TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM – HUẾ
KHOA THỦY SẢN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM SINH HỌC EM ĐẾN TỐC ĐỘ
TĂNG TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG VÀ KHẢ NĂNG KHÁNG BỆNH CỦA TÔM CHÂN
TRẮNG (Penaeus vannamei) NUÔI TẠI HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG”.
Giáo viên hướng dẫn
Th.S Trần Quang Khánh Vân
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Ngọc Vĩnh
Lớp Ngư Y 42
Huế, tháng 05/ 2012
1
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại
học Nông Lâm, , Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản, Bộ môn Bệnh Thủy sản đã ủng
hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS.Trần Quang Khánh Vân
người đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tập thể cán bộ, nhân viên, ban lãnh
đạo công ty TNHH Huy Long An, huyện Trần Đề , tỉnh Sóc Trăng đã tạo mọi
Công thức 2
Effective Microganisms
Oxy hòa tan
Buổi sáng
Buổi chiều
Hệ số chuyển đổi thức ăn
Thạc sỹ
MỤC LỤC
3
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay trên thế giới, nghề nuôi tôm là một trong những nghề phát triển
nhất. Trong đó các quốc gia đứng đầu về sản lượng tôm nuôi gồm: Trung Quốc,
Thái Lan, Indonesia, Việt Nam… nghề nuôi tôm đã đem lại lợi nhuận cao, góp
phần nâng cao đời sống cho người dân, giải quyết việc làm, phát triển kinh tế xã
hội…từ đó hạn chế sự khai thác quá mức tài nguyên sinh vật biển.
Ở Việt Nam tiềm năng nuôi tôm rất lớn. Nước ta có 3260 km bờ biển, 12
đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông rạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển là
những khu vực rất thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại thủy sản nước ngọt và
lợ mặn. Tôm thẻ chân trắng lần đầu tiên gia nhập vào Việt Nam năm 2000 và
được phát triển tại nhiều địa phương như: Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên,
Khánh Hòa và lan rộng khắp cả nước. Tính đến hết tháng 6/2008, diện tích nuôi
tôm thẻ chân trắng của Việt Nam đã đạt hơn 12.400 ha và đã thu hoạch hơn
12.300 tấn.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một đồng bằng châu thổ lớn, có
được hiệu quả kinh tế cao và bền vững.
Với những lý do trên, được sự đồng ý của Khoa Thủy sản, Công ty TNHH
Huy Long An và giáo viên hướng dẫn, chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá
ảnh hưởng của chế phẩm sinh học EM đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và
khả kháng bệnh của tôm chân trắng (Penaeus vannamei) nuôi tại huyện
Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Nắm vững quy trình nuôi tôm chân trắng ở địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá được hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm sinh học EM đến tốc
độ tăng trưởng, chất lượng nước và tỷ lệ sống và khả năng kháng bệnh của tôm
chân trắng.
- Bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nhằm tích lũy
những kiến thức thực tiễn, thực tế.
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng trên thế giới
Theo FAO, năm 2010 sản lượng thủy sản toàn thế giới đạt 147 triệu tấn,
tăng 1,3% so với năm 2009. Sản lượng đánh bắt duy trì xu hướng giảm nhẹ khi
giảm từ 90 triệu tấn năm 2009 xuống còn 89.8 triệu tấn năm 2010.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng được dự báo sẽ tăng tới 3,8% (tương đương
1,9 triệu tấn lên mức 57,2 triệu tấn. Trong đó xuất khẩu thủy sản của Trung Quốc đã
tăng tới mức 26,8% so với cùng kỳ 2009, Thái Lan và Na Uy đều ghi nhận mức tăng
trưởng ấn tượng. Tính chung tổng kim ngạch thương mại xuất khẩu thủy sản toàn
cầu năm 2010 dự báo đạt 101,9 tỷ USD tăng 6,8% so với năm 2009.
Nghề nuôi tôm công nghiệp bắt đầu phát triển từ những năm 30 của thế
vụ nuôi tôm chân trắng.
Trung Quốc: Trung Quốc là nước sản xuất tôm lớn nhất thế giới với 37%
sản lượng trong khi đó Thái Lan chỉ chiếm 16%, Việt Nam: 11%. Sản lượng
tôm nuôi của Trung Quốc tăng nhanh chóng, đặc biệt là năm 2007 sản lượng
tôm chân trắng đã tăng 8 lần, tôm sú tăng 1,2 lần. Tổng sản lượng tôm ước tính
đạt khoảng 1,265 triệu tấn.
Trong giai đoạn 1995 - 2004, sản lượng tôm chân trắng của Trung Quốc
đã tăng từ 15% lên tới 57% nhưng sản lượng tôm sú của nước này lại giảm
mạnh từ 62% xuống còn 29%. Trong 3 năm từ 2008 - 2010 sản lượng tôm nuôi
của Trung Quốc có phần giảm nhẹ và chững lại, năm 2008 là 1,286 triệu tấn;
2009 là 1,18 triệu và 2010 là 899,6 nghìn tấn. Theo điều tra của Tổ chức nuôi
trồng thủy sản và thực phẩm thuộc Liên Hợp Quốc, sản lượng tôm nuôi tại
Trung Quốc năm nay có thể đạt 962.000 tấn, tăng 6,9% so với năm 2010. Sản
lượng của nước này trong năm 2012 được dự báo là 1.048.000 tấn.
Thái lan: Xuất khẩu tôm của Thái Lan tăng ít nhất 8% trong năm 2010, do
sản lượng tôm của Braxin và Inđônêxia giảm mạnh vì dịch bệnh, trong lúc
lượng tôm cá đánh bắt ở Mỹ thấp hơn dự báo do ảnh hưởng của sự cố tràn dầu ở
Vịnh Mêhicô. Lượng tôm năm 2011 ước tính đạt khoảng 553.200 tấn, tăng 0,8%
so với năm trước đó. Tổ chức dự báo lượng tôm của nước này trong năm kế tiếp
là 591.500 tấn.
Năm 2011giá tôm trên thế giới có thể tăng 10% sau thảm họa sóng thần.
Báo Wall Street Journal (Mỹ) ngày 11-1 đăng bài viết nhận định rằng ngành
nuôi tôm của Thái Lan và Ấn Độ, hai nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới, bị
ảnh hưởng nghiêm trọng của đợt sóng thần vừa qua. Nhiều trại ương giống và
nuôi ấu trùng tôm ở ven biển hai nước này bị phá huỷ hoàn toàn.
Chủ tịch Hiệp hội tôm của Thái Lan Somsak Paneetassayasai cho rằng
phải mất 6 tháng các trại nuôi ấu trùng tôm ở nước này mới có thể hoạt động
bình thường trở lại. Điều đó có nghĩa là sản lượng tôm của Thái Lan và Ấn Độ
sẽ bị giảm sút trong thời gian tới và giá tôm xuất khẩu sẽ tăng. Theo dự đoán của
327,200
354,500
388,400
413,100
302,400
357,700
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2011)
Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu tôm vào 82 thị trường trong đó 10 thị
trường đầu tiên chiếm hơn 80% cả về khối lượng lẫn giá trị gồm Nhật Bản, Mỹ,
Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Trung Quốc, Australia, Canađa, Anh và Bỉ.
Bảng 1.2. Giá trị xuất khẩu một số mặt hàng thủy sản (FAO, 2011)
Tiêu chí
Giá trị xuất khẩu
Thuỷ sản (triệu USD)
Giá trị xuất khẩu tôm
đông lạnh (triệuUSD)
XK tôm/XK thuỷ sản
(%)
Sản lượng thuỷ sản
(1000 tấn)
Sản lượng nuôi trồng
Thuỷ sản (1000tấn)
Diện tích nuôi trồng
thủy sản (1000ha)
2004
2005
2006
1613
1678.7 2014.5
52.7
51.0
44.3
41.7
39.3
39.5
40.8
3075
3432.
8
3695.5 3823
4300
4846
2010
1000
Thị trường
Tấn
Thị trường
Tấn
USD
Nhật
62.451
521.428
Nhật
61.963
Mỹ
37.061
397.716
Mỹ
40.331
3
Singapore
4.951
51.472
Úc
6.954
17.357
16.715
15.612
Đài Loan
Canada
Bỉ
Đức
Anh
Hàn Quốc
6.958
4.812
3.227
3.006
2.852
3.082
51.000
46.718
24.531
23.128
22.624
19.841
TT
1000
USD
517.831
DT
(nghìn
ha)
31.1
234267
2007
SL
(tấn)
DT
(nghìn
ha)
33.8
266415
2008
2009
SL
(tấn)
DT
(nghìn
ĐBSCL
73.6
37005
77.6
42526
78.9
48849
77.9
50162
79.6
55374
8.3
51.8
680.2
8.5
52.3
691.2
9.3
53.4
723.8
1018,
8
141245
13017
89412
Cã nước
114422
11344
78138
100280
5
1526557 1052,6
1869484
10
2.1.3. Tình hình nuôi tôm thẻ chân trắng ở Sóc Trăng
Từ nhiều năm trước, ở Sóc Trăng có một Công ty 100% vốn nước ngoài đã
nuôi tôm thẻ chân trắng. Công ty này đã nhập tôm giống và tôm bố mẹ để sản xuất
giống, ương nuôi, nhân rộng dưới sự giám sát của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy
sản, bước đầu đã mang lại một số thành công nhất định, tôm phát triển khá tốt,
2.2.3. Đặc điểm phân bố và nguồn gốc.
Tôm chân trắng (P.vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo Ðông
Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh) và được nuôi phổ biến ở Ecurador.
Ðây là loài tôm quý có nhu cầu cao trên thị trường được nuôi phổ biến ở khu vực
Mỹ La tinh và cho sản lượng lớn gần 200 nghìn tấn (1999). Hiện nay được di nhập
vào nhiều nước ở châu Á (Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam…. Tôm thẻ chân trắng
được thuần hóa và thành công ở Philipine (1978), ở Trung Quốc(1988) (Phạm
Xuân Thủy, Phạm Xuân Yến, Trình Văn Liễn, 2006).
Tôm chân trắng là loài tôm nhiệt đới, có khả năng thích nghi với giới hạn
rộng về độ mặn và nhiệt độ. Mặc dù tôm có khả năng thích nghi với giới hạn rộng
về nhiệt độ (15 – 33oC), nhưng nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tôm là
23 – 320C. Nhiệt độ tối ưu cho tôm lúc nhỏ (1g) là 30 oC và cho tôm lớn (12 – 18g)
là 27oC.(Trần Viết Mỹ, 2009).
2.2.4. Vòng đời của tôm thẻ chân trắng
Ấu trùng (6 giai đoạn Nauplius, 3 giai đoạn Zoa và 3 giai đoạn Mysis) – hậu
ấu trùng - ấu niên – trưởng thành. Thời kỳ ấu trùng tôm sống ở cửa sông sau đó di
cư ra vùng ven biển gần bờ.
Ở thời kỳ ấu niên và thiếu niên tôm thẻ chân trắng sống ở vùng cửa sông. Ở
giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành, khi tôm có thể tham gia sinh sản lần
đầu chúng sống ở vùng triều ở độ sâu khoảng 7- 20m nước. Đối với những con
trưởng thành và sản phẩm sinh dục đã chín hoàn toàn thì chúng di chuyển ra vùng
biển khơi ở độ sâu khoảng 70m nước và tham gia sinh sản tại đây.
Trứng và ấu trùng Mysis sống và phát triển tại vùng biển khơi theo dòng
nước trôi dạt vào bờ. Khi đến vùng triều ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn
Postlarvae và tiếp tục theo thủy triều trôi dạt vào vào vùng cửa sông, phát triển
thành ấu niên và tiếp tục vòng đời của chúng.
2.2.5. Đặc điểm sinh trưởng và sự lột xác
Sự tăng trưởng về kích thước của tôm thẻ có dạng bậc thang, thể hiện sự
sinh trưởng không liên tục. Kích thước giữa hai lần lột xác hầu như không tăng
Sinh sản: 10 tháng tuổi tôm đạt tuổi thành thục. Tôm thẻ chân trắng là loài
có thelycum hở. Quá trình sinh sản tuân theo thứ tự: lột xác – thành thục – giao vĩ
– đẻ trứng. Tôm trưởng thành di cư ra vùng biển có độ mặn cao để sinh sản.
(Nguyễn Khắc Hường, 2003)
Mùa vụ đẻ trứng và sức sinh sản
Ở Bắc Equado, mùa vụ đẻ rộ từ tháng 4 đến tháng 5. Ở Peru mùa đẻ rộ từ
tháng 12 đến tháng 4. Số lượng trứng đẻ ra tùy theo kích cỡ của tôm mẹ. Nếu tôm
13
có khối lượng 30- 35g đẻ khoảng 100.000 – 250.000 trứng, đường kính trứng
khoảng 0,22mm. ( Thái Bá Hồ, Ngô Trọng Lư, 2006).
14
2.3. Những nghiên cứu về chế phẩm sinh học
2.3.1. Khái niệm về chế phẩm sinh học
“Probiotic” là hỗn hợp bổ sung mang bản chất của các vi sinh vật sống tác
động có lợi đối với vật chủ nhờ cải thiện hệ vi sinh liên kết với vật chủ hoặc sống
tự do trong môi trường, giúp cải thiện việc sử dụng thức ăn hoặc tăng cường giá trị
dinh dưỡng của thức ăn, ngoài ra probiotic còn giúp tăng khả năng đề kháng của
vật chủ đối với mầm bệnh hoặc nhờ vào sự cải thiện chất lượng của môi trường
sống” (Phạm Thị Tuyết Ngân, 2007).
Probiotic bao gồm những vi khuẩn có lợi (vi sinh vật hữu ích) và trong thủy
sản hầu hết những sinh vật này là vi khuẩn lactic acid (Lactobacillus
plantarum, L. acidophillus, L. casei, L. rhamnosus, L. bulgaricus, Carnobacteriu
m…),giống Bacillus (B. subtilis, B. licheniformis, B. megaterium, B. polymyxa,
…), Actinomycetes, Nitrobacteria…được áp dụng trong các bể ương nuôi, trong
xác
dụng
định
vẻ
sơ
màu
đồ
nước,
NH
3,
nhiệt
NO
2
độ pH.
2.6.3. Chế phẩm EM
Đang dừng ngang đây
Khái niệm về chế phẩm EM
EM (Effective microorgannic ) là tập hợp bao gồm các vi sinh vật hoạt
động. Nó có nhiều tác dụng và có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Yêu cầu cơ bản để sử dụng chế phẩm EM có hiệu quả là độ ẩm thích hợp và
nước (Công ty phát triển công nghệ Việt - Nhật Bản, 1999 ). Do bản chất ưa nước
nên EM được sử dụng rất hiệu quả trong nuôi cá, nuôi các động vật giáp xác.
Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, EM gốc được điều chế thành nhiều loại EM
thứ cấp sử dụng rất hiệu quả như: EM2, EM5, EM tỏi, EM chuối, EM – Bokashi.
Thành phần của chế phẩm EM
- Thành phần các loài vi sinh vật hữu ích trong các loại chế phẩm vi sinh EM:
+ Vi khuẩn Lactic > 109 tế bào/ml( CFU/ml)
+ Vi khuẩn Bacillus > 1010 tế bào/ml( CFU/ml)
+ Vi khuẩn Quang dưỡng > 107 tế bào/ml( CFU/ml)
EM tỏi
EM5, tỏi xay mịn,
nước sạch
4
EM chuối
Chuối tây, EM2
5
EMpv
EM2, EMpv
nguyên chất ( hoặc
muối sạch, EMpv,
nước sạch)
6
EM – FTD
EM2(2 – 3%), EMFTD nguyên chất
7
EM –
Bokashi
17
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei)
3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 01/2012 đến tháng 05/2012
3.3. Địa điểm thực tập
Công ty TNHH Huy Long An - Xã Liêu Tú – Huyện Trần Đề - Tỉnh Sóc
Trăng.
3.4. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm EM đến chất lượng môi trường nước
ao nuôi.
- Nghiên cứu tác động của chế phẩm EM đến tốc độ tăng trưởng của tôm
nuôi.
- Nghiên cứu tác động của chế phẩm EM đến sức đề kháng bệnh và tỷ lệ
sống của tôm nuôi.
- Nghiên cứu tác động của chế phẩm EM đến hiệu quả kinh tế của toàn vụ
nuôi.
3.5. Phương pháp nghiên cứu.
+Phương pháp xác định các yếu tố môi trường:
Định kỳ ngày 2 lần, lúc 5 - 6h sáng và 13 - 14h chiều. Tiến hành theo dõi các
yếu tố sau:
- Nhiệt độ: Đo bằng nhiệt kế thủy ngân.
- pH: Đo bằng giấy quỳ hoặc sử dụng bằng các testkit.
- Độ mặn: Đo bằng khúc xạ kế, hoặc tỷ trọng kế.
- Độ trong: Đo bằng đĩa secchi.
Ao 6
Theo dõi các yếu tố môi trường.
Tốc độ tăng trưởng.
Hoạt động, tỷ lệ sống.
Kết quả sản xuất.
Kết luận và kiến nghị
Chế độ chăm sóc và quản lý các yếu tố (pH, t 0, dinh dưỡng,…) giữa các lần
lặp lại trong các ao thí nghiệm là tương đương nhau.
Mẫu tôm được thu ngẫu nhiên ở các ao nuôi thuộc vùng nghiên cứu. Mỗi lần
kiểm tra tiến hành thu số lượng tôm 30 con/ao.
- Ptôm< 5g: thu bằng sàng ăn sau 2 – 3 h cho ăn (20-30 con/sàng). Định kỳ 15 ngày
lấy mẫu một lần.
19
- Ptôm> 5g: thu mẫu bằng chài sau 2 – 3 h cho ăn, lấy 4 mẫu (20-50 con/chài). Định
kỳ 15 ngày lấy mẫu một lần.
+ Phương pháp theo dõi khả năng tăng trưởng của tôm
- Đo chiều dài thân bằng giấy kẻ ô ly.
- Cân trọng lượng tôm bằng cân điện tử có độ chính xác 1 mg.
3.7. Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng chế phẩm
Lợi nhuận = Tổng thu – tổng chi
3.8. Các công thức và phương pháp xử lý số liệu
3.8.1. Tốc độ tăng trưởng bình quân ngày ADG (Avegare daily growth )
- Về khối lượng
ADGw=
Năng suất =
* Tỷ lệ sống:
TLS =
× 100
20
* Hạch toán giá trị kinh tế:
Lợi nhuận = Tổng thu – tổng chi
* Giá trị trung bình cộng:
- Giá trị trung bình =
Trong đó: X: giá trị trung bình qua các lần kiểm tra.
Xi: giá trị thức tế của các cá thể.
n: số mẫu phân tích.
* Phương sai:
S2 =
* Độ lệch chuẩn:
δ =√S2
Trong đó: X: giá trị trung bình cộng
δ: độ lệch tiêu chuẩn
Xi: giá trị thực tế
n: số cá thể
Sai số trung bình cộng: m=
3.8.3. Phương pháp xử lí số liệu
Các số liệu về khối lượng, chiều dài tôm (khi thả, thu hoạch), thức ăn tiêu
tốn, số liệu môi trường….thu được sẽ tính giá trị trung bình, sai số chuẩn, phân
tích thống kê trên phần mềm Excel.
BS
26,58±1,2
24 ÷ 28,5
29,85 6±1,3
28 ÷ 31
7,9 – 8,3
26,60±1,3
24 ÷ 28
29,85 ±1,2
28 ÷ 31
7,8 – 8,2
26,59 ±1,3
24,5÷ 28
29,85 ±1,3
28÷ 31,5
7,8 – 8,1
26,56±1,4
24÷ 28
29,86 ±1,3
27,5÷ 32
7,8 – 8,3
26,56±1,3
24÷28,5
29,85 ±1,3
27,5÷ 31,5
6 ÷8
5,9 ±0,5
5÷6,5
6,9 ±0,5
6÷7,5
6,5 ±1
6÷7,5
7,5 ±1,5
6,5 ÷8,5
6,5 ±1
6 ÷7
7,4 ±1,2
6,5÷8,4
6,7 ±1,2
6÷7,5
7,6 ±1
7÷8,5
5–9
Độ kiềm (mg/l)
101,98 ±11,21
70÷125
97,65 ±22,1
0,01÷0,06
19 ±0,5
17÷20
0,038
±0,02
0,01÷0,07
18 ±1,1
17÷20
NH3 (mg/l)
18 ±1,1
17÷20
0,044
±0,025
0,02÷0,07
0,033 ±0,015
0,01÷0,05
0.031 ±0,025
0,01÷0,06
0,03 ±0,02
0,01÷0,05
hiện ở bản trên. Chúng tôi nhận thấy rằng các yếu tố pH, nhiệt độ và độ mặn khá
ổn định ở các ao nuôi sử dụng chế phẩm sinh học ổn định hơn so với đối chứng
không sử dụng chế phẩm sinh học.
Sự biến động chỉ số pH trong ao nuôi liên quan đến tính chất của đất, mật độ
tảo, chế độ bón vôi và chế độ cấp hay thay nước. Ngoài ra, pH quá cao có thể làm
tôm khó lột xác, chậm lớn (mềm vỏ) nhưng nếu quá thấp sẽ làm tổn thương phụ bộ
và mang của tôm. Bên cạnh đó, pH còn ảnh hưởng gián tiếp đến sự hiện diện của
NH3 và H2S trong ao nuôi. pH trong ao nuôi thí nghiệm thấp hơn và ít biến động
hơn ao đối chứng và phù hợp với sinh trưởng của tôm. Sở dĩ pH luôn được ổn định
là do trong thành phần EM2 và EM5 có chứa đường và giấm nên pH được duy trì
và ổn định trong những ngày nắng nóng và nhiệt độ cao.
Nhiệt độ là một trong các yếu tố môi trường ao nuôi ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động sống của tôm, nhiệt độ luôn biến động theo thời gian trong ngày, độ sâu
và thời tiết. Sự thay đổi nhiệt độ là nguyên nhân ảnh hưởng đến tốc độ bắt mồi của
tôm, rối loạn hô hấp, mất cân bằng pH trong máu, dịch bệnh và các yếu tố khác
xảy ra. Kết quả theo dõi nhiệt độ cho thấy, nhiệt độ nước tương đối ổn định trong
suốt quá trình nuôi, nhiệt độ trung bình trong ngày cao nhất là 32 0C và thấp nhất
240C, biên độ dao động nhiệt trong ngày từ 3,5 - 40C, mặc dù nhiệt độ ao có sự
biến động giữa ngày và đêm nhưng nhìn chung không có ảnh hưởng lớn đến tốc độ
tăng trưởng cũng như khả năng bắt mồi của tôm.
Hàm lượng NH3 vẫn tồn tại do nuôi tôm công nghiệp với mật độ cao nhưng
vẫn ở mức cho phép, các ao có sử dụng chế phẩm sinh học hàm lượng NH3 thấp
23
hơn so với ao đối chứng. Hàm lượng NH3 cao nhất vào các tuần thứ 10 trở đi (vào
cuối vụ nuôi).
Hàm lượng DO luôn duy trì ở mức từ 6 – 8,5 mg/l và cao hơn so với hàm
lượng DO ở ao nuôi đối chứng (5 – 7,5 mg/l). Trong quá trình nuôi việc sử dụng
EM định kỳ đã tạo được màu nước ổn định trong suốt thời gian còn lại.
Đồ thị 4.1 Tốc độ tăng trưởng về trọng lượng của tôm thẻ chân trắng
24
Bảng 4.3. Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của tôm thẻ chân trắng (cm/con)
Công
Ngày nuôi
thức
30 ngày
45 ngày
60 ngày
75 ngày
1
6,08b
9,35b
11,20b
12,76b
2
6,50a
10,20a
12,38a
13,22a
T-test
3,17E-07
1,65E-09
2,9E-09
1,12E-05
Ghi chú: a, b là ký hiệu các nhóm sai khác ở mức ý nghĩa 0,05.
Các công thức có cùng chữ cái thì không sai khác nhau.