Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Học Và Sức Sản Xuất Của Gà Đa Cựa Nuôi Tại Xã Xuân Sơn Huyện Tân Sơn Tỉnh Phú Thọ - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI THẾ HOÀN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ SỨC SẢN XUẤT CỦA GÀ ĐA CỰA NUÔI TẠI
XÃ XUÂN SƠN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRƯƠNG HỮU DŨNG

THÁI NGUYÊN - 2014


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và
kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.

Tác giả luận văn

Bùi Thế Hoàn

2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu ...................................................... 3
1.1.1. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm .......................... 3
1.1.2. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng
tới khả năng sinh trưởng của gia cầm ............................................................... 6
1.1.3. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh sản của gia cầm ..................... 15
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 23
1.2.1. Tình hình nghiên cứu gia cầm trên thế giới .......................................... 23
1.2.2. Tình hình nghiên cứu gia cầm ở Việt Nam ........................................... 24
1.3. Vài nét về gà Đa Cựa ............................................................................... 26
1.4. Một số đặc điểm tự nhiên của xã Xuân Sơn ............................................ 27
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .............................................................................................. 29
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 29
2.2. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 29


iv

2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 29
2.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 29
2.4.1. Phương pháp theo dõi đặc điểm sinh học gà Đa Cựa ........................... 29
2.4.2. Phương pháp theo dõi sinh trưởng của gà Đa Cựa ............................... 30
2.4.3. Phương pháp phân tích thành phần hóa học, chất lượng thịt ................ 31
2.4.4. Phương pháp theo dõi sinh sản của gà Đa Cựa..................................... 33
2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu ............................................................................ 33
2.5.1. Các chỉ tiêu về đặc điểm sinh học ......................................................... 33
2.5.2. Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục ................................................................... 33


vi

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
cs

:

Cộng sự

ĐVT

:

Đơn vị tính

KL

:

Khối lượng

NST

:

Năng suất trứng

STT


Bảng 3.5: Đặc điểm màu lông của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi ............................ 44
Bảng 3.6. Kiểu mào của gà Đa Cựa 28 tuần tuổi ............................................ 46
Bảng 3.7. Số cựa hai bên chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi ........................... 48
Bảng 3.8. Màu da chân của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi ....................................... 49
Bảng 3.9: Tập tính sinh hoạt của gà Đa Cựa 20 tuần tuổi .............................. 50
Bảng 3.10: Một số chỉ tiêu về tuổi thành thục sinh dục của gà Đa Cựa ......... 51
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu về tỉ lệ đẻ và năng suất trứng............................... 53
Bảng 3.12: Một số chỉ tiêu chất lượng trứng của đàn gà thí nghiệm .............. 55
Bảng 3.13. Sinh trưởng tích lũy của gà Đa Cựa 0 - 28 tuần tuổi (g) .............. 58
Bảng 3.14: Khảo sát thành phần thân thịt của giống gà Đa Cựa ở các độ tuổi
khác nhau ........................................................................................ 62
Bảng 3.15: Phân tích một số thành phần hóa học của thịt ngực gà Đa Cựa ở 20
tuần tuổi (n=3)................................................................................. 64
Bảng 3.16: Độ pH của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi ..................................... 65
Bảng 3.17: Tỷ lệ mất nước do bảo quản, chế biến vàđộ dai của thịt gà Đa Cựa
ở 20 tuần tuổi .................................................................................. 67
Bảng 3.18: Màu sắc sau bảo quản 24h của thịt gà Đa Cựa ở 20 tuần tuổi ..... 68


viii

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Gà Đa Cựa 1 ngày tuổi ................................................................... 44
Hình 3.2. Một số màu lông gà 20 tuần ........................................................... 45
Hình 3.3. Kiểu mào trái dâu ........................................................................... 46
Hình 3.4. Kiểu mào cờ ................................................................................... 46
Hình 3.6. Gà trống 7 cựa 20 tuần tuổi ............................................................ 48
Hình 3.7. Đồ thị tỷ lệ đẻ của đàn gà thí nghiệm theo dõi tại 12 nông hộ .. 54
Hình 3.8. Đồ thị sinh trưởng từ sơ sinh đến 28 tuần tuổi của gà Đa Cựa ...... 61




2

giống gà quý, có khả năng chống chịu với các loại bệnh cao, nhưng hiện nay
gà Đa Cựa có số lượng ít, phân tán, tỷ lệ nuôi sống thấp, thường bị lai tạp với
các giống gà khác và cũng chưa có nhiều nghiên cứu về giống gà này.
Để đóng góp cơ sở khoa học cho việc đánh giá một cách có hệ thống về
giống gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ và
cung cấp số liệu cơ sở để so sánh với các giống nội địa khác. Cũng như góp
phần nâng cao chất lượng, số lượng của giống gà này ở các địa phương trong
tỉnh, nhằm tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc
vùng cao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu đặc điểm sinh
học và sức sản xuất của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn huyện Tân Sơn
tỉnh Phú Thọ".
2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được cơ cấu, sự phân bố, đặc điểm sinh học và sức sản xuất
của gà Đa Cựa nuôi tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin đầu tiên về gà Đa Cựa nuôi
trong nông hộ tại xã Xuân Sơn-Tân Sơn-Phú Thọ.
Các số liệu thu được phục vụ cho công tác bảo tồn quỹ gen vật nuôi,
thành lập giống gà mới, là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu phát triển
tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ về đặc điểm sinh học, khả năng
sinh trưởng, sản xuất của gà Đa Cựa. Từ đó cung cấp thông tin kỹ thuật, kinh
tế giúp người chăn nuôi lựa chọn phương thức nuôi phù hợp. Giúp các nhà
quản lý trong việc định hướng bảo tồn nguồn gen vật nuôi, nhằm tạo ra sản
phẩm có giá trị, nâng cao hiệu quả chăn nuôi trong nông hộ để phát triển hơn
nữa gà Đa Cựa.



4

qua các tế bào Stratun corneum trong vắt của cẳng chân. Nếu cũng trong
lớp da ấy mà lại có xantofin nữa thì màu trở thành xanh. Ở các giống có
màu sắc đen, màu vàng có thể hoàn toàn do màu đen che lấp.
Giải thích di truyền màu sắc da của các loại gia cầm như vậy, còn về
màu sắc lông thì phức tạp hơn. Sự thay đổi về màu sắc lông do các nguyên
nhân: thứ nhất là do màu sắc, hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế
bào, thứ hai là số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thâu nhạy ánh
sáng của các tế bào ấy (Hutt). Vì vậy, loại màu sắc này phụ thuộc vào cấu
trúc. Ví dụ: các màu xanh, đỏ thường thấy ở gà đen. Ở phần lớn các giống
gà, gà trống và gà mái được phân biệt nhau qua bộ lông, lông gáy, vòng
cung cánh và lông seo ở gà trống thì nhọn, cong và dài. Tính trạng màu sắc
và kiểu lông là tính trạng bị giới hạn bởi giới tính.
Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái.
Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng
cho từng giống. Theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ
(mào đơn), mào hạt đậu, mào hoa hồng, mào nụ.
Cổ, bàn và ngón chân thường có vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn
gân và da. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh sinh sản và
đấu tranh sinh tồn của loài. Chân gia cầm có 4 ngón, hiếm khi 5 ngón vì thế
khi phát hiện chân gà Đa Cựa có từ 3-8 cựa (ngón) là phát hiện mới cần có
các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về giống gà địa phương này.
1.1.1.2. Tập tính và sức đề kháng
Tập tính động vật là chuỗi những phản ứng trả lời lại các kích thích
của môi trường (bên trong cũng như bên ngoài cơ thể) nhờ đó mà động vật
tồn tại và phát triển.
Dựa vào các đặc điểm của tập tính động vật, có thể phân biệt thành 2

92,11% (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999) [42].


6
1.1.2. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh
hưởng tới khả năng sinh trưởng của gia cầm
1.1.2.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
Về mặt sinh học, sự sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp
protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá
khả năng sinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân
theo những quy luật nhất định. Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] cho biết:
Mydedorpho A.F là người đầu tiên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai
đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh,
sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi.
* Khái niệm sinh trưởng:
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp, duy trì từ khi
phôi được hình thành cho đến khi con vật đã trưởng thành.
Trần Đình Miên và cs, (1995)[24] đã khái quát: Sinh trưởng là một quá
trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều
cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn
bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước.
Mozan, (1977) (trích theo Chamber, 1990)[46] đã định nghĩa: “Sinh
trưởng là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những
bộ phận này không những khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc
vào chế độ dinh dưỡng”.
Khái quát hơn, Trần Đình Miên và cs, (1992)[22] đã định nghĩa đầy đủ
như sau “Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và
dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận
và toàn cơ thể của con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”. Cùng
với quá trình sinh trưởng, các tổ chức và cơ quan của cơ thể luôn luôn phát

riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn.


8
Theo Lê Đình Lương và cs, (1994)[18] các giống gia súc, gia cầm đều
nhận được từ tổ tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó
có các tính trạng số lượng. Đó chính là những đặc điểm di truyền của giống
hoặc dòng, nhưng những khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ
thuộc rất nhiều vào môi trường sống của chúng như thức ăn, điều kiện chăm
sóc nuôi dưỡng và khí hậu.
a) Ảnh hưởng của dòng, giống:
Mỗi dòng hay mỗi giống gia cầm có nhiều điểm khác nhau về đặc điểm
ngoại hình, sức sản xuất, khả năng kháng bệnh…từ đó ảnh hưởng rất lớn đến
sự sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá
thể, giữa dòng, giống có sự sai khác.
Theo Godfrey and cs, (1952)[51] sự di truyền về khối lượng cơ thể do
15 cặp gen tham gia trong đó có ít nhất một gen sinh trưởng liên kết với giới
tính ( nằm trên nhiễm sắc thể X) vì vậy có sự khác nhau về khối lượng cơ thể
giữa con mái và con trống trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái từ
24 - 32%. Ở gà, các giống gà hướng trứng nhẹ hơn các giống gà hướng thịt 2
lần và giống gà kiêm dụng 1,3 - 1,7 lần.
Dẫn theo tài liệu của Đào Văn Khanh, (2002)[14] thì Boshhlebao and
cs, (1972) cho rằng sự tồn tại của các gen hoặc các nhóm gen trong các
dòng, giống gia súc, gia cầm rất khác nhau nên dòng, giống khác nhau có
tốc độ sinh trưởng không giống nhau. Letner and cs, (1938)[54] đã so sánh
tốc độ sinh trưởng của các giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới
24 tuần tuổi cho rằng gà Plymouth Tock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn
từ 3 - 6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác nhau. Nguyễn Mạnh Hùng và
cs (1994)[11] cho biết sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm
rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 - 700g

để đạt được năng suất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng.


10
Gia cầm sử dụng thức ăn nhằm đảm bảo các hoạt động duy trì cơ thể và
sản xuất (sinh trưởng, sản xuất trứng). Năng lượng và protein là hai yếu tố
dinh dưỡng quan trọng nhất trong khẩu phần thức ăn của gà. Ngoài ra trong
dinh dưỡng gia cầm các thành phần như acid béo, khoáng, vitamin và nước
cũng không thể thiếu được. Khoáng vô cơ là một thành phần trong khẩu phần
ăn dưới dạng canxi (Ca), photpho (P), natri (Na), kali (K), mangan (Mn) và
clo (CL), những nguyên tố này có chức năng khác nhau, đặc biệt là ba nguyên
tố Ca, P và Na có vai trò trong việc hình thành xương, vỏ trứng, điều khiển
chức năng thẩm thấu của cơ thể và hoạt động như những chất bổ trợ của
Enzyme. Đồng (Cu), Iod (I), sắt (Fe), Mangan (Mn), Selen ( Se) là những yếu
tố vi lượng.
Vitamin là hợp chất hữu cơ được chia thành hai nhóm: Nhóm hòa tan
trong nước và nhóm hòa tan trong dầu mà gia cầm chỉ cần một lượng nhỏ sinh
tố trong khẩu phần.
c) Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng của gia cầm
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia
cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng...Trong đó nhiệt độ và
ẩm độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc
độ sinh trưởng của gia cầm. Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự
ảnh hưởng của hai yếu tố này.
+ Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ:
Gà con ở giai đoạn còn nhỏ (30 ngày tuổi đầu) cơ quan điều khiển nhiệt
chưa hoàn chỉnh, cho nên yêu cầu về nhiệt độ tương đối cao. Nó rất nhạy cảm
với tác động của điều kiện khí hậu thay đổi. Những ngày đầu tiên thân nhiệt
của gà con mới nở không ổn định và phụ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi. Vì

Văn Khanh, 2002)[14] xác nhận: Gà con nở vào mùa xuân, thường sinh trưởng
kém trong 15 ngày đầu, sau đó tốc độ sinh trưởng kéo dài đến 3 tháng tuổi.


12
Smetner (1975) đã chứng minh rằng: Gà con nở vào mùa xuân và mùa hè, thời
gian đầu sinh trưởng kém, ngược lại nở vào mùa thu thì gà sinh trưởng tốt ngay
trong những ngày tuổi đầu. Như vậy trong điều kiện khí hậu tối ưu, ẩm độ thấp,
thời tiết mát mẻ sẽ ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng của gia cầm. (trích từ Đào
Văn Khanh, 2002)[14]
+ Ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng:
Gia cầm rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và
giai đoạn gà đẻ. Thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho gà ăn, uống, vận động, ảnh hưởng tốt đến khả năng
sinh trưởng. Theo Bùi Đức Lũng và cs (1993)[17] gà broiler cần được
chiếu sáng 23 giờ/ngày khi nuôi trong nhà kín.
d) Ảnh hưởng của kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc
Chăn nuôi gia cầm là ngành đang phát triển mạnh ở nước ta, song
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gà nói riêng là vấn đề nan giải đối với
những nước có khí hậu không thuận hoà. Khí hậu nước ta thuộc loại khí
hậu nhiệt đới gió mùa. Trong quá trình chăn nuôi, rất nhiều tác nhân khí
hậu đã có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi như nhiệt độ, ẩm độ
không khí, ánh sáng... cho nên ở nước ta, nhất là ở miền Bắc phải có
những biện pháp bảo vệ chuồng nuôi chu đáo. Những biện pháp như che
gió, thông thoáng, sưởi ấm... nhằm tạo ra tiểu khí hậu chuồng nuôi tối ưu,
cũng như nuôi ở mật độ hợp lý, vận dụng một cách linh hoạt tuỳ thuộc
vào sự biến động của thời tiết là một việc làm cần thiết để triệt tiêu hoặc
làm hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng bất lợi của môi trường,
sẽ giúp chăn nuôi đạt kết quả cao.
Sự biến đổi của tiểu khí hậu trong chuồng nuôi về tính chất vật lý



14
Đối với gà đẻ trứng sinh trưởng tích luỹ ( đặc biệt giai đoạn hậu bị )
liên quan chặt chẽ đến khả năng sinh sản của gà ở giai đoạn đẻ trứng. Nếu
khối lượng cơ thể nhỏ thì khả năng sinh sản thấp, nếu khối lượng cơ thể lớn
thì tiêu tốn thức ăn tăng. Như vậy khối lượng cơ thể gà mái đẻ trứng có ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế.
Trần Long (1994)[16] đã nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các
dòng gà V1, V3, V5 thuộc giống gà Hybro (HV 85), đường cong sinh trưởng
của 3 dòng gà có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và mái
cũng có sự khác nhau: Tốc độ sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà
trống và 6 - 7 tuần đối với gà mái.
Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể
tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát. Trong chăn nuôi
thường sử dụng chỉ tiêu (gram/con/ ngày hoặc gram/con/ tháng) để đánh giá
sinh trưởng tuyệt. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabon.
Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm (%) tăng lên của khối lượng,
kích thước và thể tích cơ thể lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát.
Đồ thị sinh trưởng tương đối có dạng hyperbon.
1.1.2.4. Tiêu tốn thức ăn ở gia cầm
Theo Chambers and cs (1984) [47], hệ số tương quan giữa khối lượng
cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường rất cao (r = 0,5 - 0,9).
Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là tương quan nghịch
(từ r = -0,2 đến -0,8). Willson (1969) [57] đã xác định hệ số tương quan giữa
khả năng tăng khối lượng cơ thể và hiệu quả chuyển hoá thức ăn từ 1 - 4 tuần
tuổi là r = 0,5.
Những giai đoạn đầu, tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với các giai đoạn
sau. Theo Trần Công Xuân và cs (1995)[44], gà broiler Ross 208 - V35 được
nuôi cùng chế độ dinh dưỡng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng ở 4; 6 và 8 tuần

có thể đếm được 3600 trứng, trong khi đó Hutt (1978) đã đếm và cho biết


16

số lượng tế bào trứng của gà mái có thể lên tới hàng triệu tế bào. Còn Frege
(1978) cho rằng tế bào trứng lúc bắt đầu đẻ là 900 - 3500 ở gà mái, 1500 ở
vịt mái, nhưng chỉ có một số lượng rất hạn chế được chín và rụng (dẫn theo
Lê Thị Nga, 2004) [25].
1.1.3.2. Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt
của một loài, trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó.
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện qua các chỉ tiêu về
năng suất trứng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh
và ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác nhau thì khả năng sinh sản của
chúng cũng rất khác nhau. Bởi vậy, các nhà nhà khoa học trên thế giới đã
tập trung nghiên cứu cơ sở di truyền sức đẻ trứng của gia cầm và cho rằng
việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di
truyền Letner and cs (1938) [54]. Năm yếu tố đó là:
Tuổi thành thục về sinh dục, người ta cho rằng ít nhất cũng có hai cặp
gen chính tham gia vào yếu tố này: 1 là gen E (gen liên kết với giới tính) và gen
e; còn cặp thứ hai là E’ và e’ chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục.
Cường độ đẻ trứng: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối
hợp cộng lại để điều hành.
Bản năng ấp do hai gen A và C điều khiển phối hợp với nhau.
Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M
và m điều khiển. Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều.
Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ: do cặp gen P và p diều khiển.
Trong 5 yếu tố trên thì yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất kết hợp với nhau,
cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau. Tất nhiên ngoài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status