Một số kinh nghiệm dạy tác phẩm trữ tình trong chương trình ngữ văn bậc THCS ở trường THCSTHPT như thanh - Pdf 43

MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU:.....................................................................................................1
I. Lí do chọn đề tài:..............................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu:.....................................................................................1
III. Đối tượng nghiên cứu:..................................................................................3
IV. Phương pháp nghiên cứu:............................................................................3

B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:....................................3
I. Cơ sở lí luận:....................................................................................................3
II. Thực trạng:.....................................................................................................4
III. Các giải pháp:...............................................................................................4
IV. Hiệu quả:......................................................................................................17

C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:....................................................................18
I. Kết luận:..........................................................................................................18
II. Kiến nghị:......................................................................................................18

1


A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài.
Nhà văn Nga, M.Goóc-ky từng nói “Văn học là nhân hoc” - học văn là học
làm người. Chính vì thế, dạy văn không chỉ là truyền đạt kiến thức mà còn dạy
các em cách cảm, cách nghĩ, cách ứng xử trong cuộc sống thông qua việc phân
tích các nhân vật văn học. Từ đó hình thành những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp
cho học sinh. Là giáo viên dạy văn nên tôi rất tâm đắc điều đó. Thế nhưng một
điều khiến tôi luôn trăn trở lâu nay đó là việc dạy- học Ngữ văn ở trường Trung
học cơ sở hiện vẫn chưa thật sự hiệu quả.
Thực tế hiện nay rất nhiều học sinh không thích học Văn dù là những tác


tạo, biết khai thác nội dung và nghệ thuật của những bài thơ trữ tình. Qua đó,
giáo dục cho học sinh lòng yêu cái đẹp, có những rung cảm nhẹ nhàng mà sâu
lắng trước thiên nhiên và cuộc sống con người, luôn hoàn thiện bản thân, hướng
tới Chân – Mĩ – Thiện.
III. Đối tượng nghiên cứu:
Với phạm vi đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu kinh nghiệm để dạy một tác
phẩm trữ tình trong chương trình Ngữ văn cho học sinh THCS.
IV. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong đổi mới phương pháp dạy học văn, trước hết người giáo viên phải
biết sử dụng các biện pháp hình thức phù hợp với từng thể loại, từng bài. Với các
tác phẩm trữ tình lại có nét đặc thù riêng chính là ở chỗ giàu cảm xúc. Nhưng
không vì thế mà ai đọc lên cũng cảm nhận được ngay nội dung trữ tình trong tác
phẩm. Do đó giáo viên cần phải lựa chọn những phương pháp tối ưu để khơi gợi
cảm xúc ở học sinh có hiệu quả nhất.
Đọc diễn cảm và bình giảng thơ là hai hoạt động không thể thiếu khi dạy tác
phẩm trữ tình. Đọc cũng là phần đồng cảm với bài thơ. Cũng nhờ đọc mà học
sinh như vừa được chứng kiến vừa được thể nghiệm.Vì thế, đọc tái hiện hình
tượng thơ là hoạt động không thể coi nhẹ trong quá trình dạy - học thơ trữ tình.
Bình giảng thơ (tổ chức để học sinh thảo luận, phân tích các ý thơ, hình ảnh
thơ rồi cảm nhận nghệ thuật và nội dung) để từng bước đưa học sinh cảm nhận
sâu hơn trên cơ sở khái quát tác phẩm, nâng cao vấn đề và rút ra những bài học
cần thiết.
Đó là những phương pháp chung, nhưng nếu cứ lặp đi lặp lại mãi một cách
thì sẽ dẫn đến nhàm chán. Để cuốn hút học sinh say mê với việc học văn thì

phát huy được tính sáng tạo của học sinh khi học tác phẩm trữ tình; làm mất đi
vẻ đẹp vốn có của một dạng tác phẩm văn học.
Kết quả khảo sát khi cho học sinh khi học các tác phẩm trữ tình của lớp 8A
năm học 2015-2016 trường THCS & THCS Như Thanh như sau:
KẾT QUẢ KIỂM TRA KHẢO SÁT
Lớp
8A(26HS)

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

kém

SL

%

SL

%

SL

%


giải pháp khắc phục thực trạng trên mà tôi đã đúc rút trong giảng dạy.
III. CÁC GIẢI PHÁP.
1.Tiếp cận tác phẩm:
1.1 Đọc diễn cảm.

4


Đối với tác phẩm trữ tình, đọc diễn cảm cũng là một phần đồng cảm với bài
thơ. Đây là bước tạo điều kiện cho việc tái hiện hình ảnh. Tôi đã nghiên cứu kỹ
từng văn bản để tìm ra giọng điệu, tìm ra cách đọc phù hợp với từng bài thơ khác
nhau làm sao để tái hiện hình tượng rõ nét nhất và gây ấn tượng sâu sắc cho học
sinh, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với những bài thơ Đường - một thể loại
được xem là khó.
Thực ra, không phải bài thơ nào ta cũng đọc thật nhẹ nhàng, tình cảm, cảm
xúc dạt dào mới gọi là diễn cảm mà tuỳ vào từng bài thơ, tâm trạng của nhân vật
trữ tình để lựa chọn giọng điệu. Có khi là một khí phách hào hùng, có khi là
giọng trầm buồn u uất, có bài thì da diết nhớ thương … Có thể nói, đọc diễn cảm
cũng là một sáng tạo nghệ thuật theo cách đi từ ngôn ngữ đến tư tưởng. Âm vang
của lời đọc sẽ kích thích quá trình tri giác, tưởng tượng, đến tái hiện hình ảnh.
Cảm xúc bắt đầu hình thành từ việc đọc và được phát triển trong quá trình đọc .
Khi dạy bài thơ: “Đêm nay Bác không ngủ ”của Minh Huệ - Ngữ văn 6
tập II, tôi lựa chọn giọng điệu chủ đạo là giọng nhẹ nhàng tình cảm đồng thời
chọn lựa các từ ngữ cần nhấn mạnh để làm toát lên tâm tư tình cảm của nhân vật
trữ tình. Chẳng hạn ở khổ thơ thứ nhất:
Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ.
Ngay ở khổ thơ đầu với cách đọc diễn cảm sẽ giúp cho việc tái hiện hình ảnh

liêng của Bác với những người Đồng chí trong chiến đấu. Qua đó, giáo dục tình
cảm đạo đức cho các em. Sau khi đọc mẫu tôi tiếp tục gọi 3 đến 4 em đọc theo
từng đoạn.
Đọc diễn cảm là làm cho tiếng nói của nhà văn trở nên gần gũi với học sinh
hơn. Cũng với phương pháp này tôi có thể vận dụng vào nhiều tác phẩm trữ tình
khác như: “Hai chữ nước nhà” Ngữ văn 8 tập I, “Bếp lửa”của Bằng Việt- Ngữ
văn 9 tập 2… Với những bài thơ giàu cảm xúc như thế mà việc đọc và tái hiện
hình tượng không thực hiện tốt thì khó mà đạt được hiệu quả.
1.2. Ngâm thơ :
Phương pháp tiếp cận văn bản phổ biến nhất hiện nay là giáo viên đọc sau
đó yêu cầu học sinh đọc tiếp. Nhưng tôi lợi dụng âm điệu nhẹ nhàng, mượt mà,
dạt dào cảm xúc của thơ trữ tình để vận dụng phương pháp một cách linh hoạt.
Với những bài thơ như thế thì tôi có thể thu hút học sinh hướng đến tác phẩm
bằng cách ngâm một đoạn hoặc cả bài thơ. Thực ra tôi cũng không thật sự có
năng khiếu trong lĩnh vực nghệ thuật này nhưng bằng lòng nhiệt tình và tâm
huyết với nghề nghiệp, tôi cố gắng học tập, rèn luyện cho mình những kỹ năng
cần thiết để áp dụng vào việc giảng dạy sao cho đạt hiệu quả .
Ví dụ: Khi dạy bài “Cảnh khuya” - Ngữ văn 7 tập I.
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Hồ Chí Minh)
Ngâm thơ chỉ là một hoạt động nhằm thu hút sự chú ý, sự nhập tâm của học
sinh vào nội dung văn bản chứ không thay thế cho hoạt động đọc văn bản .
Những lời thơ ngâm càng làm tăng thêm âm điệu trữ tình mượt mà, sâu lắng,
kích thích khả năng ghi nhớ cho người nghe hơn quá trình đọc, giọng ngâm ngân
nga và mới lạ sẽ lôi cuốn sự chú ý của học sinh hơn .
Phương pháp này tôi cũng có thể vận dụng vào dạy bài: “ Khi con tu hú "Ngữ văn 8 tập II.


sinh ôn lại kiến thức cũ và khắc sâu kiến thức mới.
3. Khai thác nghệ thuật thơ.
3.1. Tính tương xứng.
Tính tương xứng trong ngôn ngữ thơ không chỉ tạo cho thơ một vẻ đẹp đặc
biệt mà còn góp phần quan trọng trong việc thể hiện cụ thể đặc điểm của nhân
vật trữ tình.
3.1.1. Tương xứng về âm thanh.
Dạy tác phẩm thơ sẽ chưa thành công nếu chưa giúp học sinh cảm nhận được
sự tương ứng về thanh điệu. Đặc biệt ở các bài thơ bảy chữ.
Ví dụ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát / mặc dầu /tay / kẻ nặn,
Mà em /vẫn gữ /tấm /lòng son.
(Hồ Xuân Hương)
Sự cân xứng đều đặn về thanh điệu của từng chữ trên câu thơ 3, 4 tạo nên sự
chặt chẽ về cấu trúc bài thơ, góp phần không nhỏ vào cái việc bộc lộ cảm xúc
của nhân vật trữ tình mà học sinh đang tìm hiểu.
3.1.2. Tương xứng về ý nghĩa ngôn ngữ.
Sự tương xứng này còn gọi là phép đối ý trong thơ. Những phát hiện này
thường tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với học sinh, đặc biệt là khi các em hiểu
được ý nghĩa của chúng trong từng văn bản.
Ngoài các bài thơ có sự tương xứng rõ nét như: “Qua Đèo Ngang”, “Bánh
trôi nước” mà các em đã học ở chương trình Ngữ Văn 7, giáo viên nên tìm thêm
những câu thơ khác tạo sự mới lạ sẽ hấp dẫn học sinh hơn trong quá trình học
tập.
8


Ví dụ:

dục năm 2000). Trong chương trình giáo dục Phổ thông, học sinh được học 9
biện pháp tu từ từ vựng, đó là: Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nói giảm nói
tránh, điệp ngữ, liệt kê, chơi chữ, nói quá.
Biện pháp tu từ là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói
các phương tiện ngôn ngữ không kể là có màu sắc tu từ hay không trong một ngữ
cảnh rộng để tạo ra hiệu qủa tu từ (tức tác dụng gây ấn tượng về hình ảnh, cảm
xúc, thái độ, hoàn cảnh).
Biện pháp tu từ là những cách kết hợp ngôn ngữ đặc biệt trong một hoàn
cảnh cụ thể, nhằm một mục đích tu từ nhất định. Nó đối lập với biện pháp sử
dụng ngôn ngữ thông thường trong mọi hoàn cảnh, nhằm mục đích diễn đạt lí trí.
Căn cứ vào cấp độ ngôn ngữ của các phương tiện ngôn ngữ được phối hợp
sử dụng, các biện pháp tu từ được chia ra: biện pháp tu từ từ vựng, biện pháp tu
9


từ ngữ nghĩa, biện pháp tu từ cú pháp, biện pháp tu từ văn bản, biện pháp tu từ
ngữ âm – văn tự.
Trong suốt gần 15 qua đứng trên bục giảng, tôi luôn chú ý đến việc khai
tác, tìm hiểu các biện pháp tu từ khi dạy thơ trữ tình. Có thể phân tích các biện
pháp tu từ có trong bài thơ, đoạn thơ, câu thơ để tìm ra nội dung ý nghĩa của bài
học. Nhờ có “con thuyền” tu từ này mà nội dung được truyền tải tới người đọc
một cách hấp dẫn, nhẹ nhàng và sâu lắng, đọng lại dư âm mãi mãi. Một cách
khác là ta có thể cho học sinh tìm hiểu xong nội dung và sau đó rút ra các biện
pháp tu từ để giúp học sinh thấy được cái giàu đẹp của Tiếng Việt, sự tài tình,
điêu luyện của nhà thơ; biết cách vận dụng vào viết văn, làm thơ.
Chẳng hạn khi dạy đến đoạn thơ trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
Thanh Hải:
“Đất nước bốn nghìn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao

Thông qua hai ý kiến trên, ta đã thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng của
thời gian và không gian trong một tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm
thơ trữ tình nói riêng trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng mà tác giả muốn
truyền tải đến độc giả. Vì lẽ đó mà trong các tiết dạy thơ trữ tình tôi luôn chú
trọng đến thời gian và không gian, xem đó là một nghệ thuật đặc sắc không thể
không khai thác.
Chẳng hạn, khi dạy bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy trong Ngữ Văn
9, ta cần chú ý đến những khoảng thời gian:
Thời gian trong quá khứ: với hai kỉ niệm thời ấu thơ và đời lính của nhân
vật trữ tình. Hai kỉ niệm này đều gắn với ánh trăng tình nghĩa.
Thời gian hiện tại: với cuộc sống sung túc, đầy đủ hiện đại con người đã
quên ánh trăng năm nào. Đồng thời là tâm trạng “giật mình ”đáng quý của con
người.
Thời gian tương lai (dự báo): nhân vật trữ tình sẽ sống ra sao sau cái “giật
mình”, sau khi thấy mình cần phải thay đổi cách sống, phải biết trân trọng quá
khứ tươi đẹp và lịch sử đáng tự hào của dân tộc.
Chỉ với việc khai thác thời gian nghệ thuật như trên, nội dung bài thơ đã
được lật mở trước những con mắt thích thú của học sinh mà không cần nhiều các
thao tác nghị luận rườm rà nào cả.
Hay khi hướng dẫn học sinh phân tích đoạn thơ thứ hai trong bài thơ
“Sang thu” của nhà thơ Hữu Thỉnh:
“Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu”
Tôi cho học sinh ngắm bức tranh thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa
giữa mùa hạ và mùa thu trong khổ thơ này. Bức tranh ấy được Hữu Thỉnh phác
họa bằng thơ với nhiều tầng bậc không gian: Dưới thấp thì có con sông đang
chảy chậm chạp, thong thả, êm trôi sau những ngày hè vất vả. Ở khoảng không
bức tranh là những đàn chim đang vội vã bay đi tránh rét. Và trên bầu trời là một

* BÀI DẠY VẬN DỤNG.
Ngữ văn: Tiết 78.
Văn bản:

KHI CON TU HÚ
(Tố Hữu)

I. MỤC TIÊU:
1. Kiến thức:
- Những hiểu biết bước đầu về tác giả Tố Hữu.
- Nghệ thuật khắc họa hình ảnh (thiên nhiên, cái đẹp của cuộc đời tự do).
- Niềm khát khao cuộc sống tự do, lí tưởng cách mạng của tác giả.
2. Kĩ năng:
-Đọc diễn cảm một tác phẩm thơ thể hiện tâm tư người chiến sĩ cách mạng bị
giam giữ trong ngục tù.
- Nhận ra và phân tích được sự nhất quán về cảm xúc giữa hai phần của bài thơ;
thấy được sự vận dụng tài tình thể thơ truyền thống của tác giả ở bài thơ này.
3. Thái độ:
- Yêu quý, trân trọng những gì mình đang được hưởng thụ.
4. Năng lực:
- Thu thập thông tin liên quan đến văn bản
- Giải uyết những tinh huống đặt ra trong các VB
- Năng lực đọc-hiểu thơ trữ tình theo đặc điểm thể loại
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩ của VB
12


- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của VB.
II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1. Chuẩn bị của GV:

- Quê: Thừa Thiên Huế.
2. Tác phẩm :
Bài thơ viết tháng 7/1939 khi
tác giả bị bắt giam ở nhà lao
Thừa Phủ.

3. Bố cục: 2phần
-6 Câu đầu : Bức tranh mùa hè
? Theo em, nhân vật trữ tình là ai?( “ta”)
-4 Câu cuối : Tâm trạng người
? Nhân vật trữ tình có mối quan hệ như thế nào tù .
với tác giả? (đồng nhất với tác giả.)
Hoạt động 2: Hướng dẫn phân tích bài thơ.
-GV giới thiệu đặc điểm của thể thơ lục bát.
-hướng dẫn cách đọc : Đọc diễn cảm , miêu tả II. Phân tích
được độ cao thấp về mặt âm thanh của tùng
câu thơ. Ở 6 câu đầu giọng diễn cảm tha thiết
phấn chấn. 4 câu sau đọc nhấn giọng ở những
từ ngữ diễn tả niềm uất hận cảnh tù đày .
13


-HS đọc diễn cảm đoạn thơ thứ nhất, nhấn
mạnh các từ gợi tả màu sắc và âm thanh.
? Mùa hè được gợi tả bằng những âm thanh
nào ?
?Âm thanh đó báo hiệu điều gì?
- HS trả lời theo cảm nhận.
?Một sự sống như thế nào được gợi lên từ
những âm thanh ấy ? (cuộc sống rộn rã, tưng

?Qua 6 câu thơ trên cho em cảm nhận được tác
giả phải là người có tình cảm như thế nào với

1. Bức tranh mùa hè :
*Âm thanh: -Tiếng tu hú
-Ve sầu ngân

* Màu sắc:
- Vàng (của bắp)
- Hồng (của nắng)
- Xanh (của trời)
* Sản vật :
Lúa chiêm, trái cây, bắp…
* Không gian ;
- rộng, cao
* Nghệ thuật : Miêu tả,
⇒ Bức tranh lộng lẫy, sống
động, rộn rã, tươi đẹp ,trào
dâng sức sống, phóng túng tự
do.
14


quê hương?( yêu quê hương tha thiết)
-Yêu cầu học sinh đọc diễn cảm lại 6 câu thơ
đầu.
? Những câu thơ này gợi cho em nghĩ đến điều
gì? (nghĩ đến hình ảnh quê hương em)
2. Tâm trạng người tù.
GV chuyển ý.

( gắn bó tha thiết với quê hương, có khát vọng,
có ý chí.)

- Cảm nhận bằng sức mạnh tâm
hồn, bằng tấm lòng.

- đạp tan phòng
- ngột, chết uất

⇒ Đau khổ, uất ức, ngột ngạt.

-Khát khao tự do, ý chí quyết
tâm trở về cuộc sống bên ngoài
.

15


? Em biết những bài thơ nào mà nhân vật trữ
tình có cùng hoàn cảnh?(Ngắm trăng, Tâm tư
trong tù, Vào nhà ngục Quảng Đông cảm
tác...)
? Ở các nhân vât đó có điểm gì giống nhau?
-HS trao đổi, trả lời theo cảm nhận.
?Khép lại bài thơ chúng ta đươc bắt gặp âm
thanh gì ? -> “tu hú cứ kêu”
?Mở đầu và kết thúc bài thơ gắn với tiếng tu
hú .Vậy tiếng chim ở đầu và ở cuối bài thơ có
ý nghĩa giống nhau không hãy lí giải? ( khác
nhau)

Miêu tả đối lập tả, đối lập chọn
lọc từ ngữ, hình ảnh gợi tả, gợi
cảm, kết cấu đầu cuối tương
ứng ,thể thơ lục bát giàu nhạc
điệu.
2. Nội dung:
“Khi con tu hú” là khúc ca
ân tình, là tiếng gọi đàn, hướng
về đồng quê và bầu trời tự do
với tất cả tình yêu và sự khát
khao cháy bỏng.
IV. Luyện tập.
Yêu cầu HS đọc diễn cảm bài
thơ.

Hoạt động 4. Hướng dẫn luyện tâp.
?Phát phiếu học tập để trắc nghiệm bài dạy.
16


?Sau khi học song bài thơ em có suy nghĩ gì về
tiêu đề bài thơ?(HS tự thảo luận)
-Gọi một HS đọc diễn cảm bài thơ.
GV ngâm đoạn đầu bài thơ để HS cảm nhận
sâu hơn về tính nhạc và ghi nhớ bài thơ.
IV. TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1. Tổng kết: - Giáo viên đánh giá lại nội dung và nghệ thuật bài thơ.
- Học sinh nêu cảm nhận của mình về bức tranh mùa hè qua tâm
tưởng của người tù cách mạng.
2. Hướng dẫn học tập


Yếu

kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2

7,7

6

sinh, tôi tìm tòi nghiên cứu và đúc rút được những kinh nghiệm nho nhỏ. Đó là
mong muốn đem lại sự hứng thú học tập cho học sinh đối với mảng thơ trữ tình.
Đồng thời làm nền tảng lôi cuốn các em say mê với môn Ngữ văn nói chung.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn trong xu thế đổi mới hiện nay. Đây
cũng là một bước nhỏ nhưng cần thiết trong công tác giáo dục đạo đức hoc sinh.
2. Kiến nghị: Bên cạnh việc tự bản thân không ngừng hoàn thiện trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và tự sáng tạo đồ dùng dạy học, tôi kính đề nghị Bộ giáo
dục và đào tạo cùng các ban ngành có liên quan đầu tư thêm các trang thiết bị
dạy học cho môn Ngữ văn. Đồng thời cần tổ chức cho giáo viên có những buổi
dự giờ chéo giữa các trường theo cụm hoặc Phòng thường xuyên tổ chức các lớp
bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa giáo viên giỏi các cấp
với các giáo viên ở các trường để chúng tôi có điều kiện trao đôi kinh nghiệm
học hỏi lẫn nhau. Đặc biệt, các Tổ chuyên môn phải chú trọng hơn nữa việc Sinh
hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học để cùng đưa ra những phương pháp
dạy phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh nhà trường.
Trên đây là những kinh nghiệm nhỏ của bản thân được được đúc kết trong
quá trình dạy học chắc chắn không tránh được những thiếu sót. Vì vậy tôi rất
mong được sự đóng góp ý bổ sung của Hội đồng khoa học và đồng nghiệp để đề
tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Phượng Nghi, ngày 10 tháng 05 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
NGƯỜI THỰC HIỆN

Nguyễn Bá Phóng
18


19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status