Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
Phần một: Mở đầu
1/ Lý do chọn đề tài:
Môn Ngữ văn trong trờng THCS đợc cấu tạo theo 3 phần: Văn, tiếng
Việt, tập làm văn và đợc tổ chức trong một đơn vị bài học. Trong phần Văn
học sinh đợc học 5 cụm văn bản: Tự sự; Trữ tình; Nghị luận; Thuyết minh;
Nhật dụng. Chỉ riêng cụm văn bản trữ tình học sinh cũng đợc học xuyên suốt
cả 4 khối lớp và SGK đã lựa chọn đợc nhiều tác phẩm có giá trị văn chơng sâu
sắc. Cụm văn bản trữ tình trong chơng trình Ngữ văn 9 cũng vậy, học sinh đợc
học nhiều tác phẩm hay nh: Đồng chí của Chính Hữu, Bài thơ về tiểu đội xe
không kính của Phạm Tiến Duật,Viếng lăng Bác của Viễn Phơng, Con cò của
Chế Lan Viên, Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, Nói với con của nhà thơ
dân tộc Y Phơng và Sang thu của Hữu Thỉnh Với nhiều tác phẩm hay nh vậy
không phải ai, giáo viên nào cũng tìm ra con đờng thâm nhập và khai thác tác
phẩm thành công mà tác phẩm càng hay càng khó dạy. Hơn nữa, văn chơng là
một loại hình nghệ thuật, dạy văn chơng là dạy một loại hình nghệ thuật mà
nghệ thuật lại có con đờng riêng của nó và nó không hề đơn điệu mà vô cùng
phong phú, đa dạng. Nếu ngời giáo viên dạy Ngữ văn tự tìm đợc con đờng
thâm nhập, khai thác tác phẩm trữ tình hay nhất, độc đáo nhất, ngắn nhất thì
hiệu quả giờ dạy sẽ cao hơn rất nhiều. Qua những giờ dạy Ngữ văn ngời giáo
viên sẽ giúp HS cảm thụ đợc cái hay cái đẹp mà tác phẩm văn chơng đem lại
và những giờ học ấy sẽ neo giữ trong tâm hồn trong trắng của trẻ thơ những
tình cảm tốt đẹp, các em biết yêu cái tốt, căm ghét cái xấu, biết thông cảm sẻ
chia với những cảnh đời éo le, bất hạnh, biết rung động trớc những cái đẹp của
cuộc đời
Nh vậy, chính văn chơng đã góp phần bồi dỡng tâm hồn trẻ thơ, đem
đến cho các em những tình cảm tốt đẹp. Điều đó hoàn toàn phù hợp với mục
tiêu của giáo dục hiện nay là nhằm giáo dục những con ngời toàn diện: vừa có
tri thức vừa có sức khoẻ vừa có nhân cách tốt. Vì vậy, ngời giáo viên dạy Ngữ
*Đối tợng nghiên cứu:
- Văn bản trữ tình trong chơng trình Ngữ văn 9
2
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
- Việc dạy học của giáo viên và HS trờng THCS Thiệu Phú.
4/ Ph ơng pháp nghiên cứu :
- Đọc tìm hiểu và nghiên cứu tài liệu
- Phơng pháp điều tra, khảo sát giáo viên và HS
- Phơng pháp thực nghiệm
- Phơng pháp so sánh đối chiếu
- Phơng pháp phân tích tổng hợp.3
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
Phần hai: Nội dung
1/Cơ sở lí luận khoa học:
Cho đến nay, khoa học nghiên cứu phê bình lí luận văn học vẫn ch-
a có đợc sự chỉ dẫn thực sự có hệ thống, có sức thuyết phục về phơng
pháp tiếp cận chiếm lĩnh một văn bản trữ tình. Rải rác có một vài bài viết
hay một vài cuốn sách ít nhiều có bàn đến con đờng tiếp cận một tác phẩm
nhng những kết luận khái quát về công việc lao động nghệ thuật phức tạp
này đang còn chờ đợi sự quan tâm nhiều hơn của các nhà lí luận.
Trong nhà trờng cũng vậy, chúng ta cha có đợc những kết luận thực sự
đáng tin cậy hay những kết quả nghiên cứu chuyên tâm về phơng pháp đặc
thù của quá trình chiếm lĩnh, phân tích giảng dạy một văn bản trữ tình
trong dạy Ngữ văn, nhiều ngời đã đồng nhất giữa phơng pháp dạy văn bản
Trong khi đó, những hiểu biết về lý luận văn học, về nguyên tắc phân tích
văn bản trữ tình không phải là của riêng ai nhng có nhiều giáo viên Ngữ
văn vẫn cảm thấy không bằng lòng với mình về văn bản này hay văn bản
kia. Sự bất lực ấy trong cảm thụ, thâm nhập và khai thác văn bản của giáo
viên trớc hết bởi giáo viên không nắm vững đặc trng của văn bản trữ tình,
họ vẫn còn lẫn lộn trong việc thâm nhập và khai thác văn bản trữ tình với
các văn bản khác nh tự sự , hay nghị luận
Hơn nữa, không phải giáo viên dạy Ngữ văn nào cũng có năng khiếu
văn chơng và có chất giọng dạy văn. Điều này cũng ảnh hởng không ít đến
việc thâm nhập và khai thác văn bản trữ tình nói riêng, việc dạy Ngữ văn
nói chung.
* Đối với học sinh:
Một thực tế diễn ra rộng rãi ở học sinh THCS là phần đông các em
không ham thích học văn, xu hớng chọn nghề sau này ảnh hởng lớn đến
việc học tập của các em nói chung. Học sinh trờng THCS Thiệu Phú vừa
chịu ảnh hởng tâm lý chung ấy. Đồng thời, điều kiện gia đình các em còn
khó khăn, bố mẹ đi làm ăn xa không có ngời lớn kèm cặp. Hơn nữa, thực
chất học sinh khối 9 ít em có năng lực văn học, phần lớn các em cha thật
sự ham học và nói viết còn lạm dụng tiếng địa phơng Điều này, gây
5
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
không ít khó khăn cho việc dạy học Ngữ văn nói chung dạy học văn bản trữ
tình nói riêng.
Qua khảo sát HS lớp 9 trờng THCS Thiệu Phú tôi đã thu đợc kết quả nh
sau:
Lớp Số HS Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
cuối, đọc cho âm vang, đọc để tri giác đợc hình ảnh,ngôn ngữ, nhịp điệu
của bài thơ . Trong quá trình ta đọc những tín hiệu ngôn ngữ, những hình ảnh
cuộc sống trong bài thơ sẽ hiện lên tuần tự sáng rõ dần nh cuốn phim đợc
tráng trong nớc thuốc hiện hình. Nh thế là ngời đọc đã tiếp cận với văn bản trữ
tình ở bình diện thứ nhất. Và ở đây,những hình ảnh nổi rõ nhất, trực diện nhất,
trực tiếp nhất đập mạnh vào cảm quan ngời đọc.
Chẳng hạn, khi thâm nhập văn bản Sang thu của Hữu Thỉnh Ngữ văn
9, trớc mắt chúng ta là một bài thơ, một bài thơ 12 câu với 60 chữ đợc chia
làm 3 khổ, mỗi khổ 4 câu , mỗi câu 5 chữ . Đọc từ câu đầu đến câu cuối của
bài thơ ngời đọc sẽ bắt gặp những sự vật, hiện tợng nh: hơng ổi, ngọn gió se
lạnh, với sơng, với dòng sông trôi chậm chạp, với cánh chim vội vã, với nắng,
với ma, tiếng sấm và hàng cây đứng tuổi xuất hiện dần theo cảm nhận của
Hữu Thỉnh.
Nếu chỉ dừng ở đây thôi thì những sự vật, hiện tợng tri giác đợc khi đọc
bài thơ vẫn chỉ là những sự vật, hiện tợng. Có điều ngời đọc luôn phải nghĩ
rằng trong thơ trữ tình sự vật, hiện tợng chỉ là cái cớ để nhà thơ biểu hiện cảm
xúc, tình cảm của mình hoặc gửi gắm vào đó một điều gì đó thầm kín sâu xa.
Vì thế, ngời đọc không thể không tiến hành bớc thứ hai.
B ớc thứ hai : Đọc với sức mạnh của hồi ức, liên tởng, tởng tợng
Đọc một lần chúng ta mới cảm nhận đợc những gì hiện hữu có trong bài
thơ, đợc thể hiện qua cái vẻ bề ngoài vỏ âm thanh của ngôn ngữ, hình ảnh mà
cha cảm thụ đợc cái hay, cái đẹp bên trong ngôn ngữ hình ảnh bài thơ. Nên
việc tiếp tục đọc, đọc đi đọc lại nhều lần bằng con mắt của liên tởng, tởng tợng
là rất cần thiết.
Đọc kỹ bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh ta sẽ nhận thêm đợc ở đó không
chỉ là sự vật, hiện tợng của tự nhiên mà còn là bức tranh cảnh vật thiên nhiên,
7
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
8
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
nghiệm sâu sắc của nhà thơ đã hiện ra và hàng cây đứng tuổi nh một chứng
nhân.
Nh vậy đọc để tri giác để liên tởng, tởng tợng sẽ giúp chúng ta hiểu sâu
sắc hơn về văn bản trữ tình.
B ớc thứ ba : Bằng so sánh, khái quát tổng hợp xác định từng bớc chủ
đề tác phẩm.
ở trên, chúng ta đã đi từ bớc tri giác qua ngôn ngữ, âm thanh đến giai
đoạn định hình đợc những hình ảnh chính của bài thơ. Nhận thức đến đó vẫn
còn cảm tính, cha hoàn chỉnh, thiếu hệ thống nếu nh ngời đọc cha nhận ra đợc
tiếng nói của nhà thơ. Nhà thơ định nói gì với bạn đọc và nói đợc gì qua hệ
thống ngôn ngữ, hình ảnh, qua sự sáng tạo nghệ thuật của tác giả trong bài
thơ. Dĩ nhiên việc xác định chủ đề bài thơ là một quá trình nhận thức từ thấp
đến cao, từ bề ngoài đến bên trong, từ bộ phận đến chỉnh thể, từ nông đến sâu,
có khi từ sai đến đúng.
Với bài thơ Sang thu nhà thơ Hữu Thỉnh nh nói với ngời đọc thiên
nhiên đất trời lúc giao mùa hạ - thu rất nhẹ nhàng, rõ rệt mà sinh động có hồn.
Sự chuyển giao ấy khiến con ngời ngỡ ngàng bâng khuâng và phải thật sự tinh
tế mới cảm nhận đợc vẻ đẹp của nó và đặc biệt với những hình ảnh cuối bài:
Sấm cũng bớt bất ngờ, Trên hàng cây đứng tuổinhà thơ đã kín đáo gửi vào đó
một triết lý sâu xa mang tính trải nghiệm sâu sắc của mình là con ngời từng
trải qua bao thăng trầm của cuộc đời càng vững vàng hơn trớc những tác động
bất thờng của ngoại cảnh và cuộc đời.
Xác định đợc chủ đề, ngời đọc sẽ trở lại soi sáng cho việc lựa chọn bình
giá những hình ảnh, những thủ pháp nghệ thuật đắt nhất đợc nội dung hoá cao
nhất. Dới ánh sáng của chủ đề ta sẽ thấy nổi bật hơn trong hệ thống ngôn ngữ,
hình ảnh mà tác giả sử dụng trong bài thơ.
Có lẽ trong bài thơ Sang thu ngời đọc mọi thế hệ đều thừa nhận rằng
Bình diện 4
Hình ảnh 1
Hình ảnh 2
Hình ảnh 3
Hình ảnh 4
10
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
- Đọc / suy tởng
Bớc 3: Phân tổng
phân
Tổng
Bớc 1
Bớc 2
Xác định chủ đề
-Lựa chọn hình ảnh, nội dung hoá
cao nhất
- Khẳng định chủ đề, xác định ý
nghĩa chung của bài thơ
Sở dĩ, hình tợng văn học luôn mang tính cảm tính, cụ thể, khái quát nên t
duy ngời cảm thụ là t duy tổng hợp. Dĩ nhiên năng lực t duy tổng hợp còn là
vấn đề trình độ ở mỗi ngời. Cho nên quá trình xác định đợc chủ đề và phát
hiện ra những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm diễn ra từng bớc từ thấp đến
cao, từ sai đến đúng, từ hiện tợng đến bản chất trong sự vận dụng tổng hoà của
những năng lực phân tích, so sánh tổng hợp, khái quát.
Hơn nữa quá trình đi vào tác phẩm trữ tình là quá trình vận dụng nhiều
năng lực tâm lý cảm thụ. Quá trình đó là quá trình diễn ra nhiều giai đoạn mà
bớc cao nhất là xác định đợc chủ đề.
tác phẩm đợc. Song việc thâm nhập sâu, cảm thụ tốt văn bản thì việc khai thác
sẽ thuận lợi hơn nhiều. Đồng thời cũng dễ đi đến thành công trong việc giúp
học sinh tìm hiểu tác phẩm. Rõ ràng tìm đợc con đờng đến với tác phẩm đã
khó thể hiện đợc sự cảm thụ một cách hoàn chỉnh lại càng khó hơn.
Vậy muốn khai thác tác phẩm trữ tình thành công chúng ta cần chú ý
những gì? Theo suy nghĩ và kinh nghiệm qua nhiều năm giảng dạy môn Ngữ
văn của bản thân tôi nhận thấy rằng: Muốn khai thác thành công tác phẩm trữ
tình, trớc tiên ngời giáo viên dạy Ngữ văn phải nắm vững đặc trng của thể loại
và phơng pháp phân tích tác phẩm trữ tình. Nếu nh khai thác phân tích tác
phẩm tự sự chúng ta phải chú ý đến cốt truyện, nhân vật, đến tình tiết sự việc
chính các yếu tố cốt lõi tạo nên tác phẩm, sức sống của tác phẩm. Thì với
văn bản trữ tình chúng ta cần dặc biệt chú ý đến các tín hiệu nghệ thuật: ngôn
ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp thể hiện cảm xúc của nhà thơ
Trong văn bản nghệ thuật,bất kỳ một tín hiệu nghệ thuật nào: một cái dấu
chấm, dấu phẩy, dấu chấm lửng, một cách ngắt nhịp cũng có dụng ý nghệ
thuật của ngời sáng tác. Trong văn bản trữ tình những tín hiệu nghệ thuật ấy
12
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
càng đợc phát huy tác dụng cao. Bởi thơ khác văn xuôi, thơ thờng cô đọng,
xúc tích, hàm xúc sâu xa. Vì vậy khi khai thác thơ chúng ta phải đặc biệt chú
ý đến hệ thống từ ngữ, hình ảnh đợc tác giả sử dụng. Đồng thời phải hiểu thơ,
khai thác thơ ở tầng nghĩa hàm xúc, biểu tợng
Để giúp học sinh tìm hiểu và khai thác bài thơ Sang thu tôi đã hớng sự
chú ý của học sinh đến các tín hiệu nghệ thuật bằng hệ thống các câu hỏi nêu
vấn đề, phân tích, so sánh, khái quát, tổng hợp nh:
- Bài thơ có nhan đề Sang thu, vậy em hiểu nh thế nào về nhan đề này?
HS qua tìm hiểu bài ở nhà sẽ hiểu đợc Sang thu là thời điểm giao mùa giữa
hạ và thu thờng bắt đầu vào cuối tháng 7 trong năm.
em, hình ảnh nào để lại ấn tợng rõ nhất về thời điểm giao mùa? Vì sao?
Trên cơ sở những cảm xúc của HS giáo viên bình để chuyển ý: Thu
sang âm thầm nhng thi sĩ cảm thấy sự khẩn trơng trong mạch vận động
của thiên nhiên.Từ đó đặt câu hỏi để HS tìm hiểu khổ 2:
- Hình ảnh thơ nào trong khổ 2 cho thấy mạch vận động của thiên nhiên?
HS sẽ phát hiện ra các hình ảnh: Sông dềnh dàng, Chim vội vã , đám mây
mùa hạ vắt nửa mình sang thu.
- Nhận xét của em về cách diễn đạt của tác giả trong các hình ảnh trên?
Cặp câu đối diễn tả tín hiệu khởi đầu của mùa thu với hình ảnh nhân hoá độc
đáo Mây vắt nửa mình sang thu
Qua việc giúp HS khai thác các tín hiệu trên GV giúp HS hiểu thêm cái tài
của Hữu Thỉnh là dùng không gian vẽ thời gian. Nhịp cầu mỏng manh của thời
gian đợc quan sát và cảm nhận bằng cả tâm hồn. Ranh giới giữa hạ và thu vốn
mỏng manh mơ hồ bỗng thật cụ thể và đám mây chính là nhịp cầu ô thớc của
sự giao mùa. Nhà thơ ngây ngất trớc sự vận động chuyển mùa của cảnh vật.
Tiếp tục giúp HS tìm hiểu và nhận rõ đợc sự chuyển mùa âm thầm của
thiên nhiên tôi định hớng cho HS khai thác khổ cuối.
- Nhà thơ còn cảm thấy những biến đổi âm thầm nào của tạo vật từ hạ sang
thu?
HS quan sát và phát hiện: Vẫn còn nắng, đã vơi dần cơn ma, Sấm
bớt bất ngờ
- Cách diễn tả của nhà thơ có nét gì đặc sắc?
14
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
GV giúp cho HS nhận ra cách dùng các phó từ : Vẫn còn nắng, đã vơi
dần đã diễn tả đợc những hiện tợng thiên nhiên dặc trng của mùa hạ vẫn hiện
ra nhng sắc độ giảm dần để rồi hình ảnh thiên nhiên giao mùa hạ - thu càng rõ
nét hơn qua sự cảm nhậ tinh tế của nhà thơ Hữu Thỉnh.
câu hỏi để các em tìm hiểu: Bài thơ Sang thu có gì đặc sắc so với những
bài thơ khác mà em biết?
Trên đây là một số suy nghĩ về định hớng khai thác một bài thơ cụ thể
trên cơ sở phơng pháp đặc trng bộ môn. Nhìn chung, muốn cảm thụ, phân
tích đúng đắn một tác phẩm văn chơng nói chung một tác phảm trữ tình
nói riêng luôn luôn phải loại trừ ấn tợng chủ quan sai lệch về tác phẩm,
phân biệt đợc yếu tố trung hoà và then chốt để xác định đúng đắn chủ đề
tác phẩm và những gì là sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. Đồng thời
trong quá trình khai thác, giúp HS phân tích tìm hiểu bài thơ chúng ta không
chỉ chú ý đến các nhãn tự, các hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp thể hiện cảm
xúc của tác giả trong bài thơ mà chúng ta còn phải biết kết hợp nhuần nhuyễn,
linh hoạt các biện pháp trong quá trình phân tích, khai thác thơ. Cùng với đọc
diễn cảm chúng ta cũng phải biết so sánh đối chiếu, phải biết xoáy vào những
điểm sáng nghệ thuật của bài thơ. đồng thời phải biết bình đúng lúc, đúng chỗ,
lời bình ngắn, hay, hấp dẫn sẽ lôi cuốn HS và gợi mở để các em hiểu sâu,
rộng về bài thơ hơn. Thực sự trong giờ dạy Ngữ văn nhất là dạy thơ trữ tình mà
GV không biết dừng lại để so sánh đối chiếu, không biết bình những hình ảnh
đẹp, câu thơ hay thì hiệu quả giờ dạy Ngữ văn sẽ giảm đi rất nhiều. Những lời
bình của GV về một câu thơ hay, một hình ảnh đẹp nào đó trong bài thơ sẽ
làm cho giờ dạy Ngữ văn sinh động hơn và nó tác động đến t tởng tình cảm
của học sinh, gây hứng thú cho HS trong giờ học. Song chúng ta cũng phải lựa
chọn bình cái gì, giảng cái gì ? Chứ không phải cái gì cũng bình, cái gì cũng
giảng. Thời lợng trên lớp rất có hạn chúng ta chỉ nên xoáy sâu vào những điểm
sáng nghệ thuật mà nó thể hiện rõ nhất, sâu sắc nhất chủ đề, nội dung tác
phẩm.
Bên cạnh đó trong quá trình hớng dẫn HS khai thác, tìm hiểu văn bản trên
lớp chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến đối tợng HS. Nếu đối tợng HS
yếu kém chúng ta chỉ dừng lại ở việc hớng dẫn các em tìm hiểu những nội
16
17
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
Lớp Số HS Kết quả
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL
%
9B 35 1 2,9 9 26,1 18 51 7 20
Phần ba: Kết luận
Trên đây là một số suy nghĩ của bản thân về cách tiếp cận, thâm nhập
và khai thác một văn bản trữ tình trong chơng trình Ngữ văn 9 mà cụ thể là bài
thơ Sang thu của Hữu Thỉnh. Dới ánh sáng của phơng pháp dạy học thơ trữ
tình cộng với kinh nghiệm của bản thân qua nhiều năm giảng dạy, trong đề tài
này tôi dã mạnh dạn đa ra một số ý kiến cụ thể về việc thâm nhập và khai thác
văn bản trữ tình. Nhìn chung muốn khai thác văn bản trữ tình đúng hớng trớc
hết ta phải biết cách thâm nhập tác phẩm tức là phải đọc , đọc âm vang để tri
giác, đọc hồi ức, liên tởng tởng tợng để nhận biết lần lợt các bình diện, các
hình ảnh từ thấp đến cao, từ bên ngoài đến bên trong Quá trình này không
đơn giản, không dễ và cũng không phải ai cũng thực hiện tốt. Từ chỗ thâm
nhập tác phẩm chúng ta mới định hớng đợc cách khai thác văn bản. Chỉ có
nắm vững đặc trng và phơng pháp của văn bản trữ tình mới giúp chúng ta tìm
ra con đờng khai thác đúng. Song chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hệ thống
từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, biện pháp thể hiện cảm xúc của tác giả. Từ đó
chúng ta mới khám phá đợc cái hay, cái đẹp của tác phẩm và mới hiểu đợc cái
điều mà nhà thơ muốn nói. Có nh vậy chúng ta mới đi đến cái đích của nghệ
thuật, mới xác định đợc chủ đề t tởng của tác phẩm. Làm đợc điều này thì
trong quá trình lên lớp chúng ta mới thực hiện đợc xứ mệnh của ngời giáo viên
dạy Ngữ văn là chiếc cầu nối giữa nhà thơ với tác phẩm và cuộc đời và mới
đem đến cho các em những giây phút thăng hoa của tâm hồn để tiếp thu cái
đẹp. Những điều tôi trình bày ở đây là những kinh nghiệm tôi đã đúc rút trong
Phạm vi và đối tợng nghiên cứu
2
5 4
Phơng pháp nghiên cứu
3
6 B
Phần hai: Nội dung trình bày
4
7 1
Cơ sở lý luận
4
8 2
Cơ sở thực tiễn
5
9 3
Nội dung và phơng pháp tiến hành
6
10 3.1
Một số suy nghĩ về con đờng tiếp cận, thâm
nhập văn bản trữ tình
6
11 3.2
Một số suy nghĩ về cách khai thác văn bản trữ
12
19
Suy nghĩ về cách tiếp cận và khai thác văn bản trữ tình trong
chơng trình Ngữ văn 9 THCS
tình- văn bản Sang thu Ngữ văn 9
12 4