1 . MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển đi lên của mình, nhà Đường đã tạo nên một nền
văn học Trung Quốc phát triển mạnh mẽ trong đó thơ Đường đạt những thành
tựu vô cùng to lớn . Với gần 300 năm tồn tại người Trung Hoa đã tạo ra một nền
thi ca đồ sộ. Bộ “Toàn Đường thi ” thu thập được 48.900 bài của hơn 2300 nhà
thơ gắn với tên tuổi các nhà thơ lớn như : Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị ….Thơ
Đường được xem là di sản văn hoá cực kì quý giá, là đỉnh cao của thơ ca cổ điển
Trung hoa có tầm ảnh huởng hết sức sâu rộng.
Đến Việt Nam thơ Đường chiếm môt vị trí vô cùng quan trọng. Ngay từ khi
du nhập vào Việt Nam, thơ Đường đã được giới nhà nho, những “ Tao nhân mặc
khách” tiếp nhận một cách nồng nhiệt, ngưỡng mộ và xem đó như là chuẩn mực,
là tinh hoa thơ ca nên được nhanh chóng tiếp thu, học hỏi để nghiên cứu, sáng
tác. Cũng từ đấy trên diễn đàn Văn học Việt Nam bắt đầu xuất hiện một khuynh
hướng, một trào lưu sáng tác thơ Đường và không bao lâu cùng với các thể thơ
cổ truyền của dân tộc đã tạo nên diện mạo mới trên thi đàn Văn học Việt Nam .
Cho dù xét trong điều kiện lịch sử nào thì thơ Đường vẫn có tầm ảnh hưởng
nhất định đến giới thi nhân Việt Nam. Khi nói tới thơ Đường thì chúng ta nghĩ
ngay tới sự tiết kiệm lời, số lượng câu chữ trong một bài thơ hạn chế với những
quy định chặt chẽ về niêm, luật nhưng nội dung diễn đạt trong thơ rất phong
phú, giàu tầng bậc đã đạt tới độ cao, chiều sâu của tư tưởng .
Bản thân là giáo viên trực tiếp giảng dạy ở trường THCS Quảng Chính tôi
rất say mê, yêu thích những tác phẩm thơ sáng tác thời nhà Đường. Chính vì thế
để có thể truyền được nhiệt huyết ,đam mê của mình cho học trò là điều tôi luôn
trăn trở . Đây cũng chính là động lực để tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm hiểu đưa
ra “ Kinh nghiệm khi giảng dạy tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ
Văn 7-tập 1 tại trường THCS Quảng Chính”
1.2. Mục đích nghiên cứu
Hán Việt là lớp từ quan trọng trong môn Ngữ Văn. Vì vậy, việc học tập,
tìm hiểu từ Hán Việt là một hoạt động không thể thiếu – ngoài việc học về yếu
tố Hán Việt qua phân môn Tiếng Việt thì việc hiểu chữ Hán, từ Hán Việt trong
nghĩ của người xưa, nhất là cách diễn đạt ngôn ngữ cổ, bằng những từ Hán Việt
mà ngày nay ít được dùng và phổ biến trong thời đại “chữ quốc ngữ làm bá chủ”
thay cho thời nho học thuở xưa.
Thời gian quy định còn quá eo hẹp cho dạy một số tác phẩm, vì phải dạy
như thế nào để đảm bảo việc phân bố chương trình hiện nay? Phù hợp với
nguyên tắc tích hợp trong quá trình dạy Ngữ văn? Giải quyết vấn đề này không
đơn giản chút nào. Đây chính là mục đích tôi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
này.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Đểhọc sinh thật sự yêu thích, học tốt thơ Đường bản thân người giáo
viên thực sự phải đầu tư ,tìm tòi ,nghiên cứu mới có thể truyền nhiệt huyết say
mê đến cho các em. Đề tài của tôi mạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm bản
thân để giúp học sinh nắm rõ được những yêu cầu bắt buộc trong quá trình tìm
hiểu những tác phẩm thơ Đường mà tôi đã áp dụng trong chương trình Ngữ văn
7 – Năm học 2015-2016 tại học sinh lớp 7C trường THCS Quảng Chính.
a. Tìm hiểu đặc trưng thơ Đường :
b. Hướng dẫn học sinh cách đọc thơ Đường.
c. Đối chiếu phần dịch nghĩa, dịch thơ.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp khái quát, thống kê.
- Phương pháp thẩm bình.
.
2
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lý luận:
Những bài thơ Đường luật tuy chiếm một thời lượng không lớn trong
các tác giả đó là người Việt Nam cho nên từ cảnh vật đến tư tưởng, tình cảm,
cách nghĩ gửi gắm trong bài thơ “rất Việt Nam” còn những tác phẩm do các nhà
thơ đời nhà Đường sáng tác mang hơi thở, cách nghĩ, quan niệm nước khác dẫn
đến việc học sinh khó tiếp nhận một tác phẩm thơ Đường .
Khó khăn thứ nhất mà các em gặp phải đó là hệ thống ngôn ngữ. Đây là
bức rào cản đầu tiên khi giáo viên hướng dẫn cho học sinh tiếp cận văn bản .
Thứ hai về bản dịch : Một nguyên tác nhưng nhiều bản dịch khác nhau mà
bản dịch văn bản nước ngoài đặc biệt dịch thơ Đường thì thêm chữ và bớt nghĩa
là tất yếu, ta chưa thể nói sự bất cập về ngôn ngữ, thanh điệu, tiết tấu, ngắt nhịp ,
thể loại thơ được dịch khác với nguyên tác. Nên giữa bản dịch và nguyên tác có
3
độ “vênh” nhất định dẫn đến giá trị đích thực của tác phẩm sẽ bị hiểu chưa đúng
thậm chí là hiểu sai.
Khó khăn thứ ba về đặc trưng thơ Đường. Thơ Đường yêu cầu rất nghiêm
ngặt về niêm, luật, đối, bố cục... chính vì thế đòi hỏi học sinh phải nắm chắc
những yêu cầu đó một cách tương đối thuần thục thì mới có thể hiểu hết được
nội dung, ý nghĩa của bài thơ mà tác giả muốn gửi gắm vào đó.
Khó khăn thứ tư về khoảng cách thời gian vì những sáng tác tác giả Trung
Quốc cách xa chúng ta hàng mười mấy thế kỷ. Vì thế học sinh rất khó hình dung
được bối cảnh xã hội.
Nhưng bên cạnh khó khăn thì việc giảng dạy thơ Đường cũng có điểm
thuận lợi : Trong kho từ vựng Tiếng Việt chúng ta có nhiều từ vay mượn mà vốn
từ vay mượn nhiều nhất là từ Hán Việt nên phần nào chúng ta cũng hiểu và dịch
được nghĩa một số từ trong nguyên tác.
Tôi đã tiến hành khảo sát kết quả ở học sinh lớp 7C trường THCS Quảng
Chính, kết quả khảo sát thu được như sau:
Lớp
ngôn ngữ thơ Đường.
2.3.2.Thể thơ (chỉ mang tính chất tham khảo thêm vì cụm bài thơ Đường không
yêu cầu các em hiểu thêm về thể thơ Đường mà vận dụng kiến thức đã được
cung cấp về các thể thơ ở phần những bài thơ trung đại Việt Nam trước đó) .
Thơ Đường thường được viết theo ba thể cơ bản là nhạc phủ ,cổ thể (cổ phong),
Đường luật .Trong những bài thơ giới thiệu chương trình Ngữ Văn 7-Tập 1 về
sáng tác các nhà thơ đời nhà Đường có bốn bài được viết theo Đường luật (cụ
thể là tứ tuyệt), riêng bài của Đỗ Phủ làm theo cổ thể.
+ Thơ luật Đường: làm thơ lúc đầu không theo luật lệ nào cả đến cuối đời
sơ Đường quy định thành luật thơ rõ ràng và gọi là thơ luật Đường
4
Nếu tính theo số chữ trong dòng, thơ luật Đường có thể ngũ ngôn (mỗi
dòng năm chữ ), thất ngôn (mỗi dòng bảy chữ ). Nếu tính theo dòng có thể thơ
tứ tuyệt (ngũ ngôn tứ tuyệt,thất ngôn tứ tuyệt hoặc bát cú…)
Trong đó thể tứ tuyệt (toàn bài bốn dòng): là thể thơ có nhiều thành tựu
trong thơ Đường .Đặc điểm nổi bật của nó là hình thức nhỏ bé nhưng lại có khả
năng thể hiện những vấn đề hết sức lớn lao một cách sinh động ,độc đáo .Cô
đọng, hàm súc là tính chất nổi bật của tứ tuyệt .
+ Nhạc phủ : Có người quan niệm nhạc phủ là một dạng của cổ phong
,dạng có màu sắc dân gian của cổ phong . Thơ cổ phong không bị hạn chế về số
câu ,số chữ không bị gò bó về niêm, luật , cách gieo vần do đó có khả năng biểu
hiện nhiều sắc thái tình cảm phong phú cũng như phản ánh được những vấn đề
xã hội rộng lớn. Hầu hết những bài thơ tự sự nổi tiếng ở nhà Đường của các tác
giả như Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ đều viết theo thể cổ phong .
2.3.3. Bố cục : Nếu là bài thơ tứ tuyệt có thể chia theo nhiều cách : 1/1/1/1
(khai/khởi - thừa - chuyển - hợp), 2/1/1,1/3,3/1. Trong đó câu thứ ba và câu
kết bao giờ có ý nghĩa quan trọng. Dương Tải đời Nguyên cho rằng : “Câu hết
trọng, đó là yếu tố hoạ, nhạc "Thi trung hữu hoạ" hoặc "Thi trung hữu nhạc".Để
làm nổi bật được"bức tranh" trong bài thơ người ta sử dụng lối văn hình ảnh,
dùng từ ngữ gợi tả màu sắc, đường nét cho nổi hình trước mắt người xem. Bài
thơ"Xa ngắm thác núi lư ” (Vọng Lư Sơn bộc bố) là một minh chứng sống động.
Chính vì vậy trước khi tìm hiểu một bài thơ Đường tôi thường yêu cầu học
sinh tự tra những chú thích từ ở nhà, để khi đến lớp các em dễ dàng tiếp nhận tác
phẩm hơn cũng như vận dụng tìm hiểu chi tiết văn bản .
2.3.7. Các biện pháp nghệ thuật : trong số các biện pháp nghệ thuật nổi bật
trong thơ Đường phải kể đến nghệ thuật đối và tỉnh lược.
+ Nghệ thuật đối: Trong thơ Đường có rất nhiều loại đối nhưng chúng ta cần
chú ý đến tiểu đối nghĩa là cả hai vế đối cùng nằm trong một dòng thơ.
Chẳng hạn như trong bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê: “Thiếu
tiểu li gia /lão đại hồi –Hương âm vô cải /mấn mao tồi –Nhi đồng tương kiến
/bất tương thức ”. Khi tìm hiểu chú ý phép đối trong thơ sẽ chỉ ra được các mối
quan hệ cũng như cái hay của bài thơ
Ví dụ khi phân tích câu thứ hai của bài thơ : Hương âm vô cải mấn mao tồi
HS chỉ ra được phép đối trong đó và tác dụng ?
Nghệ thuật : tiểu đối
Hương âm vô cải >
dạy không cho phép, tôi đã tiến hành tổ chức cuộc xê mi na tại lớp về việc học
và tiếp cận thể thơ Đường luật sau khi học các tác phẩm thơ trung đại Việt
Nam . Qua tiết xê mi na đó các em có thể trao đổi với nhau những hiểu biểt về
thể thơ (Về cách ngắt nhịp, luật, cách hiệp vần, bố cục, phép đối …), góp phần
tạo thuận lợi ban đầu để sau này khi các em lên lớp 8 học văn thuyết minh về
một thể loại văn học.
Trên đây là một số kinh nghiệm khi tìm hiểu một bài thơ Đư ờng nhưng để
vận dụng vào từng bài cụ thể còn cần phải có sự sáng tạo của từng giáo viên ở
từng lớp
7
2.4. Giáo án minh họa
Tiết 37
CẢM NGHĨ TRONG ĐÊM THANH TĨNH
(Tĩnh dạ tứ )
“Lí Bạch”
A.Mục tiêu cần đạt :
1. Kiến thức
- Các ĐTHS: Những nét sơ giản về tác giả Lí Bạch.
-HS khá: Vẻ đẹp độc đáo, hùng vĩ, tráng lệ của thác núi Lư qua cảm nhận
đầy hứng khởi của thiên tài Lí Bạch, qua đó phần nào hiểu được tâm hồn
phóng khoáng, lãng mạn của nhà thơ.
- Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ.
- HS khá: Thấy được tác dụng của nghệ thuật đối và vai trò của câu đối trong
một bài thơ tứ tuyệt .
thiên nhiên tha thiết thì làm sao Lí Bạch không thể không chạnh lòng nhớ đến
quê hương khi nhìn lên bầu trời thấy vầng trăng sáng vào một đêm khuya thanh
9
tĩnh . Và nỗi sầu xa xứ đựơc tác giả thể hiện trong bài thơ “Cảm nghĩ trong đêm
thanh tĩnh ”.
Hoạt động của GV và HS
GV cho HS đọc chú thích *
Câu 1: Các ĐT HS nhắc lại vài nét
chính về tác giả Lí Bạch (đã giới
thiệu ở bài trước bài Xa ngắm
thác núi Lư ) và chủ đề thường
xuất hiện nhiều trong thơ Lí Bạch .
Câu 1 : Từ các dấu hiệu về số
câu, số chữ, cách hiệp vần và dựa
vào chú thích * cho biết bài này
viết theo thể thơ nào ? Giới thiệu
lại đôi nét về thể thơ đó .
GV bổ sung : Thông thường trong
luật thơ Đường nghiêm ngặt với
các chữ thứ nhất, ba, năm là bằng
hay trắc đều được, nhưng các chữ
Nội dung kiến thức
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả
trắc (thị , thượng ); trong câu thứ ba
,chữ thứ hai và thứ tư đều là bằng
(đầu ,minh); trong câu thứ ba và b. Đọc – chú thích từ khó :
thứ tư cả hai chữ thứ hai đều là HS đọc lại phần nguyên tác dịch nghĩa
bằng (đầu , đầu)
và dịch thơ
Giáo viên đọc mẫu một lần: đọc
diễn cảm để học sinh có ấn tượng
bài thơ.
( Lưu ý : giọng đọc chậm, buồn,
tình cảm , nhịp 2/3)
GV gọi HS đọc phiên âm ,dịch thơ
Câu 3: Đối chiếu thể thơ ở phần
phiên âm và dịch thơ : đều là ngũ
ngôn tứ tuyệt song ở phần dịch thơ
câu đầu không gieo vần .Thể thơ
cũng như cách gieo vần bản dịch
thơ hoàn toàn giống với văn bản
“Phò giá về kinh ”(Tụng giá hoàn
kinh sư )
Câu 4: Giáo viên kiểm tra sự
chuẩn bị bài ở nhà của HS qua hỏi
một số nghĩa từ khó
GV bổ sung : Trong bốn bài thơ
tuyệt cú ở cụm thơ Đường thì đây
là bài đơn giản,dễ hiểu nhất . Cả
11
bài (kể cả đề ) chỉ dùng 23 chữ mà
- Minh nguyệt quang : ánh trăng sáng Địa thượng sương : sương mặt đất
12
Câu 8. Nếu thay từ “sàng ”
(giường ) bằng một số từ khác như
từ án ,đình và thay từ “nghi” (ngỡ
là) thì ý nghĩa câu thơ có thay đổi
không ? Thay đổi như thế nào
Câu 9. HS khá: Theo em có phải
hai câu đầu chỉ đơn thuần tả cảnh
không
+ HS đọc diễn cảm hai câu sau
Câu 10. Tác giả không chỉ yêu
trăng mà qua đó bộc lộ tâm sự “
Tức cảnh sinh tình ” . Đó là tâm
tình gì .Thể hiện qua từ ngữ nào
Câu 11. HS khá: Theo em lí do gì
khiến Lí Bạch nhớ quê
- Thay đổi vì người đọc có thể nghĩ là tác
giả đang ngồi đọc sách .Chữ “sàng” cho
biết vị trí nhà thơ đang nằm trên giường .
Nằm giường không ngủ thấy ánh trăng
xuyên qua cửa . Vì trăng quá sáng chuyển
thành màu trắng giống như sương là một
điều có thể. Chữ “ nghi”, “sương” xuất
hiện tự nhiên ,hợp lý → thể hiện sự tinh tế
trăng đầu giường đến chỗ thấy cả
vầng trăng xa .Và khi đã thấy cả
vầng trăng - cũng đơn côi , lạnh lẽo
như mình lập tức nhà thơ lại cúi
đầu không phải để nhìn một lần
nữa “sương trên mặt đất” mà để
nhớ quê, nghĩ về quê xa . “Ngẩng
đầu ”, “cúi đầu ”,chỉ trong khoảnh
khắc đã động đến mối tình quê
.Qua đó ta thấy tình cảm tác giả
dành cho quê hương như thế nào ?
Câu 15.Vầng trăng sáng khơi gợi - Nỗi nhớ quê hương: sâu nặng ,da diết
nỗi nhớ quê của tác giả . Nhưng ,thường trực trong lòng tác giả
vầng trăng sáng còn soi tỏ tấm -Tấm lòng quê mãi mãi như vầng trăng
lòng quê của nhà thơ. Đó là tấm sáng
lòng quê như thế nào ?
GV bổ sung : Lý Bạch mượn vầng
trăng để bày tỏ tấm lòng trong sáng
của mình đối với quê hương
Câu16.Các ĐTHS : Tác giả sử
dụng biện pháp nghệ thuật gì thể
hiện nỗi nhớ quê hai câu cuối .Tác
dụng
GV bổ sung : Sự sáng tạo nhà thơ
đưa vào hai cụm từ đối nhau “cử
đầu ”và “đê đầu ”để hình dung cái
cách “vọng minh nguyệt ” và “tư cố
hương ”ấy.
là hiện tượng đặc biệt chỉ có riêng
bài thơ này mà phổ biến trong thơ
cổ phương Đông và một số thể loại
văn học dân gian nhất là tục ngữ
.Việc lược bỏ chủ ngữ - đặc biệt đại
từ xưng hô ngôi thứ nhất –làm cho
ta có thể hiểu đó không chỉ là tâm
trạng của Lí Bạch mà cũng là tâm
trạng của nhiều người ở cùng thời,
thậm chí ở nhiều thời đại khác nhau
cũng vẫn tìm thấy sự cộng hưởng,
đồng cảm với nhà thơ. Đó cũng
chính là tính điển hình của cảm xúc
trong thơ trữ tình
ngoại cảnh,để nhìn trăng
“Cúi đầu” lần thứ hai là hướng vào
lòng mình, trĩu nặng suy tư
- Đúng vì cho dù hai câu cuối chỉ có ba
chữ tả tình “tư cố hương” nhưng tâm trạng
tư cố hương được thể hiện qua tư thế ,cử
chỉ và đặc biệt xúc cảm nhà thơ được dồn
nén ,thể hiện rõ nhất ở câu thứ tư - câu thơ
cuối cùng .
III. Tổng kết:
1. Nội dung :
- Tình yêu quê hương da diết ,sâu nặng
trong tâm hồn ,tình cảm người xa quê.
2. Nghệ thuật :
Sử dụng biện pháp đối ,hình ảnh thơ gần
số
32
Số HS say mê hứng thú
SL
%
24
72.4
Số HS chưa say mê hứng thú
SL
%
8
27.6
Bên cạnh đó góp phần bổ sung thêm kiến thức các phân môn:
Tiếng Việt: Các em mở rộng thêm vốn từ Hán Việt .
Tập làm văn: Từ cảm thụ tốt tác phẩm thơ đường giúp các em dễ dàng hơn
khi tiến hành làm bài văn phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm thơ Đường.
Văn bản: Các em yêu quý hơn về các tác phẩm thơ Đường.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
16
1. Kết luận :
Dạy và học về văn chương thơ Đường luật, theo tôi, dẫu là một tiết học
Qua kinh nghiệm trên tôi thấy giảng dạy thơ Đường dễ mà khó, quen mà lạ
. Với khó khăn hiện nay như về vốn ngôn ngữ vì trình độ ngoại ngữ đặc biệt
Trung Văn của giáo viên gặp nhiều hạn chế nên không có khả năng tự dịch từ
nguyên tác để dạy, về sự hiểu biết văn hoá Trung Quốc còn chưa cao, về bản
dịch … tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài kiến nghị sau :
- Cần có sự trao đổi nhiều hơn nữa, cần tạo ra những cuộc “xê mi na” về thơ
Đường ở các cấp cụm , huyện như cử đại diện trường dạy tác phẩm thơ Đường
sau đó giáo viên các cụm hoặc các chuyên viên phòng nhận xét, rút ra một cách
tiếp cận chung khi giảng dạy tác phẩm thơ Đường
17
.
- Tạo những phương tiện vật chất phục vụ giảng dạy thơ Đường như tranh ảnh
, đầu tư thêm tài liệu nghiên cứu …..
- Tổ chức cho giáo viên đi thực tế am hiểu hơn “chất liệu” tạo nên tác phẩm ,
hiểu biết văn hoá Trung Quốc giúp bài giảng được sâu sắc hơn .
- Đối với giáo viên không ngừng tự trau dồi vốn kiến thức về thơ Đường,
không ngừng học hỏi đồng nghiệp để bổ sung thêm kho tri thức của mình.
Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nhỏ của bản thân khi giảng dạy một
tác phẩm thơ Đường ở tại trường của mình tôi xin trình bày để đồng nghiệp
cùng tham khảo và cho tôi ý kiến góp ý, bổ sung để sáng kiến của tôi được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn .
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, Ngày 25 /3 /2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung