượng chất rơi rụng xuống đất từ 5 - 10 tấn/ha/năm, trong đó chứa khoảng
80 - 90 kg đạm, 8 kg lân, 205 kg kali. Đặc biệt hàng năm lá phân hủy thành
chất mùn ở rừng rậm nhiệt đới gấp 5 lần rừng ôn đới [17].
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) khi nghiên cứu về một số đặc
điểm sinh thái, sinh vật học của sa van Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã
phát hiện được 60 họ thực vật khác nhau với 131 loài và đưa ra kết luận: đa dạng
13
về thành phần loài, dạng sống là yếu tố cải thiện tính chất lí hóa học của đất [22].
Khi nghiên cứu các loại đất rừng Việt Nam trên nhiều kiểu rừng tự nhiên
phân bố theo nhiều độ cao khác nhau, Hoàng Xuân Tý (1996) [44], Nguyễn Tử
Xiêm, Thái Phiên (1999) [45] cũng có nhận xét tương tự.
Lê Ngọc Công (1998) [15] khi nghiên cứu vai trò của độ che phủ ở
các trạng thái thảm thực vật có nhận xét: trị số PH
(KCl)
, hàm lượng mùn
và hàm lượng các chất dễ tiêu trong đất tăng tỉ lệ thuận với độ che phủ của
thảm thực vật.
Lê Ngọc Công (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng một số quần xã thực vật
đến môi trường đất trong các giai đoạn diễn thế phục hồi rừng sau nương rẫy ở
Thái Nguyên đã khẳng định: độ che phủ của thảm thực vật ảnh hưởng theo hướng
tốt tới tính chất hóa học của đất, tới lượng vi sinh vật, thành phần giun đất [14].
Nguyễn Thị Kim Anh (2006) khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số
thảm thực vật đến môi trường đất ở vùng đồi tỉnh Thái Nguyên đã đi đến kết
luận: thảm thực vật có vai trò quan trọng trong việc làm biến đổi tính chất hóa
chịu được nơi đất xấu (Hoàng Xuân Tý,1992 [43]).
Ở Indonexia có công trình nghiên cứu cây Muồng hoa pháo (Caliandra
calothyrsus) vừa để cải tạo đất vừa làm thức ăn cho gia súc (Hoàng Xuân
Tý,1992 [43]).
Ở Ấn Độ có công trình nghiên cứu cây Đậu triều (Cajanus cajan) là
cây cải tạo đất và trồng xen với cây ăn quả (Hoàng Xuân Tý,1992 [43]).
1.2.3.1. Những nghiên cứu về tác dụng cải tạo đất của thảm thực vật ở Việt Nam
Bùi Thị Huế (1990-1994), khi nghiên cứu ảnh hưởng của rừng trồng Bạch
đàn đến độ phì của đất và có những đánh giá rừng Bạch đàn có xu hướng làm khô
đất, hàm lượng đạm tổng số và chất dễ tiêu như NH4
+
, P
2
O
5
, K
2
O ở đất trồng
Bạch đàn nghèo hơn so với đất dưới rừng Keo lá tràm và rừng hỗn giao [21].
Trương Văn Lung (1996) với công trình nghiên cứu trồng cây bộ Đậu
cải tạo đất và hướng phát triển vườn đồi miền Tây Thừa Thiên Huế và có
những kết luận: Trồng cây bộ Đậu cải tạo đất thì mọi thành phần nông hóa của
đất đều được nâng lên rõ rệt. Sử dụng một số cây bộ Đậu làm tiên phong cải
tạo đất và định hướng phát triển theo mô hình vườn đồi là giải pháp hợp lý để
sử dụng có hiệu quả vùng gò đồi rộng lớn mà hiện nay đang ngày càng xói
mòn, trơ sỏi đá của Thừa Thiên Huế [28].
Hoàng Xuân Tý (1996) với công trình nghiên cứu nâng cao công nghệ
thâm canh rừng trồng (Bồ đề, Bạch đàn, Keo) sử dụng cây họ Đậu để cải tạo đất
và nâng cao chất lượng rừng như sử dụng cây Đậu triều Ấn Độ, cây Keo dậu,
cây Đậu tràm để diệt cỏ, chống cháy mùa khô, cải thiện độ phì cho đất [43].
Bái gồm 24 đơn vị hành chính xã, thị trấn. Trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn
Yên Thế cách thành phố Yên Bái 93km và Hà Nội 270km, có tuyến quốc lộ 70
chạy qua nối Hà Nội – Việt Trì – Yên Bái – Lào Cai. Phía Đông giáp huyện
Hàm Yên (Tuyên Quang), phía Tây giáp huyện Văn Yên, phía Nam giáp hồ
Thác Bà của huyện Yên Bình, phía Bắc giáp huyện Bắc Quang (Hà Giang). Địa
hình huyện Lục Yên bị chia cắt bởi 2 dãy núi chính chạy dọc theo hướng Tây
Bắc – Đông Nam, tạo ra thung lũng, bồn địa bằng phẳng. Đây là nơi dân cư tập
trung sản xuất và sinh sống từ lâu đời.
Sông Chảy phân chia huyện Lục Yên thành hai vùng địa hình tương đối rõ
nét. Phía hữu ngạn sông Chảy địa hình giới hạn bởi dãy núi Voi trải theo hướng
Tây Bắc – Đông Nam ưu thế thấp dần từ Tây sang Đông, phía tả ngạn sông Chảy
địa hình bao gồm hệ thống núi đá vôi chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam.
Xã Tân Phượng là một xã miền núi nằm ở phía Bắc huyện Lục Yên.
Phía Đông giáp xã Lâm Thượng (Lục Yên). Phía Tây, phía Nam giáp Huyện
Bảo Yên (Lao Cai). Phía Bắc giáp huyện Quang Bình (Hà Giang).
2.1.2. Địa hình
Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Tây Nam của dãy núi chính phân cách
ranh giới 3 huyện: Bảo Yên (Lao Cai), Quang Bình (Hà Giang) với Lục Yên