đánh giá ảnh hưởng của ánh sáng, tảo chaetoceros sp và chế phẩm sinh học epicin đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cua biển scylla paramamosain - Pdf 22

1
L
L
Ơ
Ơ
Ø
Ø
I
IM
M
Ơ
Ơ
Û
ÛĐ
Đ
A
A
À
À
U
UCua biển thuộc giống Scylla là đối tượng nuôi thủy sản có giá trò kinh tế ở
nhiều quốc gia Châu A Ù- Thái Bình Dương. Tuy nhiên, nghề nuôi cua biển trước đây

2
• Đánh giá ảnh hưởng của cường độ quang, tảo đơn bào Cheatoceros sp
và chế phẩm sinh học Epicin đến một số yếu tố môi trường nước trong
các bể ương nuôi ấu trùng cua biển.
• Đánh giá ảnh hưởng của cường độ quang, tảo đơn bào Cheatoceros sp
và chế phẩm sinh học Epicin đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của
cua bột.
Đây là lần đầu tiên tham gia nghiên cứu khoa học, kiến thức bản thân còn
hạn chế nên kết quả báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự chỉ
bảo ân cần của q thầy cô và các bạn để cuốn báo cáo này hoàn chỉnh hơn. 3
PHAÀN 1


A
A
Ø
Ø
I
IL
L
I
I
E
E
Ä
Ä
U
U

Hình 1: Hình thái ngoài của Scylla paramamosain.
Phần đầu ngực là sự kết hợp của 5 đốt đầu và 8 đốt ngực. Mặt bụng của phần
đầu ngực có các tấm bụng và làm thành vùng lõm ở giữa để chứa yếm gập vào [1].
Phần bụng dạng phiến mỏng có 7 đốt gập vào phần giáp đầu ngực. Các phần
phụ của phần bụng bò tiêu giảm. Phần cuối cùng của bụng là lỗ hậu môn .
Cua cái có 4 đôi chân bụng có cấu tạo giống nhau. Cua đực chỉ còn 2 đôi
chân bụng ở hai đốt bụng đầu tiên và tạo thành đôi cơ quan giao cấu [2].
1.3. Đặc điểm phân bố
Các loài cua thuộc giống Scylla phân bố khắp vùng biển Ấn Độ – Tây Thái
Bình Dương. Trong đó loài S. paramamosain phân bố rất hẹp, chỉ ở vùng biển phiá
Nam Trung Quốc: Cambodia, Việt Nam, Singapore, China, HongKong và ở vùng
biển Java: Kalimantan, Central Java (Keenan và ctv, 1998).
Ở Việt Nam, loài S. paramamosain phân bố chủ yếu ở khu vực đồng bằng
sông Cửu Long. Năm 1997 và năm 1998 tại khu vực cửa sông Trần Đề, huyện Long
Phú, tỉnh Sóc Trăng người ta đã thu được 93,4% là loài S. paramamosain trong tổng
số lượng cua đánh bắt được [1].
2. Đặc điểm sinh học của cua biển
2.1. Vòng đời phát triển và tập tính sống
Vòng đời của cua biển trãi qua nhiều giai đoạn khác nhau:
v Thời kỳ phôi thai được cua mẹ mang.
CW

Đốt càng ngoài

Chân

Chân bơi

Mắt


7
khả năng tự vệ, nằm ở đáy thủy vực 2 - 3 giờ mới phục hồi lại trạng thái bình thường
và sau 1 - 2 ngày vỏ cua mới cứng[2].
2.4. Đặc điểm sinh sản và sự phát triển của cá thể
2.4.1. Phân biệt đực cái
Ở cua cái, yếm có 6 đốt phân biệt rõ ràng. Trước thời kỳ thành thục yếm cua
có dạng hình hơi vuông, khi thành thục yếm trở nên nở rộng, tròn và màu sẫm. Ở
con đực yếm có hình chữ V, gồm có 5 đốt. Cơ quan sinh dục trong của cua cái gồm
có 2 noãn sào nằm lượn khúc trên gan tụy, hai ống dẫn trứng to và thẳng đỗ ra 2 lỗ
sinh dục nằm dưới đôi chân thứ 3. Cơ quan sinh dục trong của cua đực có 2 dòch
hoàn trắng và dài, nối tiếp theo là hai ống dẫn tinh đỗ ra lỗ sinh dục ở dưới chân
ngực 5[1].

Hình 2: Hình thái cấu trúc cơ quan sinh dục ngoài đực và cái
2.4.2. Tập tính sinh sản
Khi đến tuổi thành thục, cua di cư ra vùng ven biển để giao phối và sinh sản.
Ở vùng biển phía Nam nước ta, cua thường di cư vào tháng 7 - 8 và mùa sinh sản
chính thức từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Loài S. paramamosain sinh sản quanh
năm, ở nước ta thì cua cái có đỉnh cao thành thục vào tháng 9 - 10.

Cua cái chưa

yếm cua có dạng hơi tam giác.
v Giai đoạn 2: tuyến sinh dục đang phát triển, noãn sào có màu vàng, chiếm
1/4 diện tích gan tụy.
v Giai đoạn 3: cua đang trong thời kỳ thành thục, noãn sào phát triển và có
màu cam, noãn sào chiếm khoảng 1/4 - 3/4 diện tích gan tụy.
v Giai đoạn 4: túi chứa tinh lồi lên, noãn sào có màu vàng cam, noãn sào chiếm
hết diện tích gan tụy và cả ruột khoang.
Khi đẻ trứng, cua cái nằm ở đáy, phần đầu ngực và hai hàng chân bụng được
nâng lên, phần yếm mở về phía sau, trứng qua ống dẫn trứng thụ tinh với tinh trùng
từ túi chứa tinh. Nhờ sự cử động nhòp nhàng của các đôi chân bụng, trứng đẻ ra bám
trên các phiến lông tơ của chân bụng. Sức sinh sản tùy theo loài và kích cỡ cua cái
mang trứng[4].
2.4.4. Phát triển cá thể
Trong quá trình phân cắt phôi, màu sắc trứng cũng thay đổi từ vàng sang màu
đen xám. Khi trứng chuyển sang màu xám vàng nâu thì bắt đầu xuất hiện mầm
chân và mắt. Tim bắt đầu hoạt động, các cơ quan khác vẫn tiếp tục hình thành. Ấu
9
trùng Zoea mới nở bơi tự do và ngược dòng trong nước, có tính hướng quang rất
mạnh. Ấu trùng Zoea trãi qua 5 lần lột xác để biến thành ấu trùng Megalops [2].
Bảng 1: Các đặc điểm phân biệt giai đoạn ấu trùng Zoea[1].
Giai
đoạn

Đặc điểm bên ngoài
Thời gian sau
khi nở (ngày)
Kích thước trung
bình (mm)
Z
1


Ấu trùng Megalopa có đôi mắt kép to, có cuống mắt, có gai lưng; gai trán và
gai bên biến mất. Ấu trùng có 5 đôi chân ngực: đôi thứ nhất to, phát triển thành
càng. Phần bụng dài và hẹp, có 7 đốt nhưng không còn chẻ đôi. Ấu trùng Megalopa
bơi lội nhanh nhẹn. Trong điều kiện thí nghiệm, nhiệt độ nước từ 26 ÷ 30
o
C, độ mặn
từ 25 - 30
o
/
oo
thì sau 7

- 12 ngày Megalopa lột xác biến thành cua bột 1
(Cheng,H.C.,Jeng, KH., 1980). Cua bột 1 có các phần phụ đầu ngực phát triển đầy
đủ, bụng thu nhỏ lại và gập vào dưới phần đầu ngực gọi là yếm cua.

10
3. Tình hình nuôi cua trên thế giới
3.1. Tình hình sản xuất giống cua biển
Ở Úc và Đông Nam Á, chỉ có trại sản xuất giống với qui mô công nghiệp lớn
mới sản xuất được cua giống S. serrata với tỷ lệ sống từ Zoea
1
đến cua 1 trên 10%
một cách ổn đònh. Gần đây, các trại sản xuất giống này đã khuyến cáo rằng loài S.
paramamosain là loài dễ dàng nuôi trong trại giống hơn loài S. serrata. Những vấn
đề vẫn còn tồn tại trong các trại nuôi cua ở khu vực Đông Nam Á là dựa vào con
giống đánh bắt ngoài tự nhiên [6].
Từ 4 - 1999 đến 3 – 2000, hội liên hiệp các trang trại nuôi trồng hải sản ở
Nhật đã sản xuất 34.255.000 cua bột giống Portunus trituberculatus và sau đó hơn

ở giai đoạn Megalopa đến cua 1[8].
Những vấn đề quan tâm cũng đã dược nêu ra trong hội thảo:
• Cải thiện điều kiện chất lượng nước trong bể ương nuôi ấu trùng.
• Giảm việc sử dụng kháng sinh trong suốt giai đoạn ấu trùng.
• Triển khai việc lựa chọn thức ăn nhân tạo để thay thế thức ăn tươi
sống (Artemia) mà vẫn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng.
• Cải thiện sức khỏe của ấu trùng và nâng cao tỷ lệ sốâng.
3.2. Tình hình nuôi cua thương phẩm trên thế giới
Trong thập niên 90, theo Rosenberry 1997, tôm sú có vai trò quan trọng trong
nghề nuôi giáp xác ở khu vực Đông Nam Á, còn những loài giáp xác khác cũng
được nuôi nhưng rất ít hay là được nuôi ghép với các loài khác. Tuy nhiên, sự xuất
hiện của dòch bệnh là nguyên nhân chính gây sức ép đến nghề nuôi tôm sú làm cho
nền công nghiệp nuôi tôm bò suy giảm kể từ năm 1991 (Leung, Tran và Fast, 2000).
Kể từ năm 1994 -1995 ở vùng châu thổ sông Mekong – Việt Nam, dòch bệnh bùng
nổ trong các trang trại nuôi tôm sú (Chung 1997, Johnston, Clough, Xuan và
Phillips, 1999) và hiện nay là hội chứng virus đốm trắng và phân trắng. Khi dòch
12
bệnh bùng nổ ở các ao nuôi tôm sú thương phẩm thường xuyên thì các trại nuôi cua
trở nên gia tăng mạnh.
Theo số liệu thống kê của FAO năm 2003, tổng sản lượng cua biển trên thế
giới là 1%, các loài cua khác là 10% và sản lượng tôm chiếm 89% tổng sản lượng
khai thác.
Ở khu vực Đông Nam Á, hình thức ương nuôi cua chủ yếu là trong lồng hay
trong ao. Ở Úc và Phillipin cũng đã thành công với hình thức nuôi cua trong các ao
cạn, có cung cấp thêm giá thể để cho cua ẩn nấp. Sự mở rộng trại nuôi cua thương
phẩm trên hầu hết các quốc gia đều gặp khó khăn bởi vì không cập nhật kòp thời các
kỹ thuật sản xuất giống và do thiếu con giống.
Nuôi cua thương phẩm ở Phillipin :
• Cua biển được nuôi với 4 hình thức: nuôi đơn, nuôi ghép với tôm, nuôi
trong rừng ngập mặn và nuôi vỗ béo ở trong ao hay trong lồng.

• Dòch bệnh hiện nay chưa là vấn đề khó khăn nhưng cũng là vấn đề gặp
phải trong tương lai.
• Quan tâm đến Hội chứng Lột xác của cua để nâng cao tỷ lệ sống.
• Có biện pháp thu hoạch tốt hơn để giảm nhân công.
4. Tình hình sản xuất cua biển ở Việt Nam
4.1. Tình hình sản xuất giống cua biển ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tất cả các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu là tập trung
vào sự ảnh hưởng của dinh dưỡng, nhiệt độ và độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng
cua biển S. paramamosain. Hiện nay, hướng nghiên cứu là nâng cao tỷ lệ sống trong
sản xuất giống S. paramamosain với tỷ lệ sống hơn 10% từ Zoea
1
đến cua 1. Ở qui
14
mô sản xuất thử nghiệm trong bể có thể tích 1 - 4 m
3
, tỷ lệ sống đạt 2 - 5% từ Zoea
1

đến cua1 [9].
Viện nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã sản xuất và cung cấp cho các
trại nuôi cua khoảng 1,5 – 2 triệu giống S. paramamosain/năm.
Trung tâm Nghiên Cứu - trường Đại học Cần Thơ cũng đã nghiên cứu thành
công trong việc sinh sản nhân tạo cua loài S. paramamosain và đã xác đònh nguyên
nhân chính làm cho ấu trùng chết vào giai đoạn biến thái là do nghèo dinh dưỡng
trong thức ăn, đặc biệt là hàm lượng các acid béo không no và sự ăn nhau của ấu
trùng Megalopa và cua bột.
Phân viện Nghiên Cứu Nuôi trồng Thủy sản Minh Hải -Viện nghiên cứu
NTTS II từ tháng 6/2004 đến tháng 4/2005 sản xuất ra 200.000 cua giống, đạt tỷ lệ
sống 2 - 4%. Trung Tâm Khuyến Ngư Cà Mau từ tháng 11/2004 đến tháng 2/2005
đã sản xuất 100.000 cua bột với tỷ lệ sống 2,5 - 4,5% [5].

2
, cho
ăn cá tạp và nhuyễn thể. Hình thức này được áp dụng để nuôi vỗ béo
những con cua đực còn ốp hay cua gạch chưa đạt chất lượng. Sau 25
đến 30 ngày nuôi, cua đực sẽ chắc thòt và cua cái gạch đầy, đạt tiêu
chuẩn cua thương phẩm, khối lượng từ 300 - 400 g/con.
Gần đây những người nuôi cua biển ở Bạc Liêu đã báo cáo rằng loài
S. paramamosain là loài chiếm ưu thế trong tổng sản lượng cua đánh bắt được và nó
cũng là loài được ưa thích nhất (Macintosh và Nguyễn T Phương, 2002).
Để nghề nuôi cua thương phẩm ở Việt Nam phát triển bền vững thì cần phải
quan tâm đến:
• Vấn đề sử dụng cá tạp làm thức ăn nuôi cua trong hệ thống nuôi thâm
canh có thể gây ô nhiễm môi trường và là nguyên nhân của bệnh tật.
Cá tạp là nguồn lợi có hạn, không đảm bảo được khả năng cung cấp.
• Nghiên cứu về dòch bệnh và cách phòng ngừa bệnh.
Trong tương lai, cần phải nghiên cứu về vấn đề dinh dưỡng của cua, tính toán
các thành phần thức ăn cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Cần phải hiểu rõ
nhu cầu dinh dưỡng của cua biển bao gồm: protein, lipid, năng lượng, cacbohydrate.
16
Xác đònh sự ảnh hưởng của thành phần các chất dinh dưỡng đến sự tăng trưởng cho
mỗi giai đoạn cua [9].
5. Một số chỉ tiêu môi trường trong sản xuất giống giáp xác
5.1. Ammonia tổng số
Hàm lượng ammonia tổng số được coi là quan trọng trong việc đánh giá chất
lựơng nước trong sản xuất giống. Trong quá trình ương nuôi ấu trùng hàm lượng
ammonia tổng số được hình thành từ các sản phẩm bài tiết, từ nguồn thức ăn dư thừa
và từ vỏ xác lột.
Ammonia dạng không ion hoá NH
3
là độc đối với thủy sinh vật, hàm lượng

4
+
chuyển sang nitrite (NO
2
-
) dưới tác dụng của vi khuẩn cố
đònh nitrite với sự có mặt của oxy. Nitrite không bền, dưới tác dụng của vi khuẩn
Nitrobacter với sự có mặt của oxy, chúng bò oxy hóa tạo thành nitrate (NO
3
-
), dạng
này không gây độc đối với thủy sinh vật[3].
Chin và Chen (1988) đã đưa ra giá trò LC50 của nitrite ở tôm sú giai đoạn
Mysis khi nuôi ở độ mặn 34 ppt là 8,3 mg NO
2
-
/l trong thời gian 48 giờ và đối với
giai đoạn Postlarvae là 33 mg/l. Nồng độ nitrite an toàn là 0,11 mg/l đối với ấu
trùng tôm sú ở giai đoạn Zoea và 1,4 mg/l đối với Postlarvae. Tôm ấu niên có khả
năng chòu đựng hơn giai đoạn ấu trùng[6].
Armstrong và ctv (1976) đưa ra giá trò LC50 của nitrite trong thời gian 96
giờ của ấu trùng tôm càng xanh Macrobrachium rosenbergii là 8,6 mg/l ở độ mặn
12 ppt. Một số đối tượng khác như cá Măng có giá trò LC50 trong thời gian 48 giờ
là 12 mg/l.
5.3. Phosphate (PO
4
3-
)
Photpho là nguyên tố tạo sinh rất cần thiết cho sự sống ở nước. Ion PO
4

2
O. COD biểu thò cho lượng chất hữu cơ có thể bò oxi
hóa bằng hóa học (bao gồm cả lượng chất hữu cơ không thể bò oxi hóa bằng vi
khuẩn) COD được sử dụng rộng rãi để đặc trưng cho mức độ các chất hữu cơ trong
môi trường nước ô nhiễm[3].
Chỉ số COD dùng trong sản xuất giống vẫn chưa đươc xác đònh cụ thể. Ở một
số đối tượng như: Ao nuôi cá rô phi thì giá trò COD cho phép là 28,9 mgO
2
/1ít và
trước khi thả cá là 18,8 mgO
2
/1ít [11]. Chỉ số này còn phản ánh sức sản xuất của
vùng nước nuôi tự nhiên nhưng trong các bể ương nuôi ấu trùng thì nó phản ánh mức
độ ô nhiễm hữu cơ.
5.6. Vibrio
Trong sản xuất giống hiện nay, các nhóm vi khuẩn Vibrio thường ảnh hưởng
đến kết quả của đợt sản xuất giống. Tuy nhiên, sự xuất hiện của khuẩn lạc xanh
thường là mầm bệnh, còn khuẩn lạc vàng thì có lợi. Số khuẩn lạc trong nước sử
dụng sản xuất giống vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Ngành Nuôi trồng Thủy
Sản là ≤ 1000 CFU/ml thì sẽ không có lợi cho ấu trùng của giáp xác. 19
PHAÀN 2

N
N
G
G
H
H
I
I
E
E
Â
Â
N
NC
C
Ö
Ö
Ù
Ù
U
U


Hình 3: Sơ đồ xử lý nước.

Bể ương
ấu trùng

Bể đẻ
Bể ấp
C
C
u
u
a
am
m
?
?
ï
ï
m
)
)A
A
o
o

l
l
a
a
é
é
n
n
g
gC
C
h
h
l


p
p
p
p
m
m
)
)O
O
z
z
o
o
â
â
n
nU
U
V
VB

s
i
i
n
n
h
hh
h
o
o
ï
ï
c
cB
B
e
e
å
åt
t
i

cn
n
g
g
ư
ư
ơ
ơ
ï
ï
c
cB
B
e
e
å
åt
t
i
i
e

ï
c
ct
t
h
h
a
a
n
nh
h
o
o
a
a
ï
ï
t
tt
t
í

ot
t
ư
ư
ơ
ơ
i
i

Cua
mẹ
21
Nguồn nước mặn được bơm từ biển vào ao lắng và để cho lắng vài ngày, rồi
bơm lên hồ chứa có thể tích 30 m
3
và được xử lý thuốc tím với nồng độ 2 - 4 ppm.
Nước sau khi hết màu thuốc tím được bơm qua bể lọc sinh học, sau đó được chứa
trong hồ có thể tích 30 m
3
để xử lý Chlorine với nồng độ 30 - 50 ppm (sục khí mạnh
24/24 giờ). Sau khoảng 48 giờ, trung hòa bằng Thiosunfat Natri (Na
2
S
2

5
– Young, J.C, g.n.nMc
Dermott và D.Jenkins,1981.
• Đònh lượng Vibrio trong nước bằng phương pháp cấy và đếm khuẩn
lạc.
• Xác đònh PO
4
3-
bằng phương pháp tạo phức với acid Ascorbic, soi màu
– Murphy và Riley, 1962.

22
4. Thí nghiệm
4.1. Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của cường độ quang, tảo Chaetoceros sp và
chế phẩm sinh học Epicin đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống

Thí nghiệm được tiến hành trên các bể composite có dung tích 2m
3
, giai đoạn
Zoea
1
đến Zoea
5
được ương với mật độ 220 con/l, giai đoạn Megalopa đến cua bột
ương với mật độ 25 con/lít.

Hình 4: Sơ đồ thí nghiệm

Chế độ chiếu sáng: Trên các bể được chiếu sáng có lắp thêm 1 bóng đèn
huỳnh quang (1,2 m), cường độ chiếu sáng là 2000 lux. Trên các bể không lắp thêm
đèn có cường độ chiếu sáng là 250 lux. Tất cả các bể đều không bò chi phối bởi ánh
sáng tự nhiên.
Tảo Chaetoceros sp: Tăng sinh khối tảo thực hiện trong điều kiện vô trùng
trong các túi nylon có V = 50 - 60 lít. Môi trường nuôi cấy tảo là môi tường Walne
và môi trường Silic. Ở các nghiệm thức có sử dụng tảo được cho 15 - 20 lít
tảo/ngày/lần, mật độ 25.000 - 75.000 tế bào/lít nước trong bể nuôi. Cách cho ăn:
dùng ống nhựa hút tảo trong túi nylon cho vào xô nhựa và cho trực tiếp vào bể ương
ấu trùng. Tảo được cho ăn từ giai đoạn Zoea
1
đến giai đoạn Zoea
5
.
Chế phẩm sinh học Epicin: bản chất của Epicin là các dòng vi khuẩn có lợi
thuộc nhóm Bacillus, có tác dụng cải thiện chất lượng nước. Ở nghiệm thức có dùng
chế phẩm sinh học, xử lý Epi-3W trước lúc thả ấu trùng (1 ppm), Epi-H với nồng độ
là 1 ppm 1lần/ngày ở giai đoạn Zoea
1
; giai đoạn Zoea
2
,
3
là 2 ppm và Zoea
4, 5
là 3
ppm. Cách cấy chế phẩm sinh học: trộn Epicin theo liều lượng của từng giai đoạn ấu
trùng với nước trong bể ương nuôi (5 lít/bể), sục khí để kích hoạt vi khuẩn, lọc bỏ
cặn bả bằng vải lọc và cho vào bể ương, đối với Epi-3W sục khí trong 24 giờ, Epi-H
sục khí trong 30 phút.

.
Các bể đồng nhất về chế độ cho ăn: Giai đoạn Zoea
1,2
cho ăn Artemia bung
dù 3g/lần, ngày cho ăn 3 lần. Giai đoạn Zoea
3
trở đi cho ăn Nauplius của Artemia
và Artemia, sau mỗi lần lột xác ta tăng lượng thức ăn lên 1g/lần. Giai đoạn
Megalopa cho ăn thức ăn chế biến 1g/lần, cho ăn 4 lần/ngày và Nauplius của
Artemia hay Artemia 1g/lần/ngày.
Các bể đồng nhất về chế độ chăm sóc, quản lý môi trường: Gần cuối mỗi giai
đoạn biến thái của ấu trùng, tiến hành siphone, thay nước từ 10 – 20% nước đã qua
xử lý.
pH được duy trì từ 7,5 – 8,5 và nhiệt độ từ 27 – 29
o
C.
5. Xác đònh tỷ lệ sống
• Dụng cụ để đònh lượng là cân điện tử.
• Mức độ chính xác của cân là 0,01g.
• Dùng vợt vớt toàn bộ ấu trùng cho vào thau nhựa có chứa nước. Cân 1 g ấu
trùng và đònh lượng.
• Sau đó cân toàn bộ ấu trùng để xác đònh số lượng toàn bộ ấu trùng.
Tổng số ấu trùng ở giai đoạn xác đònh*100%
Tỷ lệ sống =
Tổng số ấu trùng giai đoạn ban đầu
6. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê sinh học phần mềm Excel version 2002 để
tính các giá trò trung bình và độ lệch chuẩn.
Thời gian biến thái : T = T
2

Trích đoạn Thử nghiệm sản xuất cua bột
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status