LUẬN văn tốt NGHIỆP ĐẢNG LÃNH đạo CÔNG tác tôn GIÁO GIAI đoạn đẩy MẠNH CỘNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa đất nước - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội - lịch sử phức tạp, xuất hiện từ rất sớm
trong đời sống nhân loại. Vấn đề tôn giáo là vấn đề lớn, rất phức tạp, liên quan
trực tiếp đến việc ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, củng cố an ninh,
quốc phòng của mỗi quốc gia dân tộc.
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, cũng như trong bối cảnh thế giới
đang phải đối mặt trước nhiều vấn đề phức tạp như: xung đột dân tộc, sắc tộc,
tôn giáo … thì việc giải quyết đúng đắn, hợp lý vấn đề tôn giáo ở mỗi quốc gia,
mỗi khu vực và trên thế giới càng trở nên hết sức cấp thiết. Việc giải quyết vấn
đề này đòi hỏi mỗi quốc gia, mỗi khu vực trên toàn cầu phải có những chính
sách, những luật lệ phù hợp để vừa bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo vừa
chống lại những mưu đồ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm mất ổn định an ninh,
chính trị.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, chỉ tính 6 tôn giáo lớn đã có
khoảng trên 20.000.000 tín đồ, chiếm khoảng 25% dân số. Đại bộ phận tín đồ là
nhân dân lao động, cư trú tập trung ở các địa bàn quan trọng về chính trị, kinh tế,
quốc phòng - an ninh , có một bộ phận tín đồ là đồng bào các dân tộc thiểu số cư
trú ở các địa bàn chiến lược: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ… Đồng bào
các tôn giáo đều là con Lạc cháu Hồng hoà đồng trong lòng dân tộc, sống “tốt
đời, đẹp đạo”, có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta
thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường
đúng pháp luật; đồng thời coi tôn giáo là vấn đề chiến lược quan trọng trong sự
nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Mặt khác, xuất phát từ quan điểm coi tín


ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng, Nhà
nước luôn coi đoàn kết đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn

rút ra những kinh nghiệm bước đầu làm cơ sở bổ sung, phát triển, hoàn thiện
đường lối công tác tôn giáo của Đảng những năm tiếp theo, đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ ngày càng cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân về công tác tôn giáo
trong giai đoạn cách mạng mới.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo công tác tôn giáo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước từ năm 1996 đến năm 2006” làm luận văn cử nhân Lịch sử,
chuyên ngành Lịnh sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Đã có nhiều công trình khoa học được công bố đề cập đến vấn đề tôn
giáo, công tác tôn giáo, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở nhiều khía
cạnh khác nhau.
Một số công trình nghiên cứu đã được công bố như: “Chính sách
tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam” của Lê Quang Vinh, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng,
số 03 năm 2001. “Lành mạnh hoá các hoạt động tín ngưỡng và tâm linh
hướng vào các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ” của Đặng Hữu,
Tạp chí Công tác khoa giáo số 05 năm 2001. “Thực hiện tốt công tác tôn
giáo của Đảng, nhằm củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân ”
của Nguyễn Văn Ngọc, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 09 năm 2001.
“Vấn đề tôn giáo theo quan điểm của Đảng trong văn kiện Đại Hội IX ”
của Nguyễn Đức Lữ, Tạp chí Thông tin lý luận chính trị số 02 năm 2002.
“Tình hình an ninh quốc phòng, tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số, và niền
núi trong thời kỳ đổi mới: thực trạng và giải pháp” của Hà Quế, Tạp chí


Thông tin những vấn đề lý luận số 05 năm 2002. “Phát huy giá trị tốt đẹp
về đạo đức của tôn giáo” của Nguyễn Thị Nga và Hoàng Thị Lan, Tạp chí
Lý luận chính trị số 12 năm 2002. “Làm tròn trách nhiệm công dân, sống
tốt đời đẹp đạo” của Phan Văn Khải, Báo Nhân Dân ngày 03/01/2003.

* Nhiệm vụ
- Làm rõ tính tất yếu khách quan Đảng lãnh đạo đối với công tác tôn
giáo trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước từ năm 1996 đến năm 2006.
- Làm rõ quá trình hình thành tư duy mới của Đảng về công tác tôn giáo
và chủ trương lãnh đạo công tác tôn giáo của Đảng từ năm 1996 đến năm 2006.
- Làm rõ sự chỉ đạo thực hiện đường lối tôn giáo của Đảng, những thành
tựu, hạn chế và nguyên nhân.
- Bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm từ quá trình Đảng lãnh đạo công
tác tôn giáo từ năm 1996 đến năm 2006, vận dụng vào giai đoạn mới để không
ngường nâng cao chất lượng lãnh đạo công tác tôn giáo của Đảng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác tôn giáo của Đảng thời kỳ
đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, từ năm 1996 đến năm 2006.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận, luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo.
* Phương pháp nghiên cứu, vận dụng chủ yếu các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng đó là: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgích
và kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp lô gích. Ngoài ra còn sử dụng
các phương pháp: phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, điều tra, thống kê, so
sách… để hoàn thiện luận văn.


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần nghiên cứu, tổng kết hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo thực
hiện cơng tác tơn giáo của Đảng từ năm 1996 đến năm 2006.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần khẳng định tính đúng đắn
sáng tạo trong đường lối và sự chỉ đạo của Đảng về cơng tác tơn giáo.
Tổng kết đúc rút những kinh nghiệm từ q trình lãnh đạo cơng tác tơn

nụi tớn ủồ soỏng thaứnh coọng ủồng tửụng ủoỏi taọp chung vụựi quy mõ
nhoỷ, cuừng coự vuứng tớn ủồ caực tõn giaựo soỏng xen keừ vụựi nhau hoaởc
soỏng xen keừ vụựi quần chuựng khõng theo tõn giaựo.
Caực tõn giaựo coự nguồn goỏc xuaỏt hieọn cuừng khaực nhau: Cõng
giaựo, Phaọt giaựo, Tin laứnh, Hồi giaựo ủửụùc du nhaọp tửứ bẽn ngoaứi
vaứo qua caực thụứi kyứ lũch sửỷ vụựi nhửừng phửụng thửực khaực nhau, trong
khi ủoự Cao ủaứi vaứ Phaọt giaựo Hoứa Haỷo mang tớnh baỷn ủũa noọi sinh.
Vụựi mửực ủoọ khaực nhau, caực tõn giaựo ủều coự moỏi quan heọ
với các tơn giáo và tổ chức tơn giáo trên thế giới đồng, thời chịu sự ảnh hưởng
của những moỏi quan heọ ủoự.
Khi nửụực ta bửụực vaứo ủoồi mụựi, nhất laứ tửứ sau khi coự Nghũ
quyeỏt 24/NQ-TW cuỷa Boọ Chớnh trũ khoaự VI ngaứy 16 thaựng 10 naờm
1990 về “Taờng cửụứng cõng taực tõn giaựo trong tỡnh hỡnh mụựi” hoát
ủoọng tõn giaựo ụỷ nửụực ta noồi lẽn moọt soỏ ủaởc ủieồm sau:
Moọt laứ, taỏt caỷ caực tõn giaựo ủều ủaồy mánh hoát ủoọng nhaốm
phaựt trieồn toồ chửực, phaựt huy aỷnh hửụỷng trong ủụứi soỏng tinh thần xaừ
hoọi.
Caực giaựo hoọi ụỷ Vieọt Nam ủều taờng cửụứng hoát ủoọng nhaốn
mụỷ roọng aỷnh hửụỷng, quy tú, thu huựt caực tớn ủồ trong caỷ nửụực.
Nhiều toồ chửực tõn giaựo xuaỏt hieọn nhaốm thu huựt caực tớn ủồ. Mụỷ
roọng caực hỡnh thửực sinh hoát theo hửụựng theỏ túc sõi noồi, roọng raừi
nhử: l baựi, cầu kinh, tu sửỷa, mụỷ mang, xãy caỏt nụi thụứ phúng, phaựt


trieồn tớn ủồ, ủaứo táo giaựo sú, in aỏn kinh saựch,... Caực toồ chửực tõn
giaựo trong nửụực quan heọ roọng raừi vaứ chaởt cheừ hụn vụựi caực toồ chửực
tõn giaựo theỏ giụựi vaứ nửụực ngoaứi. Hoát ủoọng tõn giaựo vaứ chớnh
saựch cuỷa Giaựo hoọi ủoỏi vụựi tớn ủồ coự nhiều ủoồi mụựi theo hửụựng
cụỷi mụỷ, dãn chuỷ. Do sửù taực ủoọng tiẽu cửùc tửứ maởt traựi cuỷa cụ cheỏ
thũ trửụứng laứm gia taờng caực hoát ủoọng mẽ tớn, dũ ủoan, phúc hồi huỷ

lường.
Bốn là, xuất hiện những hiện tượng “tôn giáo mới” làm nhiễu loạn thêm
xã hội, gây ra những hoài nghi, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội.
Ở nước ta hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ những hiện tượng “tôn
giáo mới” nay có khoảng năm, sáu chục và đã gây ra những hậu quả nhất định.
Những hiện tượng này thường được một người coi là hoá thân của một vị thần
hay tự xưng là có kiến thức thánh, thần đứng ra lập đạo bằng cách lựa chọn một
yếu tố trong một tôn giáo hay tập hợp các yếu tố của nhiều tôn giáo rồi lắp ráp
lại thành lập “đạo riêng” của mình. Có loại pha chút “khoa học” thần bí: ngoại
cảm, nhân điện, phát tín từ xa được giải thích một cách trực giác, qua niềm tin vô
hình, bằng phương pháp “xiêu lý”… loại này đang là một xu hướng phát triển ở
các nước công nghiệp mới, ảnh hưởng tới nước ta, hấp dẫn những người cả tin
làm hoài nghi những người có học nửa vời. Những hiện tượng “tôn giáo mới” ở
nước ta nảy sinh chưa được bao lâu, nhưng có thể thấy lành ít dữ nhiều (Vàng
Chứ – Mông; Thìn Hùng – Giao;…)
Đồng bào theo tôn giáo ở Việt Nam đoàn kết gắn bó với dân tộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Đảng ta chỉ
rõ:


“Đồng bào các tôn giáo đã có đóng góp tích cực vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhìn chung các tổ chức tôn giáo đã xây dựng
đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; các tôn giáo được Nhà
nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ
trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời, đẹp đạo,
góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước” [15, 46]
Nhận định: đồng bào theo tôn giáo ở Việt Nam đoàn kết, gắn bó với dân
tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì:
Một là, đồng bào theo các tôn giáo ở Việt Nam có lòng yêu nước nồng

nước nồng nàn thì việc hy sinh phấn đấu cho dân tộc, cho nhân dân, cho quê
hương, đất nước sẽ trở thành lẽ sống hiển nhiên của đồng bào các tôn giáo.
Hai là, tín đồ các tôn giáo đại bộ phận là nhân dân lao động.
Đa số tín đồ các tôn giáo là nông dân và nhân dân lao động, đồng bào
mong muốn xoá bỏ mọi áp bức, bóc lột, thoát khỏi mọi sự nô dịch, gông xiềng
của đế quốc, thực dân, phong kiến; mong muốn có một cuộc sống tự do, ấm no,
hạnh phúc. Sự mong muốn và khát khao đó của đồng bào hoà nhịp với mục tiêu,
lý tưởng cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng đánh
đổ đế quốc, thực dân, địa chủ phong kiến giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp
dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động, là sự
nghiệp của dân, do dân và vì dân. Do đó, đã động viên, tập hợp được quảng đại
quần chúng nhân dân, cả đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn
giáo trong phong trào cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đúng
như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ
người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt
Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc” [32, 480]. Trong
quá trình cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào các tôn giáo đã có


nhiều đóng góp xứng đáng, không chỉ về của cải vật chất, mà còn cả về sức
người, nhiều tín đồ, chức sắc tôn giáo đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập, tự do
của Tổ quốc.
Ba là, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đồng bào tôn giáo ở Việt Nam, cùng một cội nguồn, có lòng yêu nước
nồng nàn, đại đa số là người lao động, là một bộ phận trong đại gia đình dân tộc
Việt Nam, là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, đồng bào các tôn giáo đoàn kết với nhau và gắn bó với dân tộc trong
sự nghiệp cách mạng, các tổ chức tôn giáo là thành viên trong Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc.

Ngày nay đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Sự nghiệp
đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước đặt ra những đòi hỏi lớn đối với toàn dân tộc,
trong đó đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời. Tuy nhiên vấn
đề tôn giáo hiện nay đang chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau:
Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến vấn đề tôn giáo
Kinh tế thị trường với mặt trái của nó là xu hướng chạy theo đồng tiền,
sự phân hoá giàu nghèo, sa sút đạo đức làm nảy sinh tâm lý tín ngưỡng, tôn giáo
và cả mê tín dị đoan phát sinh phát, triển mạnh.
Kinh tế thị trường là một trong những biến thiên xã hội quan trọng nhất,
mạnh mẽ nhất, nó dẫn tới những biến đổi to lớn của nhiều phương diện từ kết
cấu xã hội, kết cấu nhân khẩu, đô thị, môi trường, giáo dục cho đến khuynh
hướng giá trị và phương thức sinh hoạt của con người. Chính những biến động
đó đã tạo ra mảnh đất rộng rãi, rộng lớn cho tôn giáo tồn tại và phát triển. Bởi vì:


Kinh tế thị trường đã tạo ra không gian tồn tại cho tôn giáo. xã hội trong
kinh tế thị trường chứa đựng nhiều nhóm văn hoá có đặc thù khác nhau, mặc dù
không phải là văn hoá chủ lưu, nhưng nó tồn tại song song với văn hoá chủ lưu,
đây chính là điều kiện cho tôn giáo tồn tại và phát triển. Sự lưu động nhân khẩu
với tốc độ cao của kinh tế thị trường cũng là mảnh đất tốt để tôn giáo tồn tại và
phát triển.
Kết quả của sự nghiệp phát triển giáo dục làm cho trình độ văn hoá xã
hội nâng cao. Mọi người hiểu biết và ủng hộ tự do tín ngưỡng, ai theo tín ngưỡng
nào được xem là việc riêng của mỗi người, người khác không can thiệp. Mặt
khác của cải vật chất dồi dào người ta không phải lo lắng nhiều về đời sống vật
chất, người ta quan tâm nhiều hơn đến đời sống tinh thần, sức khoẻ... của chính
bản thân họ, do đó tôn giáo có nhiều cơ hội hơn để tồn tại và phát triển.
Kinh tế thị trường cung cấp nội dung mới cho tôn giáo truyền bá. Những
mâu thuẫn do sự phát triển mạnh mẽ của xã hội trong kinh tế thị trường gây ra
như: phân hoá giàu nghèo, mất cân bằng sinh thái, bùng nổ dân số, ô nhiễm môi

Về mặt tích cực, ảnh hưởng rõ nét nhất của toàn cầu hoá đối với tôn giáo
gắn liền với sự phát triển của KHKT đặc biệt là thông tin. Có thể nói chưa bao
giờ các tôn giáo có được những phương tiện thuận lợi như hiện tại để phổ biến,
truyền giảng các tín lý, đức tin và các thông điệp của mình tới các tín đồ ở khắp
mọi nơi.
Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý, khoa học và sự phổ biến tư tưởng
đa tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hoá cũng đem tới một sức ép, một cách nhìn
mới buộc các tôn giáo phải không ngừng canh tân giảm bớt những yếu tố lạc
hậu, lỗi thời. Chẳng hạn thái độ khắt khe, coi thường đối với phụ nữ của một số
nhóm Hồi giáo hoặc sự sơ cứng từng có của Công giáo đối với vấn đề kế hoạch
hoá gia đình.


Sự đa dạng tôn giáo trong điều kiện toàn cầu hoá mang lại một sự bình
đẳng, cơ hội ngang nhau cho các tôn giáo bất kể lớn nhỏ, mới cũ trong các hoạt
động đạo cũng như đời. Nó cũng cho phép tấn công trực diện vào các quan niệm
về tôn giáo và tự do tôn giáo mang màu sắc Tây phương, làm lộ rõ sự ngạo mạn
phi lý của những đòi hỏi về sự phổ cập của những giá trị Tây phương trên phạm
vi toàn cầu.
Sự đa dạng tôn giáo không chỉ tác động đến mối quan hệ giữa các tôn
giáo mà còn ảnh hưởng đến quan hệ nội tại của các tôn giáo. Tất các các tôn giáo
đều phải chấp nhận và lưu tâm đến vấn đề hội nhập văn hoá trong tiến trình toàn
cầu hoá.
Về mặt tiêu cực, sự quảng bá tư tưởng đa tôn giáo trong điều kiện toàn
cầu hoá bên cạnh những giá trị tích cực trong việc góp phần xây dựng một nền
hoà bình chung, cũng đưa tới những biểu hiện thái quá, xung đột vũ trang hoặc
những hành động khủng bố của các nhóm tôn giáo cực đoan. Thực tế này có thể
nhận ra một vấn đề là trong nhiều trường hợp tôn giáo đã bị các thế lực đế quốc,
thực dân lợi dụng để thực hiện ý đồ chính trị, tạo tấm bình phong bên cạnh các
thủ đoạn quân sự nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của ta, tiến tới thực hiện

bào dân tộc thiểu số). Vì vậy, lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng được
các thế lực thù địch coi là một trong những lĩnh vực trọng điểm. Nghị quyết lần
thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX đã chỉ rõ: “Ở một số nơi, nhất là
vùng dân tộc thiểu số, một số người đã lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến
hành những hoạt động chống đối, kích động tín đồ nhằm phá hoại khối đại đoàn
kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị” [18,47]. Phương thức tiến hành chủ yếu
của hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch
là: lợi dụng đức tin tôn giáo của quần chúng nhân dân là tín đồ thuộc các tôn


giáo, chúng xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình và chính sách tôn giáo của
Đảng và Nhà nước đối với dư luận trong và ngoài nước, hòng lôi kéo quần chúng
có đạo chống lại đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam, phục vụ mưu đồ chính trị của chúng.
Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về
tự do tín ngưỡng, tôn giáo là rõ ràng, công khai và phù hợp với truyền thống văn
hoá, thuần phong, mỹ tục Việt Nam được đông đảo các tầng lớp nhân dân có đạo
cũng như không có đạo trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam tán thành và
nghiêm chỉnh thực hiện.
Tuy nhiên vẫn có một số người do cố tình đi ngược lại chủ trương chính
sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, câu kết với bọn phản
động lưu vong ở nước ngoài đội nốt hoặc mượn danh tôn giáo, lợi dụng những
quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để có những hoạt động chống phá
cách mạng, hoặc lợi dụng những sơ hở của một bộ phận cán bộ, nhân dân trong
thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá cách mạng. Biểu
hiện ở những vấn đề lớn sau:
Một là, các thế lực từ bên ngoài tăng cường tài trợ vật chất và chỉ đạo
đường hướng tập hợp lực lượng của bọn phản động trong các tổ chức tôn giáo
trong nước lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo kích động các phần tử cực
đoan trong tôn giáo, tăng cường hoạt động thực hiện âm mưu “Diễn biến hoà

1.2. Chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo trong thời kỳ mới
1.2.1. Những quan điểm của Đảng về công tác tôn giáo trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới đất nước,
Đảng ta luôn quan tâm tới vấn đề tôn giáo, coi đó là “vấn đề chiến lược có ý


nghĩa rất quan trọng”. Do đó cùng với quá trình đổi mới toàn diện mọi mặt của
đời sống xã hội, Đảng không ngừng hoàn thiện chính sách tôn giáo. Chính sách
tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước thể hiện sự nhất quán về thái
độ ứng xử và phản ánh sự phát triển nhận thức của Đảng về tôn giáo.
Tính nhất quán trong quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng về tôn
giáo thể hiện sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo không phải mới xuất hiện trong thời kỳ đổi mới mà đã được khẳng định
từ rất sớm trong văn kiện của Đảng. Trong Chỉ thị về việc thành lập Hội phản đế
đồng minh, ngày 18-11-1930, Đảng ta đã nêu rõ “...phải lãnh đạo từng tập thể
sinh hoạt hay tập đoàn của nhân dân gia nhập một tổ chức cách mạng, để dần
dần cách mạng hoá quần chúng và lại bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của
quần chúng” [44, 24]. Nghị quyết Trung ương bảy (tháng 11- 1940) đã xác định,
cùng với các quyền tự do dân chủ khác, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một
mục tiêu của cách mạng. Nghị quyết nhấn mạnh “Cuộc cách mạng tư sản dân
quyền Đông Dương thực hiện những khẩu hiệu như sau đây:... Ban bố hiến pháp
dân chủ, ban bố những quyền tự do dân chủ cho nhân dân: tự do ngôn luận, tự
do tư tưởng, tự do tín ngưỡng...” [45, 68-69]. Trong chương trình hoạt động của
Mặt trận Việt Minh (1941), tự do tín ngưỡng, tôn giáo một lần nữa được thừa
nhận là quyền tự do, dân chủ của nhân dân và được xác định là một nội dung cần
thực hiện khi cách mạng thành công. Chương trình Việt Minh ghi rõ “Chính trị:
1. Thi hành phổ thông đầu phiếu: 2. Ban hành các quyền tự do dân chủ như: tự
do xuất bản, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng,…” [45, 150].

ương bảy Khoá IX về công tác tôn giáo đã khẳng định: “Trong cách mạng dân
tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ


Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân kháng chiến
thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho đất nước” [15, 45]
Bước vào thời kỳ đổi mới, trong chính sách tôn giáo, cùng với việc giữ
vững nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân, đoàn kết đồng bào theo đạo và không theo đạo, đoàn kết giữa đồng bào theo
các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng đã
có những quan điểm đổi mới về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo.
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước theo tinh thần Đại hội VI, Đảng và
Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết và chỉ thị về công tác tôn giáo. Ngày 16
tháng 10 năm 1990, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về tăng cường
công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Nghị quyết đã đề ra những quan điểm lớn
như: Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu
tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp
với công cuộc xây dựng xã hội mới.
Quán triệt quan điểm trên Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ
VII (1991) nêu rõ:
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân, Đảng và
Nhà nước ta cần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân. Thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn
giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến phân biệt đối xử với đồng
bào có đạo, chống những hành vi vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời
nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để phá hoại độc
lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội và ngăn cản tín đồ
làm nghĩa vụ công dân” [12, 78].
Trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
Điều 70 có ghi:

Đặc biệt, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá
IX ra Nghị quyết chuyên đề về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Nghị quyết
xác định phương hướng, quan điểm, chính sách đối với tôn giáo trong thời kỳ
đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
Về quan điểm, Nghị quyết khẳng định:
Một là, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở
nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình
thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật,
bình đẳng trước pháp luật.
Hai là, Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân
tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo.
Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ
pháp luật. Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào
theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Giữ gìn và phát huy những giá trị
tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ
quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín
ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt
động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích
động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng.
Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là
điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi


công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status