Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của đất bị nhiễm kim loại nặng (chì pb) đến thành phần loài và một số đặc điểm định lượng của bọ nhảy (insecta collembola) ở đồng mai, xã chỉ đạo, huyện văn lâm, tỉnh hưng yên - Pdf 31

`Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa: Sinh ktnn
============

Ngô Như Hải

Bước đầu nghiên cứu ảnh
hưởng của đất bị nhiễm kim
loại nặng (Chì: Pb) đến thành
phần loài và một số đặc điểm
định lượng của bọ nhảy
(Insecta: Collembola) ở Đông
Mai, xã chỉ đạo, huyện Văn Lâm,
tỉnh Hưng Yên

Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Động vật học

Hà Nội - 2008


Trường đại học sư phạm Hà Nội 2
Khoa: Sinh ktnn
============
Ngô Như Hải

Bước đầu nghiên cứu ảnh
hưởng của đất bị nhiễm kim
loại nặng (Chì: Pb) đến thành
phần loài và một số đặc điểm
định lượng của bọ nhảy

Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Sinh viên

Ngô Như Hải


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan: Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả
các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa
từng được ai công bố hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào từ trước tới nay.
Tôi xin cam đoan: Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được
ghi rõ nguồc gốc.
Sinh viên

Ngô Như Hải


Mục lục
lời cảm ơn
lời cam đoan
danh mục các bảng, các biểu đồ
Mở Đầu.

1

Mục đích của đề tài........

2


15

2.4.1.3. Quá trình phát triển của nghề tái chế ắc quy tại làng
Đông Mai. 15
2.4.1.4. Những nguy cơ đe dọa của hoạt động tái chế ắc quy... 16
2.4.2. Nghiên cứu ngoài thực địa..... 17
2.4.3. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.. 17
2.4.4. Xử lý số liệu......

19


2.5. Thành phần lý hoá của đất ở khu vực nghiên cứu 21
Chương 3: Kết quả nghiên cứu..... 23
3.1. Thành phần loài và phân bố của bọ nhảy ở khu vực nghiên cứu.. 23
3.1.1. Danh sách các loài bọ nhảy ở Đông Mai, xã Chỉ Đạo, Văn
Lâm, Hưng Yên. .......................... 23
3.1.2. Thành phần phân loại học của bọ nhảy ở Đông Mai, xã Chỉ
Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên. ......... 31
3.1.3. Đặc điểm phân bố cuả bọ nhảy ở Đông Mai.

32

3.1.3.1. Đặc điểm phân bố theo điểm thu mẫu..... 32
3.1.3.2. Phân bố theo sinh cảnh.....

33

3.1.3.3. Phân bố theo mùa 34
3.1.4. Sự tương đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu. 35

Bảng 7: Một số chỉ số định lượng của bọ nhảy ở khu vực nghiên cứu
2. Các biểu đồ
Biểu đồ 1: Số lượng loài bọ nhảy phân bố theo điểm thu mẫu
Biểu đồ 2: Số lượng loài bọ nhảy phân bố theo sinh cảnh
Biểu đồ 3: Số lượng loài bọ nhảy phân bố theo mùa
Biểu đồ 4: Chỉ số tương đồng thành phần loài Sorensen (q) giữa các
nhóm bọ nhảy ở khu vực Đông Mai, xã Chỉ Đạo, Văn Lâm,
Hưng Yên
Biểu đồ 5: Tương quan giữa hàm lượng chì trong đất với số lượng loài
bọ nhảy
Biểu đồ 6: Tương quan giữa hàm lượng chì trong đất với mật độ trung
bình
Biểu đồ 7: Tương quan giữa hàm lượng chì trong đất với độ đa dạng loài
H của bọ nhảy
Biểu đồ 8: Tương quan giữa hàm lượng chì trong đất với độ đồng đều J


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải
mở đầu

Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đất có chứa các nhân tố vô
sinh và hữu sinh. Nhân tố hữu sinh bao gồm: Sinh vật sản xuất là các loài thực
vật, sinh vật tiêu thụ và phân huỷ là các loài động vật đất, nấm và vi sinh vật.
Trong cấu trúc hệ động vật đất, nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) với
kích thước cơ thể nhỏ bé (0,1 0,2 đến 2 -3 mm) thường chiếm ưu thế về số
lượng so với các nhóm khác. Hai đại diện chính của chúng là nhóm Ve bét
(Arachnida:Acarina) và bọ nhảy (Insecta: Collembola). Bọ nhảy là một trong
những nhóm chân khớp nguyên thuỷ sống ở đất.


tập trung vào các hướng: Nghiên cứu đa dạng sinh học và khu hệ, nghiên cứu
về các đặc điểm sinh thái, nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của bọ nhảy
trong môi trường đất, nghiên cứu về ảnh hưởng của một số tác nhân: nồng độ
axit (pH), chất độc hoá học (Dioxin), một số hoá chất bảo vệ thực vật, phân
bón hữu cơ, vô cơ, một số phương thức canh tác, sử dụng đất, lớp thảm phủ
thực vậtđến cấu trúc định tính, định lượng bọ nhảy.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của đất bị nhiễm kim
loại nặng đến sự tồn tại và phát triển của bọ nhảy còn là vấn đề mới. Vì vậy,
chúng tôi đã chọn đề tài Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của đất bị
nhiễm kim loại nặng (Chì: Pb) đến thành phần loài và một số đặc điểm
định lượng của bọ nhảy (Insecta: Collembola) ở Đông Mai, xã Chỉ Đạo,
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Mục đích của đề tài:
Thăm dò mức độ ảnh hưởng của đất bị nhiễm kim loại nặng (Chì: Pb)
đến thành phần loài và một số đặc điểm định lượng của bọ nhảy ở Đông Mai,
huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Nội dung của đề tài:
- Lập một danh sách thành phần loài bọ nhảy tương đối đầy đủ ở khu
vực nghiên cứu.
- Phân tích đặc điểm phân bố của bọ nhảy theo điểm thu mẫu, theo sinh
cảnh và theo mùa. Phát hiện các loài bọ nhảy ưu thế, phổ biến ở khu vực
nghiên cứu.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của của đất bị nhiễm chì (Pb) đến một số
chỉ số định lượng của bọ nhảy: số lượng loài, mật độ trung bình, chỉ số đa
dạng, chỉ số đồng đều ở khu vực nghiên cứu.

K30A - Khoa Sinh - KTNN

2

tâm tới bọ nhảy như các công trình nghiên cứu của Muller, 1776; Templeta,
1835; Brauer, 1869; Lubbock, 1870; Sheaffer, 1899nhưng các công trình
này mới dừng lại ở mức độ thống kê miêu tả loài mới [21].
Cho đến nay, hai công trình nghiên cứu về khu hệ bọ nhảy được coi là
cơ bản và đầy đủ nhất là Khu hệ bọ nhảy của Châu Âu của Gisin, 1960 và

K30A - Khoa Sinh - KTNN

3

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải

Bọ nhảy Ba Lan trong mối liên hệ với khu hệ bọ nhảy thế giới của Stach
(1947 - 1963) [21, 35].
Về mặt sinh học bọ nhảy, có Butcher et al, 1971, Cassagnau, 1969b 1971a; Massousd, Pinot, 1973; Tamura; Mihara, 1977, 1981, Varshav, 1984
là các tác giả đã đi sâu nghiên cứu lĩnh vực này. Những nghiên cứu cho thấy
tính đặc trưng nguyên thuỷ của bọ nhảy thể hiện ở lối sinh sản mà sự thụ tinh
xảy ra không có sự giao phối bên trong cơ thể. Sự phát triển của bọ nhảy từ lúc
nở đến lúc chết đi thường chỉ phân biệt 2 giai đoạn: giai đoạn non (trước lúc
trưởng thành) và giai đoạn trưởng thành [10, 21].
Bọ nhảy cư trú rộng khắp bề mặt trái đất và liên quan đến tất cả các
kiểu đất, các kiểu thảm thực vật. Một trong những nơi sinh sống chủ yếu của
chúng là lớp thảm vụn thực vật trên bề mặt trái đất. Chúng thích ứng với chế
độ đất đa dạng nhất và nhiều loài có thể sống trong những điều kiện cực kì bất
lợi của môi trường. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của động vật đất tới quá

35, 40].
Các tác giả nước ngoài đều có nhân xét: Có thể sử dụng động vật đất
như những chỉ thị sinh học nhạy cảm, tin cậy khi đánh giá mức độ ô nhiễm đất
bởi các hoá chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón các loại(Vander
Bund, 1965; Utrobina et al., 1984; Paoleti et al., 1995) [21, 41]. Cấu trúc quần
xã bọ nhảy phản ánh khá rõ nét sự nhiễm độc dầu và có thể sử dụng chúng
không chỉ cho mức độ và thời gian nhiễm độc mà còn cho cả giai đoạn của
quá trình phục hồi đất (Utrobina et al., 1984). Sự cư trú của bọ nhảy có thể là
chỉ thị sinh học chặt chẽ cho điều kiện của đất, đồng thời soi sáng hướng khởi
đầu của sự biến đổi rất lâu từ trước khi có lớp phủ thực vật có phản ứng
(Chernova, 1988, Taraschuk, 1995) [10, 43]; Những phản ứng của bọ nhảy ,
Acarina đối với hoá chất độc có thể sử dụng làm chỉ thị tốt, thậm chí chỉ với
các vết của chất này trong đất (Suberta, 1988, Chernova, 1988) [10]; đặc tính
phức tạp và động thái quần xã chân khớp bé có thể sử dụng như những chỉ thị
xa về hướng của quá trình phục hồi trên những vùng đất bị vi phạm
(Eijsackers, 1983) [34]. Đối với những thay đổi bất kì của điều kiện môi
trường sống dù là nhỏ bé cũng thường dẫn đến những phản ứng khá nhạy cảm
và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã chân khớp bé ở đất (Cornabg, 1995;
Eijsackers, 1983) [32, 34]. Cấu trúc của nhóm bọ nhảy như chỉ thị sinh học
cho các điều kiện của cây trồng trong khu vực đô thị ( Kuznetzova, 1994,
Chidzicke et al., 1994). Bọ nhảy là các đại diện sống trong các khoang hốc ở
đất và ở lớp thảm trên bề mặt đất, là những đối tượng nhảy cảm với môi
trường ô nhiễm bởi kim loại nặng. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của Cadimi,
kẽm, đồng đến nhóm đối tượng này đã được thực hiện trong những năm gần

K30A - Khoa Sinh - KTNN

5

Trường ĐHSP Hà Nội 2

khu vực khác nhau, trải dài từ Bắc vào Nam như: VQG Tam Đảo, VQG Cát
Tiên (2002 - 2004), VQG Cát Bà (2005 - 2006), VQG Ba Bể (2002), KBTTN
Na Hang, Tuyên Quang (2002 -2003), KBTTN Đakrong, Quảng Trị (2002 -

K30A - Khoa Sinh - KTNN

6

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải

2003), KBTTN Thượng Tiến, Hòa Bình (2005), khu vực miền Trung, Nam
Trung Bộ và Nam Bộ (2004 -2006), khu vực phía Tây Quảng Nam, Quảng Trị,
Thừa Thiên - Huế (2008)...Trong thời gian từ 1995 - 2005, đã miêu tả và công
bố 27 loài bọ nhảy mới cho khoa học và bổ sung thêm hơn 50 loài mới cho
khu hệ bọ nhảy Việt Nam [9, 15, 16, 19, 23, 24].
Về đặc điểm sinh thái học: Là một nội dung quan trọng được thực hiện
đồng thời với việc nghiên cứu khu hệ Bọ nhảy ở tất cả các điểm điều tra thực
địa. Các chỉ số: mật độ quần thể (độ phong phú), tỷ lệ phần trăm các nhóm
dạng sống, các nhóm sinh thái, các nhóm loài ưu thế, phổ biến và cấu trúc ưu
thế, độ tập trung loài (G), độ ưu thế (D), độ thường gặp (C), chỉ số đa dạng
Shannon - Weaner (H), chỉ số đồng đều Pielou (J'), chỉ số tương đồng thành
phần loài Jaccard (S), Sorensen (q)...đều được phân tích đánh giá. Kết quả
phân tích các chỉ số này cho phép hình dung được tương đối đầy đủ mối quan
hệ hữu cơ của bọ nhảy với các điều kiện sống của môi trường nơi nghiên cứu.
Từ đó, phát hiện các quy luật chi phối sự phân bố, sự hình thành cấu trúc

- Tác động của hóa chất bảo vệ thực vật nói chung (trong đó có thuốc
trừ sâu, diệt cỏ), đặc biệt là thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ, cacbonat đã làm
giảm số lượng loài, giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh vật đất. Thuốc trừ
sâu dù sử dụng ở nồng độ và chu kỳ nào cũng làm thay đổi cấu trúc quần xã
của hệ động vật đất và cấu trúc ưu thế của nhóm chân khớp. Việc phá vỡ và
thay đổi cấu trúc này dẫn đến sự gia tăng vượt trội số lượng cá thể của một
hay vài loài hạt nhân, mà mật độ của cả quần xã động vật đất được quy định
bởi chính các loài này. Trong nghiên cứu sinh thái học chỉ thị, việc xuất hiện
sự ưu thế bất thường trong cấu trúc quần xã động vật được xem xét nhự một
chỉ số xác định mức độ thoái hóa của môi trường đất (E. Chidzicke, E.
Shibinska, 1994)) [25, 26].
- Nghiên cứu thực địa ở khu vực công ty Suppephotphat và hóa chất
Lâm Thao (Phú Thọ) năm 2000-2001 cho thấy: Đất bị nhiễm độc axit dù ít
hay nhiều đều làm suy giảm số lượng loài, mật độ, sinh khối và chỉ số đa dạng
loài (H') của bọ nhảy và giun đất. Các tác giả đề xuất có thể sử dụng 2 tham số
là giá trị chỉ số đa dạng loài bọ nhảy (H)và sự có mặt hay vắng mặt của
Cyphoderus javanus (thuộc bọ nhảy), của Pheretima robusta (thuộc giun đất)
như công cụ đánh giá mức độ nhiễm độ đất bởi axit [25].
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc hóa học (Dioxin) đến bọ nhảy và
giun đất ở khu vực A Lưới (Thừa Thiên - Huế ) và Mã Đà (Đồng Nai) trong
thời gian 2000 -2004 cho thấy: Cấu trúc ưu thế của bọ nhảy ở sinh cảnh trảng
cỏ và rừng tự nhiên khu vực A Lưới, Mã Đà mang dạng đặc trưng cho kiểu

K30A - Khoa Sinh - KTNN

8

Trường ĐHSP Hà Nội 2




K30A - Khoa Sinh - KTNN

9

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải

(nông trường Sao Đỏ, xã Phiêng Luông, Mộc Châu, Sơn La); đất tạo tiểu bậc
thang (Na Rì, Bắc Cạn); đất trồng cây đơn loại: ngô, mía, sắn hay trồng xen 2,
3 loại cây với nhau (Yên Thủy, Hòa Bình; Chiềng Mai, Sơn La) v. v. Từ kết
quả phân tích dẫn liệu thu được, các tác giả đã nhận xét: Với kỹ thuật tạo tiểu
bậc thang và phủ xác hữu cơ, giá trị các chỉ số định lượng của bọ nhảy và giun
đất ở điểm thí nghiệm đều lớn hơn so với đối chứng. Với kỹ thuât trồng xen,
trồng phủ thảm thực vật tươi: giá trị các chỉ số định lượng của 2 nhóm động
vật đất nêu trên ở các lô thí nghiệm cũng lớn hơn so với đối chứng. Như vậy,
các biện pháp kỹ thuật tạo tiểu bậc thang, phủ xác thực vật khô hoặc tươi, kỹ
thuật trồng xen lạc, xen đậu hay kết hợp 2 - 3 loại cây với nhau ở đất bằng hay
đất dốc canh tác nông nghiệp đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt tính sinh học
đất hoặc bằng việc cung cấp, bổ sung thêm nguồn dinh dưỡng cho đất, tạo
thêm nhiều ổ sinh thái, nơi ẩn nấp mới hoặc bằng cách cải thiện điều kiện môi
trường sinh thái thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển cả về số lượng loài, mật
độ, sinh khối và tính đa dạng loài của hệ sinh vật đất. Tuy nhiên, các biện
pháp kỹ thuật này cũng có mặt hạn chế, phần nào tác động tiêu cực đến độ
đồng đều của quần xã (chỉ số đồng đều J' có chiều hướng giảm ở đất phủ xác
hữu cơ), làm tính ổn định của quần xã không cao [4, 15, 28].

còn hạn chế về nội dung và địa điểm nghiên cứu, mang tính chất thăm dò,
định hướng. Rất nhiều vấn đề về chỉ thị sinh học và sử dụng động vật đất nói
chung, bọ nhảy nói riêng làm sinh vật chỉ thị đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên
cứu trong thời gian tới.

K30A - Khoa Sinh - KTNN

11

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải
Chương 2

Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bọ nhảy (Collembola) động vật chân khớp cỡ hiển vi, thuộc lớp côn
trùng (Insecta), ngành chân khớp (Arthropoda) sống trong môi trường đất.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007, với 4 đợt điều tra thực địa:
- Tháng 3 năm 2006: Thu mẫu đợt 1 (tương ứng với mùa khô).
- Tháng 8 năm 2006: Thu mẫu đợt 2 (tương ứng với mùa mưa).
- Tháng 3 năm 2007: Thu mẫu đợt 3 (tương ứng với mùa khô).
- Tháng 8 năm 2007: Thu mẫu đợt 4 (tương ứng với mùa mưa)
Các khoảng thời gian giữa các đợt thu mẫu chúng tôi tiến hành lọc và
phân tích mẫu, xử lý số liệu tại phòng Sinh thái môi trường đất, viện Sinh thái

W
3
Cầu vượt

E

2B
S

Đường liên tỉnh số 388 đi Hải Dương

Quốc lộ 5

6A

1

6B

Lò nấu chì

2A

Chú thích:
Điểm 1: Khu vực lò nấu chì.
Điểm 2A: Điểm lấy mẫu cách lò nấu chì 300m về hướng Nam.
Điểm 2B: Điểm lấy mẫu cách lò nấu chì 300m về hướng Bắc.
Điểm 3: Khu vực đất cỏ hoang tự nhiên thuộc xóm Ngọc, Lạc Đạo
(cách lò nấu chì 4 km về hướng Tây-điểm thu mẫu đối chứng, không có hoạt
động tái chế ắc quy)

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 240C, khoảng 70 120 ngày
trong năm có nhiệt độ thấp hơn 200C, khoảng 245 175 ngày trong năm có
nhiệt độ cao hơn 200C.
Nhiệt độ trung bình cao nhất đạt 32,20C vào các tháng 6, 7. Nhiệt độ
trung bình thấp nhất là 13,90C vào các tháng 1, 2.
- Đặc điểm thổ nhưỡng: Đất của khu vực nghiên cứu thuộc nhóm đất
phù sa không được bồi đắp hàng năm do sông Đuống tạo thành. Loại đất này
có đặc điểm là:

K30A - Khoa Sinh - KTNN

14

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải

+ Đất có phản ứng trung tính do tính chất phù sa hoá và quá trình
thâm canh trồng lúa nước.
+ Đất có hàm lượng mùn cao.
+ Đất có thành phần cơ giới là thịt nặng, giàu sét, hàm lượng mùn
cao nên đất này có dung tích hấp phụ cao (bảng 1) [19, 29].
2.4.1.2. Tình hình kinh tế xã hội tại làng Đông Mai
Làng Đông Mai hiện có 600 hộ, 2300 nhân khẩu, số lao động nông
nghiệp khoảng 800 người. Nhìn chung, đời sống của người dân hiện nay vẫn
chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp đã đi vào thâm
canh khá cao, thường một năm có 2 vụ lúa và khoảng 30% diện tích đất canh

trình tái chế ắc quy gần như không có gì thay đổi trong những năm qua với
hiệu suất tái chế đạt khoảng từ 20% 60% [29].
2.4.1.4. Những nguy cơ đe doạ của hoạt động tái chế ắc quy
Theo tác giả Lê Đức thì sự phát thải chì từ quá trình tái chế chì từ ắc
quy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm chì đối với môi trường đất tại làng
Đông Mai. Số liệu phân tích 21 mẫu đất tại làng Đông Mai của tác giả Lê Đức
và cộng sự đã cho thấy cả 21 mẫu đất này đều có hàm lượng chì vượt quá tiêu
chuẩn cho phép từ 3 48 lần [11, 12].
Trên cơ sở đó, tác giả Lê Đức và cộng sự kết luận việc nấu tái chế chì
đã có ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường đất ở đây. Tại một số điểm
của khu vực làng nghề Đông Mai hàm lượng chì dao động trong khoảng
659,83 mg/ kg đất đến 96,456 mg/ kg đất, đặc biệt mẫu trầm tích lên đến
196,362 mg/kg.
Sự ô nhiễm kim loại nặng ở môi trường sẽ dẫn đến hàm lượng các kim
loại này được tích tụ trong các thực vật sống lân cận, gây nguy cơ khuếch đại
sinh học theo các mắt xích của chuỗi dinh dưỡng, làm tổn hại sức khoẻ con
người.
Tác giả Đặng Thị An và cộng sự (2005, 2007), Chu Thị Hà và cs (2007)
nghiên cứu các hoạt động chế biến mỏ kẽm chì ở Thái Nguyên và tái chế chì
ở Hưng Yên đã đưa ra kết luận: Đất ở các khu vực trên đã bị nhiễm chì và
Cadimi ở mức rất cao. Hàm lượng chì rất cao trong đất vườn của các gia đình
tái chế chì ở Văn Lâm Hưng Yên ( Pb: 7.103 15.103 ppm) và đất cách khu
lò nấu chì khoảng 20 m (Pb: 2.103 104 ppm).Chỉ số ô nhiễm đất bởi chì ở
các khu ruộng trong vòng bán kính 300 m so với lò cao hơn mức an toàn từ
hơn 3,5 lần tới 100 lần [2, 3]. Hàm lượng Pb trong đất trồng trọt từ 964 ppm
đến 7070 ppm (ruộng lúa), từ 700 ppm đến 3500 ppm (ruộng rau muống),
vượt xa mức ở đất đối chứng (đất lúa = 85 ppm, đất rau = 90 ppm). Gạo và rau

K30A - Khoa Sinh - KTNN


lớp đất phía trên bị khô dần.
+ Cấu tạo phễu:
Phễu có hình tam giác, làm bằng bìa cát tông nhẵn. Đường kính miệng
phễu 25cm, chiều dài phễu 30 35cm. Đáy phễu có 1 lỗ nhỏ gắn với ống
nghiệm, bên trong phễu chứa dung dịch định hình để hứng mẫu. Trên miệng
phễu là rây lọc, rây lọc có đường kính 15cm, thành bao quanh rây lọc làm

K30A - Khoa Sinh - KTNN

17

Trường ĐHSP Hà Nội 2


Luận văn tốt nghiệp

Ngô Như Hải

bằng sắt có chiều cao 5cm, phía dưới rây lọc có gắn tấm lưới lọc với đường
kính lỗ lưới là 1x1mm
+ Đặt mẫu:
Trước khi đặt mẫu phải đảm bảo phễu lọc, rây lọc sạch, không có bụi
hoặc vầt khác bám vào. Đặt phễu lên giá, đáy phễu gắn vào ống nghiệm nhỏ
trong có chứa dung dịch định hình (chiếm khoảng 2/3 thể tích ống nghiệm) là
formon 4% hay cồn Ethylic 700. Trong ống nghiệm có nhãn ghi đầy đủ ngày,
tháng, năm, địa điểm và sinh cảnh lấy mẫu (nếu 1 sinh cảnh có nhiều mẫu thì
đánh số thứ tự để dễ theo dõi). Đất được đặt trên bề mặt lưới. Phần đất vụn lọt
qua lỗ lưới phải được đổ vào rây trước khi đặt rây lên miệng phễu.
+ Thời gian lọc mẫu:
Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ, độ ẩm và không khí nơi đặt mẫu. Với nhiệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status