Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
– Tên sáng kiến: Phương pháp dạy đọc – hiểu tác phẩm sử thi trong ch ương
trình Ngữ văn 10.
– Lĩnh vực áp dụng: Áp dụng trong môn Ngữ văn cho học sinh lớp 10 – giúp h ọc
sinh tiếp cận tác phẩm sử thi theo đúng đặc trưng thể loại, trên tinh thần đổi m ới
phương pháp giảng dạy theo hướng tích hợp kiến thức và phát tri ển n ăng lực
học sinh.
MỤC LỤC
Nội dung
Trang
Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Phương pháp nghiên cứu
1-2
Nội dung
3
I. Giải pháp cũ thường làm
3
II. Giải pháp mới cải tiến
Kết luận và kiến nghị
18
Phụ lục
Phụ lục 1: Giáo án thể nghiệm
19
Phụ lục 2: Bảng minh họa
31
Phụ lục 3: Bài tập củng cố
39
Phụ lục 4: Bài kiểm tra
40
Tài liệu tham khảo
42
MỞ ĐẦU
1.
Lí do chọn đề tài
chúng tôi quan tâm đến việc thay đổi phương pháp dạy đọc – hiểu văn bản sử
thi trong nhà trường THPT để tạo nên hiệu quả hơn trong việc dạy h ọc tác phẩm
văn học dân gian.
1.
Mục đích nghiên cứu
Từ thực tế việc dạy và học đọc – hiểu môn Ngữ Văn và các tác phẩm sử thi dân
gian nói riêng, chúng tôi xin đóng góp một số đề xuất trong việc dạy –
đọc hiểu tác phẩm sử thi trong nhà trường phổ thông để học sinh
có thể hiểu sâu sắc về tác phẩm, đồng thời tăng thêm tính hấp d ẫn, lôi cuốn cho
bài học.
III. Đối tượng nghiên cứu
– Một số sử thi, đoạn trích sử thi trong chương trình SGK Ngữ Văn l ớp 10 tập I
– Phương pháp dạy đọc – hiểu văn học dân gian.
– Giáo viên và học sinh lớp 10 trường THPT Ninh Bình – Bạc Liêu
1.
Phương pháp nghiên cứu
2.
Nghiên cứu tài liệu
– SGK, SGV, sách hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ Văn lớp 10
– Tài liệu tham khảo
– Tranh ảnh minh họa
2.
phẩm này trong đời sống văn học. Tuy nhiên chúng chỉ là nh ững gợi mở, so
sánh chứ chưa đi sâu vào từng tác phẩm cụ thể trong chương trình Ngữ V ăn ở
THPT. Vì thế chưa có một cái nhìn sáng rõ về vấn đề này.
1.2. Môn văn là một môn học đòi hỏi sự cần cù chăm chỉ của người học khá cao,
vì vậy với phương pháp dạy học văn cũ dễ dẫn đến tình trạng học sinh th ụ động,
chịu sự tác động một chiều từ phía giáo viên, khiến giờ học văn có tình tr ạng đọc
chép, hoặc mang tính chất giáo điều, áp đặt chưa có tính thực tiễn.
Sử thi là một thể loại văn học có quy mô đồ sộ, nội dung một tác ph ẩm khá dài.
Trong cơ chế dạy học văn cũ, học sinh không được tự do trình bầy suy ngh ĩ, ý
kiến về những tác phẩm đang học, mà chủ yếu tiếp nhận và lắng nghe, vì vậy đa
phần học sinh thụ động chưa có ý thức tự tích lũy kiến thức, chưa có tư duy
sáng tạo đổi mới mà trông chờ vào ý kiến của giáo viên.
Với phương pháp dạy học cũ, giáo viên là người nắm vững tác ph ẩm và truy ền
đạt lại nội dung cho học sinh. Với vai trò “người cảm thụ thay” cho học sinh,
giáo viên dường như khó có thể tạo được sự đồng hưởng cảm xúc. Mối quan hệ
giữa học sinh và tác phẩm sử thi cũng chính vì thế mang tính chất gián ti ếp. H ọc
sinh không đọc, không tìm tòi, phát hiện mà chỉ cảm nhận h ời hợt qua bài gi ảng
định hướng của giáo viên.
1.3. Ngày nay với sự thay đổi các phương pháp dạy học và phương thức soạn
giảng mới, vai trò của học sinh đã được nâng cao, tích cực hơn. Tuy nhiên trong
các giờ dạy về văn học dân gian, học sinh vẫn còn tỏ ra lúng túng, ch ưa ti ếp thu
hết được nội dung ý nghĩa của văn bản. Nguyên nhân có thể do thể loại văn học
có độ lùi về thời gian, tư duy của các tác giả dân gian khác v ới t ư duy hi ện đại
ngày nay, hoặc cũng có thể nguyên nhân chính từ các truy ền th ụ ki ến th ức c ủa
giáo viên còn quá khuôn mẫu chưa linh hoạt, đổi mới.
1.
Giải pháp mới cải tiến
này là những gợi ý ban đầu giúp cho học sinh cắt nghĩa, lí gi ải đo ạn trích tr ọn
vẹn. Vì vậy việc tóm tắt văn bản sử thi là hoạt động cần thiết trong giờ dậy
Đối với học sinh, văn bản sử thi luôn gắn với môi trường diễn xướng, nó dùng để
kể chứ không phải để đọc. Vì vậy trong quá trình đọc văn bản, tùy vào nội dung
từng tác phẩm, đoạn trích, giáo viên cần tìm ra phương pháp đọc phù h ợp để
tạo nên sự hấp dẫn, tâm thế tiếp nhận tích cực cho học sinh. Giáo viên có th ể
phân vai cho học sinh đọc lời các nhân vật, đọc lời của người kể chuyện. Trong
sử thi Tây Nguyên lời của người kể chuyện chính là tình cảm c ủa nhân dân dành
cho nhân vật anh hùng. Tuy nhiên thời lượng đọc hiểu trên lớp không đủ để đọc
hết toàn văn bản. Giáo viên cho học sinh đọc một đoạn đối thoại giữa hai tù
trưởng thể hiện sự kịch tính của cuộc chiến đấu và một phần đoạn cuối lời của
người kể chuyện. Với đoạn trích Uy – lít – xơ trở về có thể chuyển thể thành
dạng đối thoại kịch. Giáo viên phân vai các nhân vật trong c ảnh Uy – lít – x ơ g ặp
mặt Pê – nê – lốp. Do tính nguyên hợp của tác phẩm s ử thi nên vi ệc h ướng d ẫn
học sinh đọc – kể văn bản sẽ giúp các em tiếp nhận văn bản hiệu qu ả hơn.
2.1.2. Thứ hai khi dạy đọc hiểu tác phẩm, giáo viên cần chú ý đến những s ự ki ện
lịch sử xã hội trọng đại có ý nghĩa quan trọng với cộng đồng đặt ra trong v ăn
bản. Ở tác phẩm Đăm Săn phản ánh con người và xã hội Tây Nguyên thời kì
chế độ công xã đang tan rã. Trong cuộc chiến đấu với Mtao Mxây để giành lại
vợ mình, người anh hùng đồng thời cũng bảo vệ cuộc sống bình yên cho buôn
làng mình. Vì vậy cuộc chiến đòi lại vợ chỉ là cái cớ để Đăm Săn chi ến đấu t ăng
thêm sức mạnh, uy tín cho cộng đồng mình.
Sử thi Ô đi xê phản ánh thời kì người Hy Lạp khám phá chinh phục biển c ả
ngoài xứ sở của mình cũng là thời kì sắp xếp giã từ chế độ công xã th ị t ộc bước
vào chế độ chiếm hữu nô lệ với sự xuất hiện của mô hình gia đình một vợ một
chồng. Đoạn trích Uy – lít – xơ trở về là cảnh gặp gỡ giữa hai vợ chồng sau hai
mươi năm xa cách đồng thời thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của hai ng ười.
Sử thi Ramayana kể về cuộc chiến của Rama với quỷ vương giành lại v ợ, tái
làm cho chàng trở nên tầm thường ích kỉ, mà trái lại nhân v ật hi ện lên chân th ực,
sống động, toàn diện và phi thường hơn. Như đã nói ở trên, nhân v ật sử thi
mang tính chức năng nhiều hơn tính cách, vì vậy Rama chính là hiện thân c ủa
con người bổn phận, con người danh dự. Giáo viên cần định hướng đúng đắn
để học sinh hiểu đặc trưng nhân vật sử thi, tránh những cách hiểu thi ển c ận,
không đúng về tác phẩm.
2.2. Dạy đọc – hiểu văn bản sử thi theo hướng tích hợp
Ngày nay với sự đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy h ọc,
giáo viên cần hình thành cho học sinh năng lực vận dụng tổng h ợp các tri th ức,
kĩ năng không chỉ trong môn Ngữ Văn, mà còn trong các môn h ọc khác như: l ịch
sử, địa lý, công dân… kiến thức về văn hóa, xã hội, và liên hệ trong đời s ống
thực tế.
Chúng ta cần kết hợp cả hai kiểu tích hợp: tích hợp dọc và tích hợp ngang
2.2.1. Tích hợp dọc theo chương trình các cấp học
Tích hợp dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng đã học trước đó theo
nguyên tắc đồng trục. Nếu như các thể loại văn học dân gian khác như truy ền
thuyết, cổ tích, tục ngữ, ca dao đều đã được học ở các cấp học trước thì lên đến
bậc THPT hoc sinh mới có điều kiện làm quen với sử thi. Tuy chưa có n ền t ảng
và về tri thức thể loại, nhưng cũng có được sự liên hệ với những kiến thức liên
quan đã học từ lớp dưới, những tri thức về thể loại khác để các em có thể so
sánh, đối chiếu. Giáo viên có thể đặt những câu hỏi so sánh trong bài gi ảng c ủa
mình như:
– Kể tên các thể loại văn học dân gian? Trong các thể loại đó, thể loại
nào chưa từng được học?
– Tại sao lại xếp sử thi vào thể loại tự sự dân gian? Vì sao cũng kể về
người anh hùng dân tộc nhưng không thể xếp Thánh Gióng vào thể loại
sử thi?
Đồng thời trong chương trình Ngữ Văn lớp 10, các tác phẩm sử thi được sắp
Nhân dân Tây
Thi sĩ: Hô – me-
Nguyên
rơ
Đạo sĩ: Van – mi – ki
Mang tính nhân
Đặc điểm
Tư duy chất phác,
văn và giá trị
Mang màu sắc tôn
hồn nhiên
thẩm mĩ
giáo, tâm linh
Giáo viên có thể giúp học sinh lập bảng thống kê để thấy điểm tương đồng giữa
nội dung các sử thi anh hùng
Kẻ đối
Người trợ
Ô – đi – xê
Uy- lít – xơ
hôn
Ra- van-
Ramayana
Rama
na
Giáo viên cũng có thể so sánh hai sử thi anh hùng của văn h ọc nước ngoài bằng
bảng thống kê
Tiêu chí
Sử thi Ô – đi – xê
Sử thi Ramayana
Đất nước
Hy Lạp
Ấn Độ
Văn minh
Mang tính tôn giáo tâm linh
Nhấn mạnh phẩm chất đạo
Giá trị
Gửi gắm khát vọng trí tuệ
đức
Khi giảng dạy ba tác phẩm sử thi trong nhà trường, tuy rằng mỗi tác phẩm viết
trong thời kì khác nhau với nội dung và ý nghĩa khác nhau nhưng giáo viên luôn
cần có ý thức so sánh đối chiếu để học sinh có tư duy cụ thể, rõ ràng về thể loại
văn học này
2.2.2. Tích hợp kiến thức liên môn
Tích hợp ngang kiến thức các môn học có liên quan đến nhau hiện nay đang là
một phương pháp được sử dụng trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn
Ngữ văn trong trường THPT. Bên cạnh việc tích hợp ba phân môn của môn Ng ữ
Văn : đọc văn, tiếng Việt và làm văn, giáo viên cần đưa thêm những kiến thức về
văn hóa, xã hội, con người vào bài học để gia tăng thêm kiến thức thực tế, tạo
nên sự hiểu biết toàn diện cho học sinh.
Khi dạy đọc hiểu về thể loại sử thi trong chương trình THPT, giáo viên khai thác
văn bản theo đặc trưng thể loại là một việc làm cần thiết, đúng với yêu c ầu c ủa
phương pháp dạy học Văn. Bên cạnh đó, với phương pháp tích h ợp kiến th ức
liên môn không chỉ giúp giáo viên truyền tải n ội dung bài h ọc phong phú, mà còn
giúp học sinh đi vào khám phá tác phẩm, từ đó thấy h ết được cái hay c ũng nh ư
vẻ đẹp riêng của sử thi so với các thể tự sự dân gian khác.
Có thể thấy các tác giả sách giáo khoa đã lấy chính những tác ph ẩm đọc v ăn
những quan niệm trong băn hóa dân gian của ng ười Ê đê. Đó là t ục l ệ “ N ối dây”
trong hôn nhân xưa, là sinh hoạt mang văn hóa c ồng chiêng c ủa nhân dân Tây
Nguyên. Giáo viên có thể giới thiệu những hình ảnh về trang phục truyền th ống,
cách ăn ở, cách sử dụng những dụng cụ nhạc điệu của người Ê Đê để học sinh
hình dung cụ thể hơn cách sống cách suy nghĩ của những dân t ộc này.
Không chỉ những kiến thức về văn hóa xã hội của các dân tộc khác trong nước,
mà những kiến thức về các quốc gia khác trên thế giới cũng rất c ần thi ết và gây
được sự chú ý, thích thú cho học sinh, tạo hiệu quả cho bài học. V ăn minh Ấn
Độ xuất hiện và tồn tại từ rất lâu đời với những nét đẹp truyền th ống r ất riêng.
Người Ấn Độ luôn soi chiếu mỗi cá nhân dưới góc độ đạo lí và tôn giáo. Vì vậy
Ra ma quên đi nguy hiểm để cứu Xi Ta nhưng cũng chính chàng sẵn sàng ru ồng
bỏ Xi ta để làm tròn bổn phận một vị vua mẫu mực. Xi ta sẵn sàng hi sinh tính
mạng để chứng minh sự trong sáng, danh tiết của một người phụ nữ thủy chung.
Việc cung cấp tri thức về đời sống văn hóa xã hội cho học sinh v ề m ỗi dân t ộc,
mỗi thời đại là rất cần thiết, nhất là trong xã hội hiện đại đã có độ lùi về th ời gian
khiến việc tiếp nhận giá trị tác phẩm sẽ hạn chế hơn.
Khi giảng dạy về tác phẩm Đăm Săn, giáo viên có thể giới thiệu về quá trình hình
thành các bộ tộc các buôn làng. Giới thiệu cho học sinh ki ến thức v ề l ịch s ử qua
các tranh ảnh, số liệu hay những sự kiện trong đại gắn liền với cu ộc s ống c ủa
người Ê đê. Giáo viên trình chiếu những kiến thức về địa lý, những địa bàn sinh
sống chủ yếu của con người Tây Nguyên, cách sống cách sinh ho ạt, s ăn b ắn,
hái lượm của họ. Về văn hóa, giáo viên giới thiệu với học sinh kiến th ức v ề cách
ăn ở, sinh hoạt, lối trang phục, phong tục tập quán của họ để học sinh có thể
tượng tượng hình dung được về chân dung của tù trưởng Đăm Săn qua những
lời kể trong sử thi.
Hoặc khi dạy về tác phẩm Ô – đi – xê, giáo viên giới thi ệu về bộ th ần tho ại Hy
Lạp nổi tiếng với các vị thần tiêu biểu. Giáo viên giới thi ệu v ề cu ộc chiến thành
Tơ Roa và vai trò của Uy – lit – xơ trong cuộc chiến này. Đây vừa là ki ến thức
– Trận đánh nhau với Mtao Mxây được miêu tả qua những chặng nào?
Để trả lời câu hỏi này, giáo viên có thể gợi ý học sinh bằng những câu h ỏi nhỏ :
– Diễn biến của hiệp đấu thứ nhất như thế nào? Thái độ và tài năng
của Đăm Săn và Mtao Mxây được thể hiện thế nào?
– Cảnh hai người múa khiên được miêu tả đối lập như thế nào? Tại sao
Đăm Săn không múa khiên trước mà để Mtao Mxây múa trước?
– Theo em tài nghệ của Mtao Mxây có đúng như hắn khoe khoang hay
không?
Hoặc giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu diễn biến của hiệp đấu thứ 2 b ằng
các câu hỏi:
– Ở hiệp đấu thứ 2, ai là người múa khiên trước?
– Chi tiết miếng trầu của Hơ Nhị quăng cho Mtao Mxây nhưng Đăm
Săn lại giành được nói lên điều gì?
– Ý nghĩa của chi tiết ông trời mách kế cho Đăm Săn là gì?
Tương tự như vậy ở các tác phẩm khác, giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi
gợi mở khi phân tích về những chi tiết quan trọng trong v ăn b ản. Trong đo ạn
trích “ Uy – lit – xơ trở về” khi tìm hiểu cuộc gặp gỡ của hai vợ chồng, giáo viên
có thể đặt câu hỏi:
– Trước khi Uy – lit – xơ trở về, Pê – nê – lốp rơi vào hoàn cảnh như thế
nào?
– Khi được nhủ mẫu báo tin chồng trở về, tâm trạng của nàng ra sao?
– Qua cử chỉ và lời nói của nàng cho thấy Pê – nê – lốp là người phụ nữ
như thế nào?
Hệ thống câu hỏi gợi mở được giáo viên đưa ra để giúp học sinh theo sát nội
dung tác phẩm, nắm chắc được ý nghĩa của văn bản sử thi.
2.3.2. Xây dựng tình huống có vấn đề trong giờ đọc – hiểu
Là một thể loại có từ lâu đời có khoảng cách xa so với thời đại ngày nay, trong
quá trình khám phá văn bản sẽ nẩy sinh không ít vấn đề. Đây là những tình
lại kiến thức sau một tiết học. Đối với thể loại sử thi với nội dung tác phẩm dài,
hình thức văn bản đồ sộ, phương pháp kiểm tra này rất cần thiết để đánh giá
được năng lực tư duy thực tiễn của học sinh.
2.4.2. Hệ thống câu hỏi thông qua trò chơi ô chữ
Sử thi đa phần là những tác phẩm dài nên phân phối ch ương trình thường là 2
tiết học / 1 văn bản. Để tạo được sự hấp dẫn cho bài học, vừa củng cố bài cũ,
vừa giới thiệu nội dung bài mới, thay bằng hình thức kiểm tra bài cũ gọi lên
bảng, ra câu hỏi, giáo viên có thể cho học sinh tái hiện ki ến th ức đã h ọc b ằng
hình thức trò chơi ô chữ. Với cách làm này có thể cùng một lúc kiểm tra được
kiến thức của nhiều học sinh, vừa tạo nên sự hứng thú, chú tâm đến bài h ọc,
đồng thời tiết kiệm được thời gian kiểm tra bài cũ nhưng vẫn đem lại hiệu qu ả
tích cực cho giờ dạy.
Khi dạy đọc hiểu về đoạn trích “ chiến thắng Mtao Mxây”, sau khi gi ới thiệu cho
người đọc cuộc chiến của hai tù trưởng và chiến thắng của Đăm Săn ở tiết 1,
trước khi sang nội dung tiết 2 phân tích hình tượng nhân v ật Đăm S ăn trong
cảnh mừng chiến thắng, giáo viên có thể đưa ra năm đến sáu câu hỏi nh ỏ để
học sinh tìm ý trả lời điền vào những ô chữ có sẵn:
Câu 1: Đăm Săn đã dùng vũ khí gì để tiêu diệt được kẻ thù?
Câu 2: Đăm Săn là sử thi viết về đề tài gì
Câu 3: Ở hiệp đấu thứ nhất, Đăm Săn và Mtao M xây tranh tài bằng
cách nào?
Câu 4: Đăm Săn phải lấy hai người vợ của chú theo tục lệ nào của
người Tây Nguyên?
Giáo viên có thể lựa chọn những chi tiết trong văn bản, hoặc lựa chọn ki ểm tra
những kiến thức ngoài văn bản có liên quan. Điều đó thúc đẩy học sinh có nhu
cầu tìm kiếm thông tin, tự phát huy khả năng sáng tạo, tạo không khí học t ập
trong lớp học.
Với những phương pháp này chẳng những vai trò của người h ọc tr ở nên ch ủ
4= 12,1%
18=54,5%
11= 33,3% 0
Trước đó khi chúng tôi chưa áp dụng phương pháp này vào giảng dạy, c ũng h ệ
thống câu hỏi kiểm tra như vậy, kết quả thu được ở học sinh lớp 10 A như sau:
Điểm
Trung
Lớp
Sĩ số
10 A
33
Giỏi
1= 3%
Khá
bình
14= 42,5% 17=51,5%
ĐIỀU KIỆN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
hơn nữa phương pháp dạy đọc – hiểu văn bản văn học dân gian
Trên đây là những ý kiến của riêng cá nhân người viết rút ra t ừ những kinh
nghiệm trong quá trình giảng dạy. Tôi tin tưởng rằng v ới nhi ệt huy ết c ủa ng ười
giáo viên, lòng say mê với nghề và ý thức học tập của học sinh nhà tr ường,
chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa để đem lại cho học sinh những gi ờ học hi ệu qu ả,
hấp dẫn, có ý nghĩa.
PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1
Giáo án thể nghiệm
CHIẾN THẮNG MTAO – MXÂY
( Trích sử thi Đăm San)
1.
MỤC TIÊU BÀI HỌC
2.
Về kiến thức
Giúp HS hiểu : – Hiểu được cuộc chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sự thịnh
vượng của cộng đồng là lẽ sống và niềm vui của người anh hùng thời xưa;
– Thấy được nghệ thuật miêu tả, xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ và các
biện pháp nghệ thuật thường dùng trong sử thi anh hùng qua đo ạn trích.
2.
Về kĩ năng
– Đọc (kể) diễn cảm tác phẩm sử thi.
– Soạn bài
III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH
– Phương pháp gợi mở, phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu vấn đề
– Phương pháp đọc – diễn cảm
– Phương pháp trực quan
– Thảo luận nhóm
– Giáo viên ra câu hỏi thảo luận cho 4 nhóm học sinh tìm hiểu
1.
TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
2.
Ổn định lớp
3.
Kiểm tra bài cũ
Câu hỏi: – Kể tên các thể loại văn học dân gian? Trong các thể loại
đó, thể loại nào chưa từng được học?
– Tại sao lại xếp sử thi vào thể loại tự sự dân gian? Vì sao cũng kể về
người anh hùng dân tộc nhưng không thể xếp Thánh Gióng vào thể loại
sử thi?
3.
Bài mới:
biến cố lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của cư
HS: Đọc to, rõ
dân thời cổ đại. Sử thi có hình thức diễn sướng riêng
ràng
( hát, kể)
Gv: Các em nhắc
b. Phân loại
lại khái niệm sử
Sử thi thần thoại
thi ? sử thi có
những loại nào?
Sử thi anh hùng
GV giới thiệu về
đặc trưng của sử
thi ( bảng minh
họa 1)
GV: Sử thi Đăm
c. Giá trị
Bộ sử thi dài Đăm San (2077 câu), thể hiện nét lịch sử
văn hóa của người đồng bào Tây Nguyên là tác phẩm
tiêu biểu cho thể loại sử thi anh hùng .
3. Đoạn trích.
a. Vị trí
Chiến thắng Mtao MXây ở nửa đầu của tác phẩm kể lại
diễn biến cuộc chiến của Đăm Săn với tù trưởng Mtao
Mxây nhằm cứu vợ và mở rộng đất đai
b. Bố cục
– Phần một (từ đầu cho đến Chúng ta ra về nào !):
Cuộc giao đấu giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
– Phần hai (còn lại) : Cảnh ăn mừng chiến thắng của
Đăm Săn cùng dân làng
II. Đọc – hiểu văn bản
1. Cuộc giao đấu giữa Đăm Săn và Mtao Mxây
GV hướng dẫn
a. Đăm Săn thách đấu
học sinh tìm hiểu
(từ đầu cho đến Ngươi cứ múa đi, ơ diêng !)
về sử thi Đăm
Săn
sàn, đốt nhà
sinh tóm tắt nội
dung văn bản
HS suy nghĩ, cử
đại diện trình bầy
GV trình chiếu
-> Tuyên chiến
– Sợ hãi nhưng vẫn tìm
với thái độ
cách trêu tức Đăm Săn
quyết liệt
– Sợ Đăm Săn đánh lén
không dám xuống.
– Coi thường
Mtao Mxây,
phần tóm tắt trên
tuyên bố
máy chiếu
học sinh tìm hiểu
quân tử
nhát, run sợ
về đoạn trích