Tổng hợp hoàn cảnh sáng tác và chủ đề các tác phẩm văn - Pdf 37

Tổng hợp hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của các tác phẩm ngữ văn trong
chương trình thi ĐH
Một vấn đề khá đơn giản nhưng lại rất cần thiết đề ghi điểm trong các kì thi
các bạn nhé!
CHƯƠNG TRÌNH 12 CƠ BẢN
Câu 1: Trình bày hoàn cảnh sáng tác, mục đích sáng tác của tác phẩm
“Tuyên ngôn độc lập”
•Hoàn cảnh sáng tác:
- 19/08/1945 Chính quyền về tay nhân dân ở Hà Nội, ngày 26/08/1945 Hồ
Chí Minh từ Việt Bắc về đến Hà Nội, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang Hà
Nội, Người soạn thảo " Tuyên Ngôn Độc lập"- ngày 02/09/1945 Người thay
mặt Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đọc bản "Tuyên Ngôn
Độc lập" tại Quảng trường Ba Đình.
- Hồ Chí Minh viết và đọc tuyên ngôn khi đế quốc thực dân đang chuẩn bị
chiếm lại nước ta. Dưới danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội
Nhật, quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc tiến vào từ phía bắc; quân đội
Anh tiến vào từ phía nam; thực dân Pháp theo chân đồng minh, tuyên bố
Đông Dương là đất “ bảo hộ” của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu
hàng, Đông Dương phải thuộc quyền của người Pháp. Tuyên Ngôn độc lập
còn đập tan những luận điệu xảo trá của bọn đế quốc Mỹ, Anh, Pháp nhất là
Pháp nhằm tái chiếm Đông Dương.
- Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là lời tuyên bố với nhân dân Việt Nam, mà
còn tuyên bố với nhân dân thế giới, phe đồng minh và cả kẻ thù của dân tộc
về quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
•Mục đích sáng tác: TNĐL tuyên bố trước quốc dân và thế giới về sự ra đời
của nước VN DC CH đồng thờ đập tan luận điệu xảo trá của bọn đế quốc
Mĩ, Anh, Pháp.
Câu 2: Hoàn cảnh ra đời, mục đích và chủ đề tác phẩm “Nguyễn Đình
Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc”
•Hoàn cảnh sáng tác: Bài viết đăng trên tạp chí Văn học số 7 - 1963 nhân kỉ
niệm ngày mẩt của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888).

chưa tìm ra thuốc đặc hiệu điều trị, trở thành hiểm hoạ cho đời sống nhân
loại.
- Là người đứng đầu tổ chức quốc tế lớn nhất, Cô- phi An- nan kêu gọi các
quốc gia và toàn thể nhân dân thế giới nhận thấy sự nguy hiểm của đại dịch
này và tích cực chung tay góp sức ngăn chặn, đẩy lùi hiểm hoạ.
Câu 4: Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề bài thơ Tây Tiến
•Hoàn cảnh sáng tác:


Quang Dũng là nhà thơ tài hoa tinh thông nhiếu lĩnh vực nghệ thuật nhưng
nổi bật hơn cả là thơ ca. Thơ ông thể hiện cái tôi hào hoa thanh lịch, giàu
chất lãng mạn. Nhắc đến Quang Dũng ta không thể quên "Tây Tiến" một thi
phẩm đặc sắc trong đời thơ của ông. Bài thơ có hoàn cảnh ra đời dưới đây:
1. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, Quang Dũng gia nhập bộ đội.
Năm 1947, ông tham gia đoàn quân Tây Tiến với chức vụ đại đội trưởng.
2. Tây Tiến là đơn vị bộ đội thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với
bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào, địa bàn hoạt động suốt miền núi Tây
Bắc từ Châu Mai, Châu Mộc sang Sầm Nứa cho tới miền Tây Thanh Hoá.
Ngày ấy nơi đây còn rất hoang vu, hiểm trở, núi cao sông sâu.
3. Những người lính trong đoàn quân Tây Tiến năm ấy chủ yếu là học sinh,
trí thức ra đi từ những mái trường, từ phố phường Hà Nội chiến đấu trong
những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, chết vì sốt rét
nhiều hơn là vì súng đạn. Tuy vậy, các anh vẫn phơi phới tinh thần lạc quan
anh hùng.
4. Người lính mang trong mình sự trẻ trung khoẻ khoắn, hào hoa, thanh lịch.
Ở họ vừa cháy bỏng lí tưởng “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” vừa mang
trong mình nét lãng mạn mộng mơ. Nét độc đáo này của người lính "Tây
Tiến" đã thực sự làm hồn thơ Quang Dũng rung động.
5. Cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, khi dự hội nghị
toàn quân ở Phù Lưu Chanh tác giả bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm kháng

tập “tuỳ bút sông Đà” nói chung khẳng định một bứơc chuyển hoá mới của
văn chương Nguyễn Tuân trước thực tế mới của đất nước. Có người đã
khẳng định tập sách này là dấu son mới mẻ trong văn nghiệp của nhà văn họ
Nguyễn. (Thời kì này văn học đòi hỏi phản ánh chân thực hùng hồn cuộc
sống mới, con người mới). Đến với cuộc sống, ông khám phá theo cách của
mình. "Người lái đò sông Đà" là một tuỳ bút đặc sắc trong 15 thiên tuỳ bút
của tập sách và một bài ở dạng phác thảo.
Tác phẩm in trong tập “Sông Đà” (1960) gồm 15 bài tuỳ bút, một bài ở dạng
phác thảo.
Đây là kết quả của chuyến nhà văn “xê dịch” lên Tây Bắc trong những năm
kháng chiến chống Pháp nhất là chuyến đi lên miền Tây 1958.
Vẻ đẹp uy nghi kì vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc với dòng sông Đà
và những con ngừơi Tây Bắc, những con ngừơi tài hoa trí dũng đã khơi
nguồn cảm hứng mãnh liệt để Nguyễn Tuân viết tuỳ bút sông Đà. Đó cũng
chính là “chất vàng mười trong tâm hồn vùng Tây Bắc" mà nhà văn kiếm
tìm được khi phỉ chí hải hồ của một người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp và đi
trong tâm trạng có quê hương.
Xét về hoàn cảnh chủ quan: tác phẩm vốn là cách khám phá cái đẹp của
Nguyễn Tuân vẫn là cách thay đổi thực đơn cảm giác của ông, song cái đẹp
đó không còn chỉ dừng lại ở sự thưởng thức của cái tôi cá nhân phục vụ cho
cá nhân mà mở rộng biên độ đến với cuộc đời, đến với người lao động bình
thường. Trước đây văn chương ông thu vào độ hẹp, giờ toả ra độ rộng.
"Người lái đò sông Đà" là một bài tuỳ bút đầy chất thơ, là một công trình
khảo cứu công phu và điều tra xác thực về Tây Bắc. Nguyễn Tuân đã vận
dụng những tri thức sâu rộng của nhiều ngành văn hóa nghệ thuật khác nhau
để cung cấp cho người đọc những hiểu biết bổ ích lí thú vè ngọn nguồn lai
lịch, địa thế hiểm trở của con sông Đà cũng như phương thức vượt thác leo
ghềnh, công cuộc chinh phục thiên nhiên của người lao động Tây Bắc.



lão Ảng (Cứu đất cứu mường), gia đình ông Mờng và dân làng Mường Giơn
(Mường Giơn ), Mị và A Phủ ("Vợ chồng A Phủ") bị tước đoạt tài sản, bóc
lột sức lao động và xúc phạm nhân phẩm. Trong cảnh đau thương tột cùng
đó, cách mạng đã đến với họ và họ đã thức tỉnh.


“Truyện Tây Bắc” là một thành công của Tô Hoài trong việc nhận thức,
khám phá hiện thực kháng chiến ở một địa bàn đặc biệt vùng cao phía Tây
Bắc tổ quốc đặc biệt là những khám phá mới mẻ sâu sắc về số phận và tâm
hồn người lao động nghèo miền núi Tây Bắc trên hành trình đến với cách
mạng. Tác phẩm in rõ dấu ấn phong cách nghệ thuật đặc sắc của Tô Hoài:
màu sắc dân tộc đậm đà, chất thơ, chất trữ tình thấm đựơm, ngôn ngữ và lời
văn giàu tính tạo hình.
Tác phẩm được giải nhất về truyện, kí (đồng hạng với Đất Nước đứng lên
của Nguyên Ngọc) giải thưởng của hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955.
Truyện kể về quá trình tự vươn lên đổi đời và sự thức tỉnh cách mạng của
hai thanh niên người Mèo: Mị và A Phủ, thoát khỏi kiếp đời nô lệ trong tay
cha con thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài để tìm đến khu du kích mới ở Phiềng
Xa trở thành những du kích dũng cảm chiến đấu giữ bản làng.
• Chủ đề: Thông qua số phận của Mị và A Phủ, tác giả thể hiện tấm lòng yêu
thương, cảm thông số phận người dân miền núi, trân trọng vẻ đẹp tiềm tàng
của họ, ngợi ca ý nghĩa nhân đạo của sự nghiệp giải phóng con người thoát
khỏi tối tăm và áp bức.
Câu 12: Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề “Vợ nhặt”
• Hoàn cảnh sáng tác:
Tác phẩm đề cập đến nạn đói năm 1945. Năm 1940 Nhật xâm chiếm Đông
Dương bắt nhân dân ta nhổ lúa trông đay. Bọn thực dân sau khi thua ở Đông
Dương thì ra sức bóc lột nhân dân để chuẩn bị cho cuộc chiến tranh mới bọn
địa chủ cường hào ở nông thôn ngày càng ức hiếp dân lành. Mất mùa vì hạn
hán, lũ lụt xảy ra thường. Bởi thế đến xuân Ất Dâu năm 1945 nạn đói chưa

• Chủ đề: Rừng xà nu là câu chuyện về quá trình trưởng thành Trong nhận
thức cách mạng của một con người, cũng như của đồng bào Tây Nguyên.
Chân lý tất yếu mà họ nhận ra là, chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới có thể
đè bẹp bạo lực phản cách mạng.
Câu 14: hoàn cảnh sáng tác và chủ đề “Những đứa con trong gia đình”
• Hoàn cảnh sáng tác:
Nguyễn Thi gắn bó với nhân dân miền Nam và thực sự xứng đáng với danh
hiệu: Nhà văn của người dân Nam Bộ. Nhân vật của Nguyễn Thi có cá tính
riêng nhưng tất cả đều có những đặc điểm chung "rất Nguyễn Thi". Đó
là:Yêu nước mãnh liệt, thủy chung đến cùng với Tổ quốc, căm thù ngùn
ngụt bọn xâm lược và tay sai của chúng, vô cùng gan góc và tinh thần chiến
đấu rất cao- những con người dường như sinh ra để đánh giặc ;Tính chất
Nam bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc quan, yêu đời, giàu tình nghĩa. Tác phẩm
tiêu biểu của ông là : Người mẹ cầm súng , Những đứa con trong gia đình ,

Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt khi ông công
tác với tư cách là một nhà văn- chiến sĩ ở Tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng
năm 1966. Sau được in trong Truyện và kí NXB Văn học Giải phóng, 1978.


• Chủ đề: Qua hồi ức của Việt khi bị thương về những thành
viên trong gia đình, tác giả ca ngợi tinh thần yêu nước, truyền thống cách
mạng của một gia đình, cũng là của nhân dân miền nam trong kháng chiến
chống Mĩ.
Câu 15: Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề “Chiếc thuyền ngoài xa”
• Hoàn cảnh sáng tác:
Chiếc thuyền ngoài xa viết năm 1983 là truyện ngắn in đậm phong cách tự
sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu. Với ngôn từ dung dị đời thường , truyện
kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và những chiêm nghiệm
sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời.

điệp: Được sống làm người quí giá thật nhưng được sống đúng là mình, sống
trọn vẹn với những giá trị mà mình vốn có càng quí giá hơn.Sự sống chỉ thật
sự có ý nghĩa khi con người được sống theo lẽ tự nhiên ,hài hoà thể xác và
tinh thần . Con người phải biết luôn đấu tranh với nghịch cảnh, với chính
bản thân ,chống lại sự dung tục để hoàn thiện nhân cách và vươn tới những
giá trị tinh thần cao quí.
Câu 17: Vi hành ( Nguyễn Ái Quốc)
· Hoàn cảnh ra đời
Tháng 6/1922 thực dân Pháp mở hội đấu xảo thuộc địa tại Mác xây. Chính
phủ Pháp đưa vua Khải Định sang dự nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vua An
Nam hoàn toàn quy phục mẫu quốc sang đây tạ ơn, tình hình Đông Dương
ổn định nên họ ủng hộ cuộc đầu tư lớn vào Đông dương. Trước sự kiện ấy,
những người Việt Nam yêu nước tại Pháp đã lên tiếng phản đối. Nguyễn Ái
Quốc là một trong những người yêu nước Việt Nam có nhiều bài báo, truyện
ngắn đăng trên các báo như " Lời than vãn của Bà Trưng Trắc" "Những trò
lố hay là Va ren và Phan Bội Châu", "Vi hành". Tác phẩm "Vi hành"được
viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo nhân đạo cơ quan ngôn luận của Đảng
cộng sản Pháp số ra ngày 19/2/1923.
Tác phẩm viết nhằm vạch mặt Khải Định, một kẻ ngu dốt, lố lăng, một tên
bù nhìn vô dụng,đồng thời Nguyễn Ái Quốc cho nhân dân Pháp thấy rõ
những thủ đoạn xảo trá của thực dân Pháp.
CHƯƠNG TRÌNH 12 NÂNG CAO
Câu 18. Hoàn cảnh ra đời "Đất Nước" ( Nguyễn Đình Thi):
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. Ông viết sách thảo luận triết học,
viết văn làm thơ, soạn nhạc ở lĩnh vực nào cũng lưu được dấu ấn trong nền
nghệ thuật đương đại của Việt Nam. Bạn đọc đặc biệt nhớ đến Nguyễn Đình
Thi với những sáng tác thơ ca về đất nước vất vả đau thương nhưng tươi
thắm vô ngần, trong đó có thi phẩm "Đất nước".
Bài thơ có hoàn cảnh ra đời dưới đây:


Sự kiện kinh tế chính trị của Đảng khi ấy chỉ là cái cớ khơi nguồn cảm hứng
sáng tạo cho nhà thơ. Chế Lan Viên không minh hoạ thuần tuý, không hô
hào suông cho chủ trương chính sách của Đảng mà diễn tả những tình cảm
sâu nặng của một người nghệ sĩ. Bài thơ là lời mời gọi là khát vọng lên
đường đến những miền đất xa, đến với đất nước bao la nhân dân vĩ đại; đồng
thời là khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất
nước của một hồn thơ khi được trở về với ngọn nguồn của sáng tạo nghệ
thuật.


CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11
Câu 20: VỘI VÀNG
"Vội vàng" là bài thơ tiêu biểu của Xuân Diệu trước cách mạng rút trong tập
“Thơ Thơ” (1938). Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến
cuồng nhiệt, khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết. Nhưng
đằng sau những tình cảm ấy, có một quan niệm nhân sinh mới chưa từng
thấy trong thơ ca truyền thống.
Câu 21: TRÀNG GIANG (HUY CẬN)
Năm 1939 vào một chiều thu, Huy Cận đứng ở bờ năm bến Chèm (Hà Nội),
lặng ngắm toàn cảnh sông Hồng mênh mông tĩnh vắng, chạnh nhớ tới kiếp
người nhỏ bé nổi trôi giữa dòng đời vô tận. Một nỗi buồn ngờm ngợp dấy
lên từ đáy hồn thi sĩ, bủa trùm trời đất và lòng người. Nỗi buồn vừa gợi hứng
sáng tác, vừa là cốt lõi của cảm xúc thơ. Huy Cận đã từng tâm sự: "Tôi có
thú vui thường vào chiều Chủ nhật hàng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để
ngoạn cảnh sông Hồng và Hồ Tây. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi
nhiều cảm xúc. Tuy nhiên bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm mà còn
mang cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương". Đến với
"Tràng Giang" ta như đến với một bức tranh thiên nhiên sông nứơc hầu như
đã trở thành cổ điển, mà linh hồn của nó là một nỗi buồn đìu hiu mênh
mang. Qua mỗi khổ thơ, tác giả điểm thêm một nét buồn nào đó. Tất cả

sự sống, tình yêu nhưng mang nỗi đau lớn về sự chia lìa. Ở đó có sự hài hoà
tuyệt đẹp giữa mộng và thực trong thơ Hàn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status