sáng kiến kinh nghiệm môn văn bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh - Pdf 17

Phần một: đặt vấn đề
1. Lý do chọn đề tài
a, Cơ sở lý luận
Nghị quyết trung ơng IV về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã
chỉ rõ " Đổi mới phơng pháp dạy học ở tất cả câc cấp học, các bậc học cần áp dụng
những phơng pháp giáo dục hiện đại để bồi dỡng cho học sinh năng lực và t duy sáng
tạo, năng lực giải quyết vấn đề, phải thờng xuyên khơi dạy, rèn luyện và phát triển
năng lực tự học, tự nghiện cứu năng lực nghĩa và làm một cách tự chủ. Năng lực tự
đặt và giải quyết vấn đề ngay trong quá trình học tập ở nhà trờng đi đôi với vai trò
mới của thầy là ngời hớng dẫn cho ngời học biết tự mình tìm kiến thức, xử lí những
tùnh huống, biết làm việc cá nhân, với bạn với thầy, với tập thể, biết chuyển quá
trình đào tạo của mình, là ngời trọng tài đánh giá, kết quả học tập, là ngời cố vấn
giúp ngời học tự đánh giá, tự điều chỉnh theo yêu cầu của mục tiêu ngời học.
Thực tế của quá trình dạy và học trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay đòi
hỏi ngời dạy nói chung và dạy Văn nói riêng cần phải có những đổi mới về mặt ph-
ơng pháp dạy học sao cho phù hợp với yêu cầu lấy học sinh làm trung tâm. Do vậy
đổi mới phơng pháp giảng dạy Văn đang là yêu cầu cấp bách và nhiệm vụ nặng nề
đối với ngời thầy không chỉ để thực hiện những chỉ thị mà là nhằm đáp ứng đợc nhu
cầu chính đáng của ngời học và của công tác đào tạo trong tình hình hiện nay.
b, Cơ sở thực tiễn:
Qua 5 năm thực hiện chơng trình theo hớng đổi mới, qua tìm hiểu thực tế
giảng dạy bộ môn ngữ văn ở trờng THCS Nguyên Lý, tôi nhận thấy:
Phần chuẩn bị giáo viên và học sinh còn sơ sài, đơn điệu, không rõ ràng. Thậm
chí có nhiều học sinh không chuẩn bị bài( thực chất là không biết cách chuẩn bị bài )
hoặc chuẩn bị một cách chống đối .
Khi giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm thì nhiều học sinh lại hoạt
động cá nhân . Số lần tham gia hoạt động nhóm trong các giờ học còn hạn chế , giáo
viên cha kích thích đợc những học sinh yếu, kém hoạt động nhóm .
Cơ sở vật chất lớp học cha hợp lý nên việc tiến hành thảo luận nhóm còn khó
khăn.
Việc giới thiệu bài của giáo viên ( để kích thích trí tò mò, sự hứng thú của học

vậy, mà qua các bài học, H/s đã biết hành động, biết thích ứng, biết giao tiếp ứng xử,
biết tự khẳng định mình.
- Phát huy đợc tính tích cực, chủ động sáng tạo của ngời học dới sự hớng dẫn
của giáo viên. Đồng thời đã đổi mới đợc PP theo hớng tăng cờng sự tơng tác giữa
thày và trò; trò - trò; trò - thầy; thầy,trò - tài liệu và ngợc lại.
- Đổi mới việc lựa chọn hệ thống văn bản rút ngắn hơn so với CT cũ, có nhiều
văn bản mới đợc đa vào ở các lĩnh vực khác nhau, học theo từng cụm bài, số lợng bài
ôn tập tăng, số lợng bài chơng trình địa phơng có ở cả 3 phân môn. Đặc biệt, các bài
tổng kết, ôn tập ở lớp 9 giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức toàn cấp.
- Bám sát vào tiến trình lịch sử VH để lựa chọn các tác phẩm tiêu biểu cho các
thể loại của mỗi giai đoạn văn học. Lấy VHVN làm trục chính và bổ xung các tác
phẩm VHVN cùng thể loại một cách tơng ứng để học sinh tiện so sánh đối chiếu.
- Về hình thức: Chỉ còn một cuốn ngữ văn, giảm bớt sự cồng kềnh, nặng nề.
Trong mỗi bài, học sinh đều đợc học cả 3 phân môn đan xen nhau để đảm bảo tính
tích hợp. Tất cả các tri thức và kỹ năngcủa các phân môn đều tập trung hình thành và
rèn luyện cho học sinh năng lực đọc văn, làm văn. Bên cạnh đó thì cấu trúc một bài
học cũng khác trớc(Kết quả cần đạt, tên bài, tên tác giả, ảnh tác giả, chú thích, hệ
thống câu hỏi, ghi nhớ, luyện tập).
. Hạn chế:
Có nhiều bài hay đợc đa vào bài học thì thời lợng quá ít (Đặc biệt ở lớp 9),
còn một số bài hớng dẫn đọc thêm thì thời lợng lại đến hai tiết.
Các bài về cụm từ còn khó đối với học sinh lớp 6.
Trong các bài đọc hiểu văn bản thì tranh ảnh về chân dung tác giả còn hạn
chế.
2. Thực tế chất lợng học sinh qua những năm thực hiện đổi mới chơng trình:
Theo dõi chất lợng bộ môn văn của trờng qua 4 năm thực hiện đổi mới chơng
trình, tôi có số liệu sau:
- Năm học 2002-2003: Học sinh đạt yêu cầu là 60%
- Năm học 2003-2004: Học sinh đạt yêu cầu là 60%
- Năm học 2004-2005: Học sinh đạt yêu cầu là 70%

Khổ 3: Những biến chuyển trong lòng cảnh vật
Giáo viên cần định hớng ở mục này nên cho h/s thảo luận nhóm. Giáo viên cần
dự kiến nội dung cụ thể cho học sinh tự tìm tòi và đi đến nhận thức kiến thức mới.
Hay trong mục 2 của bài ''Kiều ở lầu Ngng bích'' SGK lớp 9. Giáo viên có thể
cho h/s tự tìm hiểu nỗi lòng thơng nhớ của Kiều từ đó cảm nhận đợc tấm lòng thủy
chung, hiếu thảo, vị tha của nàng. Sở dĩ tôi chọn mục này cho học sinh làm việc vì
đây là kiến thức trọng tâm của bài là kiến thức mà sau bài học h/s phải cảm nhận đ-
ợc. Mặt khác, kiến thức này lại liên quan đến yếu tố miêu tả nội tâm trong văn bản tự
sự, tạo điều kiện cho học sinh có thể làm việc tự phát hiện ra kiến thức mới.
Những kiến thức đó cần đợc nêu lên thành vấn đề, các câu hỏi hoặc bài tập dới
dạng các nhiệm vụ để giao cho học sinh thực hiện.
ở VD trên các yêu cầu để học sinh tìm hiểu phẩm chất của Thúy Kiều đợc thể
hiện dới dạng các câu hỏi sau:
? Trong cảnh ngộ của mình, nàng Kiều đã nhớ tới ai? Nàng nhớ ai trớc, ai sau?
Nỗi nhớ nêu lên nh thế có hợp với đạo lý của ngời phơng Đông không?
? Tác giả đã chọn từ nào để diễn tả nỗi nhớ của Kiều với Kim Trọng, của Kiều
với cha mẹ? Từ đó có hợp lý không?
? Những biện pháp NT nào đợc sử dụng?
? Em cảm nhận đợc điều tốt đẹp nào trong tâm hồn của Thúy Kiều qua những
câu thơ trên?
G/v dự kiến những gợi ý để học sinh có thể tiếp cận và tự phát hiện kiến thức
mới.
G/v gợi ý cho h/s cần biết căn cứ vào câu thơ, câu văn nào, biện phát tu từ nào,
kiến thức nào, môn học nào để trả lời câu hỏi
VD: Khi tìm hiểu yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự để trả lời đợc câu hỏi:
Tìm và chỉ ra yếu tố nghị luận trong 2 đoạn trích (của Nam Cao và Nguyễn
Du)?
Vai trò của yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự?
Thì giáo viên cần có một số câu hỏi để gợi ý:
Trong mỗi đoạn trích, nhà văn đã nêu ra những luận điểm gì?

Tóm lại: Công việc chuẩn bị của giáo viên đợc thực hiện trong giáo án có 3
phần mà mọi đồng nghiệp đã tiến hành:
- Mục tiêu bài học: Hoạt động học sinh cần thực hiện và kiến thức kỹ năng h/s
có thể đạt đợc sau bài học.
- Phơng tiện dạy học trong đó có sách giáo khoa.
- Hoạt động trên lớp của giáo viên và học sinh.
Vì một tiết học chỉ giới hạn trong 45 phút nên chỉ chọn 1 hoặc 2 vấn đề cho
học sinh tự làm việc, còn các nội dung khác giáo viên vẫn tiến hành dạy học theo các
phơng pháp thông thờng. Mặt khác, giáo viên cũng có thể chọn lọc những bài tập cơ
bản nhất; Cơ bản nhất nhng lại có thể tích hợp để thực hiện trên lớp, còn những bài
tập khác cho h/s tự tìm hiểu và làm ở nhà.
2. Lựa chọn PP thảo luận nhóm phù hợp với tiết học.
Khi tiến hành thảo luận, ngời hớng dẫn có thể là h/s (Khi dạy các bài ôn tập,
chơng trình địa phơng) hoặc là giáo viên (Khi dạy bài mới). Bởi vậy giáo viên nên
chỉ định, bồi dỡng 1->2 em trong tổ có khả năng hớng dẫn thảo luận nhóm. Kinh
nghiệm này giúp cho học sinh có điều kiện bồi dỡng cho mình năng lực tổ chức
nhóm, chỉ đạo điều khiển hoạt động và nâng cao hứng thú tìm tòi, nghiên cứu. Song
muốn vậy, giáo viên phải tính đến loại câu hỏi, bài tập nào để dành cho h/s hớng dẫn
thảo luận một cách vừa sức. Giáo viên nên để cho học sinh bầu ra nhóm trởng, th ký
của mình cố định -> Cách để cho h/s hớng dẫn thảo luận nên để cho học sinh lớp 8,9;
còn đối với học sinh khối 6,7 thì ngời hớng dẫn thảo luận là giáo viên.
Cách thức tiến hành:
- Mở đầu thảo luận: Giáo viên thông báo về nội dung thảo luận, quy trình và
quy định thảo luận.
- Hớng dẫn thảo luận: Cần có quan hệ tốt giữa giáo viên và học sinh nh thái độ
c sử, gơng mặt, lời bình luận của giáo viên làm cho hứng thú của h/s tăng lên trớc và
trong khi thảo luận. Vì vậy, trong quá trình thảo luận cần chú ý:
+ Giáo viên làm nhiệm vụ quan sát, theo dõi mà không tham gia ý kiến, không
cắt ngang lời học sinh, không tỏ vẻ phản ứng nếu câu trả lời, tranh luận không đúng
với ý mình. Nếu nhóm học sinh thảo luận trầm, có vẻ ngắc ngứ, giáo viên có thể gợi

năng lực t duy, năng lực phán đoán của học sinh. Với những cách giới thiệu bài tôi
đã và đang áp dụng, xin trình bày để các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo và trao
đổi:
Cách 1: Đa bài mới vào hệ thống kiến thức cũ.
Cách giới thiệu này khắc sâu đợc kiến thức cơ bản, giúp học sinh dễ ôn, dễ
nhớ, phát triển t duy lôgic, có khả năng hệ thống hóa kiến thức.
VD: Khi dạy ''Truyện Kiều-Nguyễn Du'' Ngữ văn 9, tôi giới thiệu bài mới nh
sau:
Các em đã tiếp xúc với vẻ đẹp,số phận con ngời và xã hội PK ở trong các văn
bản''Truyện ngời con gái Nam Xơng, Hoàng lê nhất thống chí''. Hôm nay cô trò ta lại
cùng nhau đến với ''Truyện Kiều của Nguyễn Du'' để thấy đợc bản chất của xã hội
PK và vẻ đẹp của con ngời.
Cách 2:Đa bài mới vào thể loại hoặc mối quan hệ giai đoạn.
VD: Khi dạy văn bản''Bếp lửa - Bằng Việt'' ngữ văn 9, tôi giới thiệu:
Chúng ta hẳn không quên hình ảnh anh lính trẻ trên đờng hành quân, nghe
tiếng gà gáy tra lại nhớ tới bà mình trong ''Tiếng gà tra của Xuân Quỳnh'' ngữ văn 7.
Tình bà cháu thật cảm động. Cũng qua văn bản này các em đã biết thế nào là biểu
cảm. Giờ học hôm nay, cô trò chúng ta cùng đến với một tình bà cháu thiêng liêng và
không kém phần xúc động. Văn bản''Bếp lửa của Bằng Việt''.
Cách 3: Đa bài mới vào giai đoạn văn học.
VD: Khi giới thiệu đoạn trích''Tức nớc vỡ bờ'' và ''Lão Hạc'':
Xã hội PK xa, ngời ta bắt gặp nhan nhản cái cảnh địa chủ, quan lại bóc lột tận
xơng tủy ngời nông dân, làm cho họ bần cùng kiệt quệ. Ngời ta cũng dễ thấy những
phẩm chất tốt đẹp,tinh thần phản kháng trớc áp bức của những ngời nông dân ấy qua
các tác phẩm của Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố.Bài học
hôm nay, sẽ giúp các em thấy đợc những điều cô vừa nêu trên.
Cách 4: Hấp dẫn học sinh bằng một hình tợng mới mẻ.
Đối với mỗi lứa tuổi, h/s đều có khát vọng khám phá cái đẹp trong cuộc sống.
Giới thiệu bằng cách này sẽ kích thích đợc trí tởng tợng của các em. Trong những tr-
ờng hợp này, cần đối lập cái gần với cái xa lạ, cái tầm thờng, thấp kém với cái cao th-

ơng không, có thành ngữ, điển tích, điển cố không ) để rút ra đặc sắc nghệ thuật của
văn bản,
- Tóm tắt văn bản(nếu là truyện) học thuộc lòng trớc(nếu là thơ),
- Phân đoạn văn bản,
Tìm chủ đề văn bản,
- Tìm các biện pháp nghệ thuật,
- Trả lời câu hỏi phần ''Đọc - Hiểu'',
- Thử giải các bài tập (Đối với tiếng Việt, tập làm văn).
Nhng nếu giáo viên không chú ý tới hình thức kiểm tra việc chuẩn bị bài của
học sinh thì coi nh không có tác dụng cho hoạt động học trên lớp.Yêu cầu giáo viên
phải có cách kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh. Làm tốt điều này, tất cả
các tiết học trên lớp đều khá thành công.
II.2.Một số kinh nghiệm về dạy truyện ký
Truyện, ký, thuộc tự phẩm tự sự ( văn xuôi trong nớc, ngoài nớc ) nhằm mục
đích mở rộng và nâng cao tâm hồn , tình cảm và t tởng cho học sinh. Bởi vậy, bằng
kinh nghiệm của bản thân tôi đã tiến hành nh sau:
- Trớc hết , cần cho học sinh tóm tắt tác phẩm ngắn gọn để nắm đợc cốt
truyện. Phần tóm tắt này có thể gọi một học sinh tóm tắt toàn bộ tác phẩm hoặc mỗi
học sinh tóm tắt một sự việc. Đây là một hoạt động vừa giúp học sinh củng cố cách
tóm tắt một văn bản tự sự vừa là tích hợp với tập làm văn.
- Chú ý đến yếu tố nghệ thuật đặc trng của truyện, ký để khai thác tác phẩm.
Một số yếu tố mà học sinh cần phát hiện:
+ Mâu thuẫn và kịch tính
VD: Mâu thuẫn và kịch tính giữa bản chất tốt đẹp của Vũ Nơng với sự đa nghi,
nhẫm tâm, thô bạo của Trơng Sinh ( Chuyện ngời con gái Nam Xơng ), giữa cái tin
làng chợ Dầu theo giặc với lòng yêu nớc của ông Hai ( Làng )
+ Chi tiết hàm chứa ý nghĩa
VD: Chi tiết hàm chứa ý nghĩa là cái bóng và lời nói của bé Đản ( chuyện ngời
con gái Nam Xơng ), cái thẹo trên mặt ngời cha ( chiếc lợc ngà )
+ Chân dung và tính cách nhân vật: nh Quang Trung, ông Hai, anh Sáu, Nhuận

cùng học sinh khám phá kiến thức mới
C. Những kiến nghị đề xuất.
Việc áp dụng có hiệu quả xu hớng dạy học theo sáng kiến trong điều kiện
không thỏa mãn những yêu cầu tối thiểu. Vì vậy để đạt đợc hiệu quả cao hơn, tôi có
một số kiến nghị đề xuất sau:
- Trong nhà trờng cần có phòng th viện đủ về số lợng và phong phú sách tham
khảo cho giáo viên và học sinh. VD: các tập thơ, tập truyện, chân dung các nhà văn
nhà văn nhà thơ về các tác giả, tác phẩm
- Các phơng tiện, thiết bị dạy học phải hoàn chỉnh về về phòng học, quy mô
lớp học, cơ sở vật chất
- Yêu cầu ngời học phải có kỹ năng khám phá biết lục tìm tài liệu ở th viện,
phải biết đọc sách và ghi chép, biết thảo luận và biết bảo vệ vấn đề trớc đám đông do
vậy nhà trờng, cần tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa cho học sinh để bàn về
cách học sao cho có hiệu quả.
Phần ba: Kết luận .
Qua 4 năm đợc học theo hớng " Hai tích" với chơng trình SGK mới phơng
pháp dạy học, của giáo viên thì học sinh đã có những dấu hiệu tích cực trong việc
thay đổi cáh học: thích đóng vai kể truyện, thích lập kế hoạch cho từng bài, thích trao
đổi tranh luận, thích đề xuất thắc mắc mong rằng sáng kiến kinh nghiệm này đợc
đông đảo bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến, áp dụng vào việc giảng dạy sao cho có
hiệu suất cao nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Nguyên lý, ngày 24 tháng 11 năm 2007
Ngời viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status