SKKN một số biện pháp giảng dạy thơ Đường trong chương trình Ngữ văn 7 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7 "
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của
con người. Là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, môn văn có tính thiết yếu trong
việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Trong thời đại hiện nay, khoa
học kĩ thuật phát triển nhanh như vũ bão cho nên đôi lúc con người có thể bị cuốn theo
những tri thức khoa học mà quên đi cảm xúc đời thường. Những lúc như vậy môn văn sẽ
giữ lại tâm hồn con người những tình cảm nhân văn để con người tìm đến với con người,
để trái tim hòa cùng nhịp đập với trái tim. Không chỉ thế học tốt môn văn sẽ tác động
tích cực tới các môn học khác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt
môn văn. Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn kiến thức
với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống. Muốn vậy, mỗi giáo viên phải
có phương pháp dạy học phù hợp với từng bộ môn nhằm nâng cao trình độ kiến thức cho
học sinh, đặt cơ sở vững chắc cho các em tiến lên cấp học cao hơn.
Đối với môn Ngữ văn sau khi đổi mới và thực hiện đồng bộ trên cả nước, phần lớn
giáo viên văn không khỏi băn khoăn, trăn trở, đang từng ngày từng giờ mày mò và tìm
kiếm cho mình một phương pháp dạy học phù hợp, hấp dẫn cho từng kiểu bài, cho từng
thể loại.
Ở chương trình ngữ văn 7 học sinh được tìm hiểu một số bài thơ Đường (của tác giả Việt
Nam và Trung Quốc). Đây cũng là phần văn học chiếm vị trí quan trọng trong chương
trình Ngữ văn 7. Song khi thực hiện giảng dạy tôi thấy học sinh gặp không ít khó khăn
trong việc tiếp nhận tri thức. Khó khăn thứ nhất mà các em gặp phải đó là hệ thống ngôn
ngữ. các bài thơ Đường luật ngôn ngữ dùng với nhiều hình ảnh: ước lệ, tượng trưng, điển
cố, điển tích, từ ngữ Hán Việt rất xa lạ với học sinh THCS. Khó khăn thứ hai mà tôi
2
nhận thấy đó là những bài thơ Đường luật có yêu cầu rất nghiêm ngặt về niêm luật, đối,

7b-7c, tôi thấy học sinh của ba lớp có khả năng tiếp thu bài nhanh, một số học sinh có
năng khiếu về văn chương. Các em có tinh thần học tập ham học hỏi, hăng say phát biểu
ý kiến xây dựng bài, chuẩn bị bài tương đối đầy đủ khi lên lớp. Bản thân tôi nhận được
sự giúp đỡ tận tình của đồng nghiệp. Tham gia đầy đủ các lớp học chuyên đề để nâng
cao trình độ nghiệp vụ theo kịp với xu thế đổi mới của nền giáo dục nước nhà. Hiện nay
tài liệu tham khảo nhiều giúp ích rất nhiều trong công tác giảng dạy của giáo viên. Song
bên cạnh những thuận lợi đó còn có một số những khó khăn khi tham gia thực hiện đề tài.
b. Khó khăn:
Như trên tôi đã nói với trình độ nhận thức của học sinh lớp 7 để tiếp cận, chiếm lĩnh nội
dung các tác phẩm về thể loại thơ Đường quả là một vấn đề rất khó khăn trong việc tiếp
thu khiến thức, chiếm lĩnh tác phẩm. Qua thực tế dự giờ, học hỏi kinh nghiệm, qua các
tiết thao giảng khi dạy các bài thơ Đường thấy kết quả chưa cao, một số em thậm chí
không nắm được nội dung bài học.
Hiện tại môn Ngữ văn đã có tài liệu tham khảo nhưng các trang thiết bị như tranh ảnh …
của một số tác phẩm có đoạn trích được học trong sách giáo khoa ở thư viện không có,
do đó rất khó khăn cho học sinh hình dung được nội dung của tác phẩm. Hiện nay do
xu thế của xã hội nên học sinh xem nhẹ các môn KHXH trong đó có môn Ngữ văn dẫn
đến chất lượng học tập không cao. Thấy được những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã cố
4
gắng khắc phục nghiên cứu để ứng dụng những kinh nghiệm mà trong thực tế tôi đã áp
dụng và đã thu được những kết quả nhất định trong quá trình giảng dạy.
3. CÁC BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH
Thơ Đường vốn rất xa lạ với học sinh THCS về tư tưởng, về nghệ thuật và về quan điểm
thẩm mỹ, tuy nhiên dạy học thơ Đường về đại thể không có gì khác so với dạy học các
tác phẩm văn học hiện đại nói chung, vẫn đi theo trình tự các phần các mục của một giờ
văn học. Song do tính đặc thù của thơ cổ trong quá trình giảng dạy tôi đã tiến hành một
số biện pháp sau:
3.1. Giúp học sinh tiếp cận tốt tác phẩm:
Tiếp cận tác phẩm là một bước cực kì quan trọng khi dạy và học một tác phẩm văn
chương nói chung và đặc biệt là đối với một bài thơ Đường nói riêng. Bấy lâu nay phần

trong văn bản nghệ thuật ngôn từ, hình thành ở các em nhu cầu cảm nhận, xúc cảm và
rung động chân thành trước mỗi cái hay cái đẹp toát ra từ mỗi âm thanh, nhịp điệu, âm
hưởng của bài thơ với mục đích đó khi hướng dẫn đọc tôi hướng dẫn đọc một cách cặn
kẽ, hướng dẫn các em đọc sáng tạo, chú ý cách ngắt nhịp, giọng thơ…Sau đó tôi đọc mẫu
cả đoạn thơ hoặc một vài câu thơ, cũng có thể cho các em cảm thụ bài thơ qua các giọng
đọc của các nghệ sĩ mà mình sưu tầm, thu âm đươc…
c. Hiểu nghĩa các yếu tố Hán Việt.
6
Nắm được nghĩa các yếu tố Hán Việt giúp các em bước đầu nắm được nội dung bài thơ.
Các phần chú giải văn bản, giải thích từ Hán Việt các điển tích điển cố trong bài thơ
chính là phá vỡ hàng rào ngôn ngữ, rút ngắn khoảng cách giữa học sinh và các điều đại
lịch sử. Việc nắm chắc nghĩa các yếu tố Hán Việt tạo cơ sở cho học sinh hiểu một cách
khái quát nghĩa của từng câu thơ để từ đó hiểu được nội dung tác phẩm cao hơn là học
sinh biết vận dụng để giao tiếp phù hợp với văn cảnh.
Sách giáo khoa Ngữ văn đã giải nghĩa các yếu tố một cách cơ bản, nhưng với những từ
khó hoặc những từ dễ nhầm lẫn, bởi vậy khi lên lớp tôi lấy thêm ví dụ để học sinh dễ
hiểu. Sử dụng lời giảng thuật để dẫn dắc học sinh tiếp cận văn bản. Sau khi nắm chắc
nghĩa từng yếu tố và nghĩa từng câu. Các em phải biết so sánh phân biệt phần dịch thơ
với nguyên tác. Bởi vì không phải phần dịch thơ nào cũng đạt tới “mười phân vẹn mười”.
Từ đó bước đầu các em cảm nhận được vẽ đẹp của tác phẩm, thấy được nét độc đáo trong
tâm hồn, phong cách nghệ thuật của từng câu thơ. Ví dụ: Trong bài “Vọng Lư Sơn bộc
bố” ở câu 1: Quan hệ ý nghĩa giữa hai vế trong câu là quan hệ nhân quả, chủ thể xuyên
suốt là mặt trời. Ơ phần dịch thơ, vế sau thành cụm C – V “khói tía bay”, mối quan hệ
nhân quả trên đã bị xoá bỏ, không khí huyền ảo đã bị xua tan. Còn ở câu 3: Phần dịch thơ
đã bỏ mất di từ “quải” nên ấn tượng do hình ảnh dòng thác gợi ra trở nên mờ nhạt, hình
ảnh liên tưởng ở câu cuối thiếu cơ sở.Hay ở bài “Tĩnh dạ tứ” tác gỉ cảm nhận được ánh
trăng sáng qua tư thế nằm trên giường từ “ sàng” ngĩa là “ Giường” nói lên điều đó. Nếu
thay từ “ đình ” có nghĩa là sân hoặc những từ ngữ khác thì ý nghĩa của câu thơ sẽ bị
giảm sút. Không còn sợ thao thức , trăn trọc khi nghĩ về quê hương yêu dấu. Khi dạy bài
thơ này tôi không thể không cho các em hiểu nghĩa cụm từ và cũng là cảm hứng chủ đạo

công tác dạy học môn Ngữ văn nói chung và thơ Đường nói riêng. Vì vậy khi dạy chùm
thơ Đường trong sách Ngữ văn 7 nếu giáo viên xác định đúng các yếu tố thi pháp thì lúc
ấy giáo viên mới mở được cánh cửa để học sinh đi vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm.
Vậy nói đến thi pháp thơ Đường chúng ta nói đến những điều gì? Trong phạm vi đề tài
này tôi chỉ đưa ra một số yếu tố thi pháp cần thiết cho việc dạy phần thơ Đường trong
sách Ngữ văn 7.
a. Con người trong thơ Đường.
Con người là chủ thể, là đối tượng, đồng thời cũng là mục đích cứu cánh của văn học.
Sáng tác văn học là một hoạt động phản ánh và thể hiện con người. Con người là yếu tố
trung tâm, chi phối các yếu tố thi pháp khác. Bởi thế xác định được con người trong thơ
Đường là xác định được nội dung chính, tư tưởng, thông điệp của bài thơ. Ví dụ: Trong
bài “Vọng Lư Sơn bộc bố” và “Tĩnh dạ tứ” ta thấy con người xuất hiện ở đây là con
người vũ trụ, luôn khát vọng và hoà hợp với thiên nhiên. Cả không gian bao la của dãy
núi Lư Sơn như thu vào tầm mắt của Lý Bạch. Từ đó ta có thể thấy được đây là người
yêu thiên nhiên, ưa tự do, phóng khoáng, lãng mạn như một “Tiên thi”.
Trong bài: “Mao ốc vị thu phong sở phá ca” con người xuất hiện ở đây lại là con người
đời thường, con người hành động, con người chịu nhiều những biến cố thăng trầm, những
bon chen của của cuộc sống vì vậy họ đề cao cái tâm hơn. Đó là tình cảm, hoài niệm, ưu,
sầu, oán, hận, khát vọng cuộc sống ấm no, tươi đẹp không chỉ cho mình mà còn “khắp kẻ
sĩ nghèo trong thiên hạ “qua đó bộc lộ được tính nhân văn giữa con người với con người
9
mà chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng đủ tác động sâu sắc đến tình cảm, lẽ sống. Như vậy nắm
được chủ thể trong thơ Đường nghĩa là nắm được linh hồn của văn bản. Khi khai thác văn
bản học sinh sẽ tiếp thu nhanh nhất bức tranh tâm trang của nhà thơ, từ đó nắm được
thông điệp mà tác giả nhắn gửi trong tác phẩm. Muốn được như vậy ngoài các phương
pháp truyền đạt kiến thức của một giờ Ngữ văn tôi còn hướng dẫn học sinh nắm bắt kiến
thức bằng việc kết hợp sử dụng kênh hình, từ kênh hình sử dụng các câu hỏi gợi lên trí
tưởng tưởng để các em hình dung trước mắt mình hình ảnh con người với những mối
quan hệ tổng hòa trong xã hội.
b. Không gian và thời gian.

Ngang buổi xế tà (đã chuẩn bị cho toàn bài)
+ Phần thực gồm câu 3, 4 đối nhau có nhiệm vụ triển khai ý tứ của đề như tả cảnh, tả việc
hoặc cách nghĩa sự việc cho phần tiếp theo.
“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”
(Hai câu tả cảnh đã ngầm ý luận)
+ Phần luận: Gồm câu 5, 6 cũng đối nhau có nhiệm vụ bình luận, nhận định.
11
- Thông thường triển khai tứ, ý ở hai câu thực và có khi lộn với hai câu luận, nếu hai câu
thực đã ngầm ý luận.
"Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà mỏi miệng cái da da.”
- Ở đây tác giả vẫn tiếp tục tả cảnh nhưng ngụ tình theo nghệ thuật thừa ý, chuyển ý.
- Phần kết: Gồm câu 7, 8 với chức năng khép bài nhưng thường không khép kín mà gợi ý
có khi gợi ra một ý mới.
“Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta"
+ Qua các phần đề, thực, luận kết cấu tứ của bài thơ ngày càng rõ dần theo một trình tự
lô gíc, cảm xúc của tác giả cũng dần được bộc lộ qua kết cấu.
- Giữa thực và luận nhiều khi ranh giới cũng không rõ ràng tách bạch. Bởi thế khi phân
tích cũng không tách ra một cách máy móc.
- Còn giữa đề và kết lại có quan hệ mật thiết từ hình thức đến nội dung: Về hình thức thì
hai câu đề và câu kết cũng có hệ thống thanh bằng, thanh trắc trùng nhau.
"Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng chợ thời xa.
………………………
Đầu trò tiếp khách trầu không có
Bác đến chơi đây ta với ta"
12
Về nội dung thì câu đề giới thiệu ý của bài, câu kết vừa khái quát được ý vừa gây được

- Các chữ không dấu và chỉ có dấu huyền: thuộc thanh bằng.
- Các chữ có dấu sắc, nặng, hỏi, ngã: thuộc thanh trắc.
- Các chữ thứ nhất, ba, năm là bằng hay trắc đều được, nhưng các chữ thứ hai, tư, sáu
phải theo đúng luật bằng trắc.
- Trong các câu thơ các chữ thứ 2,4, 6 phải đối thanh.
Nếu chữ thứ 2 là bằng thì chữ thứ thứ 4 là trắc → chữ thứ 6 là bằng. Nếu chữ thứ 2 là trắc
→ chữ thứ 4 là bằng → chữ thứ 6 là trắc.
- Nói cách khác trong mỗi câu thơ chữ thứ hai và chữ thứ 6 phải đồng thanh, chữ thứ 4
phải đối thanh với chữ thứ 2 và chữ thứ 6.
- Cặp câu 1 và 4, cặp câu 2 và 3 thì các chữ thứ 2,4, 6 phải đồng thanh (cùng trắc hoặc
cùng bằng)
- Chữ thứ 2 câu 1 là bằng.
- Ví dụ : "Thân em vừa trắng lại vừa tròn.
14
B T B
Bảy nổi ba chìm với nước non.
T B T
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn.
T B T
Mà em vẫn giữ tấm lòng son."
B T B
- Chữ thứ 2 câu 1 là trắc.
Ví dụ: Bài thơ "Thiên trường vãn vọng" của Trần Nhân Tông.
"Thôn hậu thôn tiền đạm tử yên
T B T
Bán vô bán hữu tịch dương biên
B T B
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
B T B
Bạch lộ song song phi hạ điền."

Tóm lại xác định được các yếu tố thi pháp là một việc, nhưng cái quan trọng ở đây là
cách vận dụng sát hợp với đối tượng học sinh lớp 7 với những khái niệm còn xa lạ của thi
pháp thơ Đường trong từng bài cụ thể. Để có thể đưa những vấn đề cao xa, trừu tượng
của thi pháp thơ đường vào đầu óc non trẻ, cảm tính của các em nhỏ, có thể đưa bằng
nhiều cách như: cụ thể hoá, cảm tính hoá, thậm chí trực quan hoá các khái niệm thi pháp
thơ Đường trong quá trình dẫn dắt và tiến hành dạy các bài thơ.
Khi vận dụng các yếu tố thi pháp phải linh hoạt, phù hợp với từng bài thơ. Không cứng
nhắc, áp đặt. Làm thế nào để học sinh nắm bắt được nội dung cũng như giá trị nghệ thuât
của bài thơ. Gây được sự hứng thú khi học thơ Đường, biến cái khó thành cái bình
thường, từ chỗ chán nãn đến chỗ ham thích, say mê nghiên cứu thơ Đường.
4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIÊM.
Trước khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi nhận thấy nhìn chung các em tiếp nhận
những tác phẩm thơ Đường luật còn rất lúng túng, tâm lý không thích học thể loại này
mấy. Tôi đã tiến hành khảo sát một số tiết dạy ở ba lớp 7 mà tôi trực tiếp giảng dạy
Hình thức và nội dung khảo sát.
- Yêu cầu học sinh tìm hiểu nghĩa của những từ Hán Việt trong bài thơ “Ngẫu nhiên viết
nhân buổi mới về quê.”
- Sử dụng phiếu học tập và các câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra việc nắm bắt kiến thức
của học sinh.
- Tiến hành kiểm tra viết để đánh giá khả năng nhận thức của học sinh kết quả khảo sát
chất lượng ở hai lớp 7A và 7B (năm học 2010 -2011) như sau:
Lớp Số bài
Điểm 0→ 4 Điểm 5→ 6 Điểm 7→
Điểm 9
17
8
→10
7A 31 14
45,1
%

các em học tập.
Trên đây là một số vấn đề mà trong quá trình học tập, tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng
trong quá trình giảng dạy đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn nhằm nâng cao chất
lượng học tập của học sinh mà tôi mạnh dạn đưa ra để các bạn đồng nghiệp, quý thầy cô
cùng tham khảo và đúc rút thêm kinh nghiệm.
Tất nhiên trong đề tài nghiên cứu sẽ có nhiều vấn đề chưa hợp lý, chưa giải thích một
cách thoả đáng. Vậy nên tôi rất mong các bạn đồng nghiệp, các quý thầy cô đóng góp ý
kiến xây dựng cho đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn, để việc vận dụng đổi
mới phương pháp dạy học ngày một đạt kết quả tốt hơn, đúc rút được nhiều bài học kinh
nghiệm quý báu đáp ứng được nhu cầu của nền giáo dục hiện tại.
Mục đích cuối cùng của đề tài là tôi muốn góp một phần nhỏ vào sự nghiệp GD huyện
nhà, tỉnh nhà những biện pháp dạy học có tính thiết thực bồi dưỡng thêm phương pháp
dạy học môn Ngữ văn. Một lần nữa tôi rất mong được các đồng nghiệp đánh giá, bổ sung
để đề tài có thể áp dụng rộng rãi.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status