Đánh giá độ phì vật lý, hoá học của vùng đất trồng lúa nước trời điển hình huyện Long Phú - tỉnh Sóc Trăng - Pdf 71

MỞ ĐẦU
Đất là một thực thể sống hình thành trong nhiều thiên niên kỷ và là một trong
những thành phần quan trọng nhất của môi trường sống. Với đặc thù vô cùng quý giá là
có độ phì nhiêu, đất làm nhiệm vụ của một bà mẹ nuôi sống muôn loài trên trái đất. Tuy
nhiên, đất cũng tiềm ẩn những yếu tố hạn chế nhất định đối với từng loại cây trồng và
sinh vật (Shin-Ichiro Wada, 2000). Hàng năm có khoảng 5 – 7 triệu ha đất trên hành tinh
chuyển sang không sản xuất được và tốc độ này sẽ gia tăng đến hơn 10 triệu ha trong
thế kỷ 21 nếu như không có những nghiên cứu khoa học để duy trì độ phì tự nhiên của
tài nguyên đất và những hoạt động sản xuất, quản lý đất phù hợp được áp dụng (Lê
Văn Khoa, 2003). Bạc màu đất chủ yếu đang diễn ra hiện nay là suy thoái vật lý và hoá
học đất như: nén dẽ, kết cứng-đóng ván, laterite hoá và xói mòn, phèn hoá, mặn hoá...
Ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) các nghiên cứu về độ phì nhiêu đất và sự
suy thoái về vật lý, hóa học và sinh học đất 2 vụ lúa, 3 vụ lúa, đất chuyên màu và đất
trồng cây ăn trái nhiều năm tuổi bước đầu cho thấy sự giảm hàm lượng chất hữu cơ, độ
nén dẽ cao, hệ số thấm thấp. Khi đất bị nén dẽ nghiêm trọng sẽ hạn chế sự phát triển của
hệ rễ cây trồng, làm giới hạn khả năng hút chất dinh dưỡng và nước. (Võ Thị Gương,
2004).
Đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích tự nhiên gần 4 triệu hecta, chiếm
7,9% diện tích của vùng châu thổ và gần 5% lưu vực sông Mê Kông. Trong đó diện tích
đất mặn chiếm 744.547 ha phần lớn phân bố ở bán đảo Cà Mau. Chỉ riêng tỉnh Sóc
Trăng diện tích đất mặn chiếm 158.547 ha (thực chất là đất phù sa nhiễm mặn), phân bố
ở các huyện Kế Sách, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu, Thạnh Trị, Mỹ Tú và Thị xã
Sóc Trăng. Các nhóm đất mặn chủ yếu là: Fluventic Ustropaquept Salic và Typic
Tropaquepts Salic (Tôn Thất Chiểu,1991). Do nằm ở vị trí giáp biển nên phần lớn diện
tích đất tỉnh Sóc Trăng bị nhiễm mặn. Do đó việc sản xuất nông nghiệp của tỉnh phần
lớn dựa vào nước trời là chủ yếu, bên cạnh đó việc thâm canh lúa với kỹ thuật canh tác
chưa phù hợp, nông dân chỉ sử dụng phân hóa học không sử dụng phân hữu cơ dẫn đến
đất đai bị bạc màu, mất cấu trúc, giảm độ phì, tính bền kém, gây khó khăn cho sản xuất
nông nghiệp.
Đề tài: “Đánh giá độ phì vật lý, hoá học của vùng đất trồng lúa nước trời điển
hình huyện Long Phú - tỉnh Sóc Trăng” được thực hiện nhằm đánh giá những trở ngại

Theo Petecbuagsky (1957), độ phì nhiêu đất hiểu một cách vắn tắt là khả năng của
đất cung cấp cho cây trồng, trong quá trình sinh trưởng, một số lượng nước và chất dinh
dưỡng cần thiết. Đất phì nhiêu không chứa chất có hại cho cây trồng như H
2
S, CH
4
... ở
đất trũng; sắt, nhôm ở đất phèn; Clo ở đất mặn.
Độ phì nhiêu đất đai là khả năng của đất đáp ứng nhu cầu cây trồng về các chất
dinh dưỡng, với số lượng, dạng và tỷ lệ thích hợp để cây sinh trưởng, phát triển và tạo
ra sinh khối lớn nhất.
Đất nào có khả năng thỏa mãn nhu cầu cây trồng cao, cho năng suất cao thì được
coi là phì nhiêu và ngược lại. Độ phì nhiêu đất là chỉ tiêu định tính và định lượng của
đất là kết quả của sự phát triển đất trong thời gian dài. Vì vậy, mỗi loại đất đều có độ
phì tự nhiên (natural fertility) hay còn gọi là độ phì tiềm tàng (potential fertility) khác
nhau.

1.2. Các loại độ phì nhiêu đất
Theo Nguyễn Văn Điềm (2002), thì độ phì nhiêu đất gồm các loại sau:
- Độ phì tự nhiên: xuất hiện trong quá trình hình thành đất dưới tác động của đá mẹ, khí
hậu, sinh vật, các chất dinh dưỡng trong đất tác dụng trực tiếp với cây trồng.
- Độ phì tiềm tàng: phần độ phì tự nhiên mà cây trồng chưa sử dụng đựơc.
- Độ phì nhân tạo: tác động của con người làm thay đổi độ phì tự nhiên của đất (thường
là các tính chất xấu của đất) và tạo ra độ phì mới.
- Độ phì kinh tế: tính bằng năng suất lao động.
- Độ phì hiệu lực: sử dụng khoa học kỹ thuật chuyển từ độ phì tiềm tàng sang độ phì tự
nhiên tính bằng năng suất cây trồng.
2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ ĐỘ PHÌ NHIÊU ĐẤT
2.1.Các chỉ tiêu vật lý
 Thành phần cơ giới đất

Độ bền đoàn lạp là tính bền của tập hợp các phần tử đất, là đặc tính cấu trúc quan
trọng của đất giúp đo lường mức độ chịu đựng của đất dưới tác động của mưa, các lực
cơ giới khi cày hoặc hoạt động tưới nước.
Tính bền cấu trúc đất phụ thuộc vào hàm lượng của chất hữu cơ, hàm lượng sét và
các oxit sắt (Trần Kim Tính, 2003).
Tính bền của đất được xem như là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
chất lượng đất đai. Tính bền của đất có thể tác động mạnh mẽ đến đặc tính đất cả về hoá
học và lý học (Lê Văn Khoa, 2003).
 Dung trọng
Dung trọng đất là một đặc tính quan trọng dùng để đánh giá độ phì vật lý và hoá
học đất (Trần Bá Linh và ctv, 2006). Dung trọng phụ thuộc vào thành phần khoáng,
thành phần cơ giới, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc và kỹ thuật làm đất. Độ tơi xốp của
đất thường cao nhất ngay sau khi làm đất, sau đó bị nén dẽ dần và dung trọng tăng lên,
sau một thời gian dung trọng sẽ đạt cân bằng và không thay đổi. Đất có dung trọng thích
hợp nhất cho cây là 1,0 -1,1 g/cm
3
. Đối với cây lúa, dung trọng thấp đôi khi có hại vì đất
không giữ được nước. Dung trọng >1,2 g/cm
3
và ở tầng đế cày >1,4 g/cm
3
là rất thích
hợp cho cây lúa (Võ Thị Gương và ctv, 2004).
Để đảm bảo cho cây trồng phát triển tốt đối với đất thịt thì dung trong 1,1- 1,4
g/cm
3
, đối với đất sét thì dung trọng 1,4 g/cm
3
và đất cát dung trọng khoảng 1,6 g/cm
3

3
. Ngược lại ở những đất
giàu mùn tỷ trọng của chúng giảm đến 2,40 – 2,30 g/cm
3
(Trần Kông Tấu, 2006).
Nhìn chung tỷ trọng của đất đa số nhỏ ở các loại đất mùn và thường lớn ở những
loại đất khoáng. Do vậy thông thường ở những tầng mặt thì tỷ trọng của đất nhỏ so với
các tầng sâu hơn.
 Độ xốp
Độ xốp của đất là phần trăm thể tích của đất được chiếm bởi không khí và nước
(Trần Bá Linh và ctv, 2006). Độ xốp là tổng các tế khổng trong đất biểu thị bằng % thể
tích đất. Độ xốp đất phụ thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ giới, dung trọng và tỷ
trọng đất. Khả năng thoáng khí, khả năng giữ nước phụ thuộc lớn vào độ xốp đất. Đối
với cây lúa độ xốp là chỉ tiêu không quan trọng, ngoại trừ các mao quản, lượng tế khổng
lớn chứa khí trong đất phải không dưới 25% cho đất canh tác cây trồng cạn. Độ xốp
thích hợp cho hầu hết sự tăng trưởng của cây trồng là 50%. (Võ Thị Gương và ctv,
2004).
Sự trao đổi không khí đặc biệt là sự khuếch tán oxy có ý nghĩa rất quan trọng cho
cây trồng. Việc giảm chất hữu cơ trong đất sẽ đưa đến giảm độ xốp đất. Đất kém thông
thoáng có thể giới hạn sự phát triển của rễ, đặc biệt ảnh hưởng đến việc hấp thu chất
dinh dưỡng (Lipiec and Stepniewski, 1995).
 Hệ số thấm (Ksat)
Hệ số thấm bảo hoà Ksat là thông số chính để dự đoán dòng chảy bảo hoà trong
đất, ngoài các tác nhân khác làm ảnh hưởng đến hệ số thấm, sa cấu và cấu trúc đất cũng
làm cho hệ số thấm bị thay đổi một cách đáng kể. Chỉ tiêu này dùng để phân biệt khả
năng thấm và thoát nước của đất. Đất có giá trị Ksat cao sẽ có tác dụng thấm nước và
thoát nước nhanh không bị ngập úng (Radeliffe and Rasmussen, 2000).
Hầu hết đất lúa nước đạt năng suất cao tại Nhật Bản có tốc độ thấm trong khoảng
20 – 30mm/ngày (Takai and Mada, 1997). Riêng ở Trung Quốc để đạt được năng suất
cao, tốc độ thấm trong đất từ 9 – 15 mm/ngày (Yang and Chen, 1961). Thực tế thì tốc

Một loại đất kiềm có pH cao đất này nhiều Ca, Mg và Mo, có ít Al, độ hữu dụng đạm
cao (Trần Thành Lập, 1999). Trên đất mặn pH từ 6,0-7,5 và tỷ lệ với độ mặn (Nguyễn
Văn Luật, 2003). Nếu đất có pH quá cao, đất sẽ thiếu Fe, Mn, Cu, Zn và nhất là thiếu P
và Bo. Ngoài ra vi khuẩn hoạt động tích cực ở các pH trung bình sẽ hoạt động kém.
Tổng quát mà nói thì đất có pH = 6 - 7 là tốt nhất vì ở mức pH này có sự hữu dụng tối
đa của chất dinh dưỡng (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004). Theo H.Eswaran (1985), đất lúa
nước thường có pH trong khoảng 4,5 và 6. pH tốt nhất cho cây lúa phát triển là pH=5,5
-7,5. Đất có pH thấp hơn 5,2 hay lớn hơn 8,2 đều ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
lúa.
 Độ chua tiềm tàng (pH
KCl
)
Độ chua tiềm tàng được tính bằng ion H
+
tự do và hấp thu trên bề mặt keo đất.
Thông thường độ chua này lớn hơn độ chua hiện tại và biểu thị khả năng gây chua tiềm
tàng của đất (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004).
Theo Nguyễn Đăng Nghĩa và ctv (2005), nếu trong dung dịch đất tồn tại nhiều
muối axit mạnh và bazơ mạnh sẽ làm đất có phản ứng trung tính (pH trong khoảng từ
6,0 – 7,0). Nếu trong đất tồn tại nhiều muối axit mạnh và muối bazơ yếu thì đất có phản
ứng chua (pH < 6,0). Nếu trong đất nhiều muối bazơ mạnh và muối bazơ yếu thì đất có
phản ứng kiềm (pH > 7,5). Độ pH của đất còn phụ thuộc vào mức độ thực hiện các phản
ứng trao đổi ion giữa keo đất với dung dịch đất, giữa dung dịch đất và rễ cây.
 Chất hữu cơ trong đất
Nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là mô thực vật, chất hữu cơ
gồm xác bả hữu cơ chưa phân hủy, đang phân hủy và đã phân hủy trong đó có xác bã
hữu cơ động vật, vi sinh vật. Tùy theo thành phần và hàm lượng hữu cơ trong đất mà
chúng có vai trò khác nhau (Trần Thành Lập, 1999).
Theo Nguyễn Thế Đặng và ctv (1999), chất hữu cơ là thành phần cơ bản kết hợp
với các sản phẩm phong hoá từ đá mẹ để tạo thành.

P trong đất (Nguyễn Tử Siêm và ctv, 1999). Chất hữu cơ có khả năng tạo phức với kim
loại (Jones and Jarvis, 1981). Chất hữu cơ có khả năng tạo phức với Al làm giảm Al trao
đổi và Al hoà tan trong dung dịch do đó làm giảm khả năng gây độc của Al cho cây
trồng (Hargrove and Thomas, 1981). Trong đất hàm lượng chất hữu cơ cao làm tăng ẩm
độ đất, cải thiện cấu trúc đất tăng khả năng đệm của đất (Charles A. Black, 1993).
 Dung tích hấp phụ cation (CEC)
Dung tích hấp phụ cation hay còn gọi là khả năng trao đổi cation của đất càng cao
chứng tỏ đất có khả năng giữ và trao đổi các dưỡng chất tốt. Đất ĐBSCL thường chứa
nhiều sét và ít hữu cơ nên dung tích hấp phụ thuộc loại trung bình đến khá (Ngô Ngọc
Hưng và ctv, 2004).
CEC của đất liên quan đến khả năng chứa đựng và điều hòa dinh dưỡng và có liên
quan đến phương pháp bón phân hợp lý. Đất giàu chất hữu cơ, có CEC cao cũng là đất
có khả năng bảo quản cao dinh dưỡng cây trồng. Nếu đất chứa Al chiếm 60% CEC thì
gây độc cho cây trồng. Đất bạc màu có CEC thấp thì CEC trở thành yếu tố hạn chế (Đỗ
Ánh và ctv, 2000). Theo Nguyễn Vy (2003), dung tích hấp phụ trong các loại đất Việt
Nam trong khoảng 5 - 30 meq/100g đất. Nhìn chung giá trị dung tích hấp phụ càng cao
thì đất càng phì nhiêu. Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất còn phụ thuộc vào thành phần và
tỷ lệ các cation trong dung tích hấp phụ đó (Nguyễn Vy, 2003).
 Độ dẫn điện dung dịch đất (EC)
Độ mặn trong đất làm cản trở quá trình hút nước và dinh dưỡng của cây trồng, giảm
lượng nước hữu dụng trong đất, phá huỷ cấu trúc của đất (Tất Anh Thư, 2006).
EC được tính bằng đơn vị mmhos trên centimet, chính mmhos cũng là trị số
nghịch đảo của đơn vị đo sức cản điện (ohms). Trị số mhos/cm là một đơn vị rất lớn,
phần lớn EC của dung dịch đất thì nhỏ hơn trị số này rất nhiều (Trần Kim Tính, 2003).
EC là độ mặn của đất, biểu thị trực tiếp hoặc gián tiếp nồng độ muối hoà tan trong
dung dịch đất. Không chỉ có đất mặn mới có lượng muối hoà tan cao, mà trong đất phèn
sự tác động của acid vào khoáng sét, nồng độ muối có thể cao và gây độc cho cây (Đỗ
Thị Thanh Ren, 1999). Theo H. Eswaran (1985), cây lúa rất nhạy cảm với độ mặn, cây
lúa sẽ không phát triển được nếu trên đất lúa nước có EC > 6 mmhos/cm. EC = 4 – 6
mmhos/cm thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa, nếu EC < 2 mmhos/cm thì

0,015 % P
2
O
5
. Đất ĐBSCL nhìn chung nghèo lân tổng số, hàm lượng lân trung bình của
các nhóm đất chính là 0,006 % P
2
O
5
(Đỗ Thị Thanh Ren, 1999).
Trong đất lân tổng số chia làm hai dạng là: lân hữu cơ và lân vô cơ (lân khoáng).
Tỷ lệ này phụ thuộc vào sự hình thành và phụ thuộc vào điều kiện đất. Lân hữu cơ
thường chiếm khoảng 20 – 80% lân tổng số. Hàm lượng lân khoáng gia tăng theo độ sâu
phẫu diện đất, trong khi hàm lượng lân hữu cơ cao nhất ở tầng mặt (Tisdale and Nelson,
1975).

 Lân dễ tiêu
Các đất nghèo lân dễ tiêu nhất ở đồng bằng là đất phèn, đất xám và đất cát. Đất
giàu lân nhất là đất phù sa được bồi đắp hàng năm (Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004).
Theo Nguyễn Xuân Cự (1992), sự cố định lân trong đất chua chủ yếu do tạo thành
các hợp chất Fe, Al phosphate, đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho lượng lân dễ
tiêu trong đất thường thấp.
Theo Lê Văn Căn (1978), sự cố định lân thường xảy ra rất nhanh ở nồng độ lân
thấp và tuỳ thuộc vào đặc tính của đất. Nhìn chung, đất có khả năng hấp phụ lân rất cao,
có khoảng 80% lượng lân đưa vào được đất hấp phụ ở các nồng độ thấp dưới 100ppm.
Theo Nguyễn Xuân Cự (2001), khi nồng độ dung dịch là 300ppm thì đất có khả năng
hấp phụ khoảng 40% lượng lân đưa vào.
 Kali tổng số
Kali hiện diện với số lượng lớn trong hầu hết các loại đất. Hàm lượng lân của
vỏ Trái Đất chỉ khoảng 0,11%, trái lại hàm lượng kali tổng số trong đất biến động rất

S... là những chất có hại cho cây lúa. Đất lúa ngập liên tục nếu không luân canh cây
trồng cạn sẽ làm giảm sút một số tính chất vật lý của đất như ảnh hưởng đến kết cấu đất,
tính dẻo dính, tính liên kết, chế độ khí, chế độ nhiệt.
Khi ngập nước, độ pH sẽ tăng dần do đất sản sinh ra các ion NH
4
+
, Mn
2+
, Fe
2+
,
chính những ion này đã trung hoà bớt ion H
+
. Do thiếu oxy thành phần và tỷ lệ hệ sinh
vật đất cũng thay đổi, chủ yếu là tồn tại các vi sinh vật yếm khí. Do vậy tốc độ phân huỷ
chất hữu cơ trong đất xảy ra chậm. Khi đất ngập nước quá trình tích luỹ đạm dưới dạng
NH
4
+
có ưu thế hơn, tăng cường hoà tan phosphate. Trong điều kiện yếm khí thường xảy
ra quá trình nitrate hoá. Đạm dạng NO
3
-
dễ chuyển thành đạm tự do N
2
bay vào không
khí làm mất đạm trong đất.
Theo Nguyễn Thế Đặng và ctv (1999), trải qua quá trình canh tác trong điều kiện
ngập nước đa số đất lúa nước có phân tầng rõ. Phẩu diện đặc trưng của đất lúa nước bao
gồm các tầng như sau:

Người ta cũng có thể căn cứ vào màu sắc của tầng canh tác để xác định mức độ thuần
thục của đất lúa. Tầng Ap có thể dày từ 8-20 cm (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
3.1.2.Tầng đế cày-P
Là tầng đất chặt dưới tầng canh tác. Tầng P dày khoảng 8-10 cm, được hình thành
do quá trình trồng lúa lâu đời. Khi làm đất trong điều kiện ngập nước các hạt sét sẽ lắn
xuống cộng với sức nén của công cụ làm đất và đi lại của gia súc và con người, nên ở
độ sâu nhất định đã hình thành nên tầng đế cày. Quá trình trồng lúa nước càng lâu đời
thì tầng đế cày càng rõ và mỏng dần đến ổn định khoảng 6-10 cm. Đối với đất lầy thụt,
đất mới khai phá trồng lúa nước hoặc đất phù sa được bồi đắp thường xuyên có thể
không có tầng đế cày.
Sự hình thành tầng đề cày có ý nghĩa quan trọng đối với độ phì đất luá nước. Vì
tầng đế cày ngăn cản sự thấm nước qua nhanh giúp đất giữ nước tốt, ngăn cản sự rửa
trôi các chất dinh dưỡng ở tầng canh tác. Nhưng nếu tầng đế cày quá chặt thì nước thấm
bị trở ngại, một số hợp chất sản sinh trong quá trình thu hút chất dinh dưỡng của rễ lúa
bị tích động lại, làm thay đổi môi trường sống của vi sinh vật tầng canh tác, từ đó ảnh
hưởng xấu đến sự hoạt động của bộ rễ lúa (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
3.1.3.Tầng tích tụ-B
Tầng tích tụ được hình thành do sự tích tụ các vật chất rửa trôi từ tầng trên xuống.
Mùa sắc thường loang lổ đỏ, vàng, trắng, đen... do vệt rửa trôi Fe, Mn và sét.
Độ dày của tầng tích tụ phụ thuộc vào thời gian canh tác lúa và mực nước ngầm
cao hay thấp. Nếu canh tác lúa lâu đời và mực nước ngầm sâu thì tầng này sẽ dày và
ngược lại.
Tầng tích tụ quan hệ đến độ phì của đất lúa nước thể hiện ở độ dày và khả năng
tích lũy vật chất: Càng dày càng dẻo thì mức độ thuần thục của đất lúa nước càng cao
(ngoại trừ đất lầy thụt) (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
3.1.5. Tầng mẩu chất
Chỉ có với đất biến đổi do trồng lúa nước hoặc đất mới khai phá. Tầng này liên
quan không lớn đối với độ phì khi trải qua canh tác lâu dài (Nguyễn Thế Đặng và ctv,
1999).
3.2. Một số đặc tính đất lúa nước

trưởng bình thường ở pH =5-8, nhưng sinh trưởng thích hợp nhất ở pH =6-7. Ở Việt
Nam pH xung quanh 5,9 cho năng suất cao nhất.
Đáng lưu ý là khi Eh giảm thì pH, lân dễ tiêu, NH
4
+
, tăng lên ở đất chua. Tuy
nhiên quan hệ giữa pH đất và lân dễ tiêu là một vấn đề khá phức tạp, nhiều kết quả
nghiên cứu sơ bộ kết luận khi pH từ 5,5-6,5 lân sẽ giải phóng nhiều nhất còn nếu thấp
hơn hoặc cao hơn đều bị cố định khá nhiều.
Kali trong đất lúa, khi mà việc cung cấp N và P chưa cao thì vai trò của nó bị mờ
nhạt. Nhưng khi bón đầy đủ N và P cho lúa nhiều năm thì Kali bị thiếu và trở thành yếu
tố hạn chế năng suất lúa (Nguyễn Thế Đặng và ctv, 1999).
4. CÁC NHÓM ĐẤT NGHIÊN CỨU (ĐẤT PHÙ SA NHIỂM MẶN)
Đất phù sa diện tích khoảng 3,4 triệu ha, tập trung chủ yếu Đồng bằng sông
Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), được hình thành và bồi đắp bởi phù sa
của hệ thống sông lớn. Đây là loại đất tương đối màu mỡ, thành phần chất dinh dưỡng
đầy đủ, nước chủ động, phản ứng trung tính ít chua. Thích hợp với nhiều loại cây trồng
như lúa, rau, màu, cây ăn quả. Đây cũng là vùng đất trọng điểm lúa của cả nước.
Sự phân hoá các loại hình khác nhau của đất phù sa nhiễm mặn dựa trên cơ sở
mức độ ảnh hưởng mặn. Dựa vào chỉ tiêu hoá học như: EC (độ dẫn điện), SAR (tỉ số
natri hấp thụ), ESP (phần trăm Natri trao đổi) và hàm lượng các muối hoà tan trong đất,
có thể phân thành các loại đất khác nhau như đất nhiễm mặn thường xuyên, đất nhiễm
mặn cục bộ, hoặc các loại đất mặn khác.
Riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, trị số EC được dùng làm chỉ tiêu để xác
định tầng chẩn đoán salic. Nếu trị số EC > 15mmhos.cm
-
trong tầng 0 -50 cm cho thấy
đây là nhóm đất mặn thường xuyên, nếu EC > 15mmhos.cm
-
ở độ sâu 50-100 cm cho

cao trong 50 cm lớp đất mặt, hoặc có màu xám và đốm rỉ đỏ ngập nước từng thời kỳ.
Tiêu chuẩn để phân loại Aquepts là đất có chế độ ẩm aquic, hoặc được thoát thủy nhân
tạo và có một trong những đặc tính:
- Có tầng Histic.
- Có tầng Sulfuric mà giới hạn trên nằm trong vòng 50 cm lớp mặt.
- Có tầng Umbric hoặc Mollic và Chroma của tầng nằm dưới tiếp theo đó hoặc ở
độ sâu nhỏ hơn 50cm bằng hoặc nhỏ hơn 1 nếu không có đốm, hoặc là < 2 nếu
có đốm rỉ.
- Có tầng Uchric, và dưới đó là tầng Cambric ở độ sâu 50 cm có chroma là 1 hoặc
nhỏ hơn nếu không có đốm, hoặc là 2 nếu có đốm .
Có ba nhóm lớn được tìm thấy
 Nhóm lớn Sulfaquepts
Đó là đất phèn nó trở nên rất chua ở tầng mặt sau khi bị thoát thủy và oxy hóa.
Tiêu chuẩn phân loại Sulfaquepts là tầng sulfuric mà giới hạn trên nằm trong vòng
50 cm. Có hai nhóm phụ:
- Nhóm phụ Typic sulfaquepts: là sulfaquepts không tầng Histic trên mặt.
- Nhóm phụ Histic sulfaquepts: là Sulfaquepts có tầng Histic trên mặt .
 Nhóm lớn Tropaquepts
Là Aquepts ở vùng ấm áp liên tục, có màu xám ở tầng mặt và có đốm rỉ ở tầng dưới
sâu. Mức thủy cấp dao động theo mùa nhưng thường cao quanh năm. Tiêu chuẩn phân
loại là sự khác biệt nhiệt độ bình quân của đất ở độ sâu 50cm giữa mùa hè và mùa đông
dưới 5
o
C có 4 nhóm phụ:
- Nhóm phụ typic Tropaquepts: là Tropaquepts có màu nền của tầng đất ở độ sâu
20 đến 50cm có một trong những điểm sau:
• Chroma bằng hoặc nhỏ hơn 1, dù có đốm hay không.
• Chroma bằng hoặc nhỏ hơn 2, nếu Hue vàng hơn 2,5Y.
• Chroma bằng hoặc nhỏ hơn 2, và value trên 5, nếu Hue đỏ hơn 2,5Y.
- Nhóm phụ Aeric Tropaquepts: là Tropaquepts không đạt qui định màu sắc như ở

nguyên nhân liên quan đến tài nguyên đất ảnh hưởng đến sự giảm sản lượng lúa có thể
được bao gồm các nguyên nhân như:
- Sự thoái hóa đất: ngập úng, mặn hóa, axit hóa, xói mòn.
- Giảm độ phì: giảm hữu cơ và các dưỡng chất khác, giảm một số vi sinh vật (trùng, vi
khuẩn).
- Mất cân đối dinh dưỡng: giữa N và P hoặc K, giữa NP và K, giữa NPK.
Các chuyên gia tư vấn của FAO cho rằng để được xếp vào hệ thống thâm canh
một hệ thống canh tác phải sản xuất ít nhất 8 tấn/ha/năm qui ra thóc, với tốc độ quay
vòng của thóc ít nhất là 2. Các hiện tượng giảm năng suất trên thường chỉ xảy ra trên
các ruộng lúa thâm canh (Võ Tòng Xuân, 1997).
Theo Nguyễn Hữu Chiếm và ctv (1999), về ảnh hưởng thâm canh ở ba nhóm
ruộng có thời gian canh tác 3 vụ lúa khác nhau (nhóm dưới 8 năm, nhóm 8-15 năm, và
nhóm trên 15 năm) thì năng suất lúa có xu hướng giảm dần theo thời gian canh tác cả 3
vụ Đông Xuân, Hè Thu, Thu Đông. Kết quả cũng cho thấy muốn tăng năng suất lúa
phải tăng lượng phân bón. Kết quả trên cũng tương tự của Cassman và Descalsota
(1992) với những thí nghiệm thâm canh lúa ở Phillipines và Ấn Độ cho rằng năng suất
lúa giảm từ 50 - 142 kg/ha mỗi năm theo thời gian canh tác liên tục trong gần 30 năm.
Giảm năng suất ngoài những yếu tố do giống, bức xạ mặt trời mà còn những yếu tố khác
như: sự mất cân đối về dưỡng chất, ngộ độc hữu cơ và sự thay đổi của vi sinh vật do áp
dụng nhiều thuốc hóa chất nông nghiệp.
5.2. Ảnh hưởng của thâm canh lúa đến độ phì
5.2.1. Ảnh hưởng đến đặc tính vật lý đất
Theo Võ Quang Minh (2006), qua khảo sát đánh giá một số đặc tính hóa lý đất trên
vùng đất thâm canh 3 vụ lúa tại Tiền Giang cho thấy tầng đất mặt do ngập nước liên tục
có hiện tượng lầy thụt, tầng B có xu hướng bị tích tụ sét và bị nén dẽ theo thời gian. Đa
số nông dân chuẩn bị đất bằng cơ giới và độ sâu cày mỏng 10-15cm nên sự nén chặt
càng mạnh. Nông dân chuẩn bị đất trong lúc đất ngập nước nên tiến trình rửa trôi theo
chiều sâu đất càng tăng mạnh, chiều dày của tầng đế cày càng tăng theo thời gian canh
tác. Tầng đế cày làm tăng khả năng giữ nước trên ruộng lâu hơn, kiểm soát cỏ dại dễ
hơn, phân bón vào đất ít bị rửa trôi xuống tầng bên dưới, nhưng độ dày tầng đế cày cũng

2
-
hoặc NH
4
sẽ biến chuyển thành NO
3
-
, trong quá trình biến chuyển sẽ phóng thích ra
nhiều ion H
+
sẽ làm cho đất trở nên chua. Hoặc sử dụng các loại phân bón có chứa một
ít lượng acid tự do, nên khi bón vào đất cũng làm cho đất trở nên chua thêm.
 Sự thay đổi đạm trong đất
Theo Võ Thị Gương (1998), trong điều kiện thâm canh ba vụ lúa ở ĐBSCL trên
đất phù sa cho thấy do thường xuyên ở trạng thái khử nên đã làm giảm tốc độ khoáng
hóa và sự phản ứng đạm của cây lúa.
Theo Nguyễn Bảo Vệ và ctv (1998) cũng cho thấy, đất trồng ba vụ lúa tuy hàm
lượng N tổng số có cao hơn đất trồng hai vụ hoặc trồng màu, nhưng phần trăm khoáng
hóa của đất trồng ba vụ lúa kém nhất. Có lẽ do đất trồng ba vụ lúa bị ngập nước quanh
năm, sự phân hủy chậm đã tạo được chất hữu cơ nhưng chất hữu cơ này kém chất lượng
đã ảnh hưởng đến khả năng khoáng hóa N của đất trồng lúa ba vụ.
Theo Trần Quang Tuyến (1997), canh tác 3 vụ lúa càng dài thì càng ảnh hưởng đến
đất đai. Đất canh tác 3 vụ lúa/năm tại Chợ Mới, An Giang có hàm lượng đạm trung bình
là 0,19% được đánh giá ở mức trung bình đến khá.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái độ phì nhiêu đất như xói mòn, rửa
trôi,... nhưng quan trọng nhất là qua nhiều năm cây trồng đã lấy đi từ đất một lượng chất
dinh dưỡng đáng kể mà không hoàn trả lại cho đất đầy đủ, do thâm canh tăng vụ và việc
sử dụng phân bón không cân đối.
 Sự thay đổi chất P trong đất
Theo Đỗ Thị Thanh Ren (1985), sự cầm giữ lân bởi các thành phần khoáng của đất

nên sự cố định kali.
Theo Nguyễn Mỹ Hoa (2003) cũng cho thấy, trên đất thâm canh hai vụ lúa ở
ĐBSCL nếu được bón thêm một ít phân K và không lấy đi rơm rạ thì có sự cân bằng
dương giữa lượng K vào và mất đi, trong khi có sự cân bằng âm ở đất cơ cấu 3 vụ lúa.
Theo Võ Quang Minh (2006), cho thấy trên đất phù sa và đất phèn vùng ĐBSCL
có khả năng hấp phụ K rất cao sau khi bón. Với liều lượng 50 kg K/ha thì chưa thấy tác
dụng rõ rệt nếu bón với liều lượng 100kg/ha thì có tác dụng tăng năng suất rõ rệt nhưng
không đem lại hiệu quả kinh tế.
Theo Võ Thị Gương và ctv (1997), sau 30 năm canh tác lúa nhiều vụ trong năm
cho thấy khả năng cung cấp kali giảm đáng kể, lượng kali giảm liên tục qua các vụ. Do
đó kali là thành phần cân bằng điện tích của khoáng sét, kali mất đi dẫn đến sự mất cân
bằng, phá vở khóang sét điển hình để hình thành nên những khóang sét mới có chất
lượng kém hơn, dẫn đến sự suy thoái. Do đó dù cây lúa không đáp ứng phân kali nhưng
cần bón để duy trì sự bền vững của đất.
 Sự ngộ độc chất hữu cơ trên đất thâm canh
Ở ĐBSCL do phải tránh lũ trong năm nên một số vùng các vụ lúa diễn ra liên tục
và đất trồng lúa gần như luôn ở tình trạng khử, đặc biệt ở những vùng canh tác ba vụ luá
trong năm điều này dẫn đến cây dễ ngộ độc chất hữu cơ (Lê Quang Trí, 1998).
 Ảnh hưởng đến các đặc tính sinh học
Canh tác độc canh lúa nhiều năm liên tục tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển do
nguồn thức ăn cung cấp liên tục tạo nơi ẩn náo giúp sâu bệnh tồn tại từ vụ này sang vụ
khác, do đó phải sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật. Việc sử dụng nông dược
một cách thường xuyên đã làm giảm sự phong phú về loài và số lượng quần thể của
loài. Sử dụng nhóm thuốc gốc carbamat thì tất cả động vật đều mẫn cảm như nhau đối
với loại thuốc này. Ngoài ra thuốc trừ sâu carbofuran (furadan) khi tồn tại trong đất với
liều lượng cao có thể làm giảm mật số các loài trùng (Võ Quang Minh, 2006).
Trong thâm canh lúa thì lượng phân hóa học được sử dụng để tăng năng suất lúa là
chủ yếu. Sử dụng phân hóa học với liều lượng cao liên tục trong nhiều năm đã ảnh
hưởng đến vi sinh vật sống trong môi trường đất. Các Rhizobum sẽ bị giảm khả năng cố
định đạm khi mà hàm lượng đạm dễ tiêu trong đất cao hoặc bón quá nhiều đạm. Bón rải

ThaiLand, Malaysia, Singapore (Nguyễn Hoàng Phúc, 2005).
6.1.2. Khí hậu:
 Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình 26,7 - 26,8
0
C và ổn định. Trong năm nhiệt độ cao nhất là
37,8
0
C (vào tháng 4/1958) và thấp nhất 19
0
C (vào 1/1998).
 Nắng
Tổng bức xạ trung bình trong năm tương đối cao, trong năm đạt 140 - 150
Kcal/cm
2
, cao nhất thường vào tháng 3 thấp nhất thường vào tháng 10.
 Ẩm độ
Ẩm độ trung bình 83,4% cả năm, cao nhất là 96% vào mùa mưa và thấp nhất là
62% vào mùa khô.
Hình 2: Bản đồ ranh giới hành chánh tỉnh Sóc Trăng

Trích đoạn ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU 1 Điều kiện tự nhiên chua hiện tại pHH2O Đạm tổng số KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status