PGD & ĐT HUYỆN KRÔNG BUK
TRƯỜNG TH TÔN ĐỨC THẮNG
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh
Năm học : 2013 - 2014
PHẦN THỨ NHẤT : ĐẶT VẤN ĐỀ
1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất là trau
dồi ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho học sinh những tri thức Việt ngữ học và quy tắc
sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp.
Trong các phân môn của bộ môn Tiếng Việt, chính tả là một trong những phân môn
có vai trò quan trọng, bởi đây là phân môn hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng viết.
Rèn chữ viết chính tả cung cấp cho học sinh biết quy tắc chính tả và thói quen viết chữ ghi
âm Tiếng Việt đúng và chuẩn. Nắm vững chính tả học sinh mới có thể nói được, viết được,
nói hay, viết hay… góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, thứ của cải vô cùng
quý báu của dân tộc ta.
Sự thống nhất chính tả thể hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ. Chính tả có thống
nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa các địa phương, cũng
như giữa các thế hệ với nhau.
Mục tiêu đầu tiên của giáo dục tiểu học là rèn luyện cho học sinh kỹ năng “đọc
2
người, người ta vẫn thường có câu: “Văn hay không bằng chữ tốt”. Chính vì vậy yêu cầu
đặt ra trong việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết là làm sao phải đảm bảo được người đọc
hiểu đúng hoàn toàn ý nghĩa, nội dung trong văn bản của người viết. Viết đúng chính tả là
giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong việc học tập các
môn học khác trong nhà trường. Để đạt được yêu cầu này trên lĩnh vực chữ viết phải được
thể hiện một cách thống nhất trên từng con chữ, từng âm tiết Tiếng Việt. Nói một cách
khác là mỗi âm vị sẽ được thể hiện bằng một hay một tổ hợp chữ cái đồng thời mỗi từ
cũng có một cách viết nhất định, thống nhất trong cộng đồng người Việt.
Về cơ bản chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng một
con chữ. Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt là thống nhất với
nhau. Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy. Trong giờ chính tả, học sinh sẽ xác định được
cách viết đúng ( viết đúng chính tả) bằng việc tiếp nhận chính xác âm thanh của lời nói(
hình thức chính tả nghe- viết). Cơ chế của cách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa
âm thanh và chữ viết. Giữa đọc và viết, giữa tập đọc và viết chính tả (chính tả nghe – viết:
tức là nghe đọc để viết lại) có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng lại có quy trình hoạt
động trái ngược nhau. Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm thanh thành
văn bản viết. Có như vậy, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu đúng hoàn
toàn nội dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất như thế còn gọi
bằng thuật ngữ quen thuộc là: chính tả. Bởi theo nghĩa gốc thì “chính tả” tức là “ phép
viết đúng” hay “ lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “ có tính kỉ luật, tính cẩn thận và
óc thẩm mĩ”.Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt, chữ viết, cách
biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả.
Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả như thế nên
phân môn chính tả đã được đưa vào chương trình giảng dạy của trường phổ thông. Cụ thể
ở đây là các lớp bậc tiểu học, phân môn chính tả đã được giảng dạy ở tất cả các lớp trong
bậc học tiểu học (trừ học kì I của chương trình lớp 1 là chưa dạy) với nhiều hình thức
chính tả khác nhau: Từ chính tả nhìn bảng, nhìn sách để chép (ở cuối lớp 1 và đầu lớp 2)
rồi đến chính tả so sánh, chính tả nghe- viết, chính tả nhớ-viết. Với những hình thức chính
- Năm học 2013 – 2014 này tôi được phân công phụ trách lớp 4A1 trường tiểu học
Tôn Đức Thắng . Hầu hết học sinh lớp tôi đều là người miền Trung nên các em phát âm
theo tiếng địa phương quá nhiều. Các em còn viết theo sự phát âm của mình nên dẫn đến
viết sai chính tả
- Học sinh miền Trung chúng ta thường mắc các lỗi phổ biến là các tiếng có vần :
En / ăn / eng / ăng
Am / om / ân / âng
Un / uôn / uông
- Hoặc tiếng có phụ âm đầu là: c / k; s / x; gi / d; ng / ngh; g / gh.
- Các tiếng có phụ âm cuối c / t; n / ng.
- Thanh hỏi và thanh ngã.
- Bên cạnh đó còn một số em chưa nắm được cách ghép âm, vần nên dẫn đến các em viết
sai chính tả rất nhiều.
* Qua khảo sát chất lượng đầu năm học 2013-2014, kết quả phân môn chính tả của lớp tôi
như sau:
Tổng số bài được khảo sát là: 15 bài.Trong đó:
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
0/ 15 bài 1 / 15 bài 9 / 15 bài 5 / 15 bài
4
Do xác định được vai trò và tầm quan trọng của việc rèn chữ viết cho học sinh tiểu
học, tôi đã tìm hiểu vấn đề này. Trước hết nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho các em.
Đồng thời cũng góp phần đúc rút kinh nghiệm và làm phong phú thêm một số biện pháp
chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường. Rèn cho học sinh có kỹ năng: đọc, nghe, nói, viết
thành thạo. Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “ Một số biện pháp giảng dạy phân môn chính
tả lớp 4 ”.
2.Thực trạng lỗi chính tả về âm, vần, dấu thanh.
Ở bậc tiểu học, môn Tiếng Việt có các phân môn như: Tập đọc; Luyện từ và câu;
Tập làm văn; Tập viết; Kể chuyện; Chính tả. Phân môn chính tả có nhiệm vụ : “ Cung cấp
cho học sinh các quy tắc viết đúng và rèn luyện để các em có kỹ năng và thói quen viết
đúng chính tả, rèn luyện cho học sinh một số phẩm chất: Tính kỉ luật, tính cẩn thận( vì
- Học sinh chưa cẩn thận trong khi viết bài còn viết hoa hoặc không viết hoa tuỳ thích.
Muốn khắc phục được những hạn chế, thiếu sót đó người giáo viên cần bổ sung,
điều chỉnh mục tiêu môn chính tả sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ
5
trách và nhắc nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh thường viết sai, thường gặp trong các
môn học khác để học sinh hiểu nghĩa của từ và luôn viết đúng chính tả. Hơn nữa khi đọc
bài các em thường đọc chưa chính xác các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã, vần en/eng;
ên/ênh,âm cuối c/t… Vì thế cho nên khi viết hay nhầm lẫn, giáo viên cần phân tích rõ ràng
cho học sinh hiểu để tránh viết sai. Trong khi viết chính tả cần phân tích, so sánh để học
sinh nắm được nghĩa của từ thì học sinh mới viết đúng mọi lúc, mọi nơi. Như vậy bằng
phương pháp này học sinh sẽ có thói quen viết chính tả theo nghĩa của từ.
4.Kết quả thống kê lỗi.
- Qua kết quả thống kê các loại lỗi, tôi thấy học sinh lớp tôi nói riêng, học sinh miền
Trung chúng ta thường mắc phải các loại lỗi sau:
- Về thanh điệu: Tiếng việt có 6 thanh điệu (ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng) thì học
sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã.
- Về âm đầu: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm đầu là c / k; g /gh; ng /ngh;
s / x ; d / gi
- Về âm chính: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm chính là :
a / oa; iê / yê
- Về âm cuối: Học sinh thường viết lẫn lộn một số tiếng có âm cuối là :
c / t; n / ng
- Học sinh viết hoa hoặc không viết hoa một cách tuỳ tiện.
II.MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY PHÂN MÔN CHÍNH TẢ LỚP 4.
Việc tìm và đưa ra các biện pháp giảng dạy phân môn chính tả lớp 4, là vấn đề mà
mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm giúp đỡ các em. Muốn vậy chúng ta những giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy bậc học tiểu học phải có cách làm khoa học, cụ thể phải
nghiên cứu các phương pháp dạy học, có nhiều phương pháp và cách nghiên cứu. Tôi
nghiên cứu theo các bước sau:
1. Khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh.
chính tả chúng ta mới chú ý nhắc nhở .
Ví dụ : Khi nhìn vào nhãn vở học sinh thấy em không viết hoa họ tên mình thì giáo
viên yêu cầu học sinh nhắc lại cách viết tên người Việt Nam và yêu cầu học sinh xem lại
cách viết tên họ tên của mình trong nhãn vở và sửa lại cho đúng hoặc khi chấm bài tập
làm văn, các môn học khác nếu thấy học sinh không viết hoa danh từ riêng , chữ cái đầu
câu hoặc viết hoa một cách tuỳ tiện thì giáo viên phải gạch chân dưới các tiếng đó và gọi
học sinh đến để nhắc nhở . Nếu chúng ta thực hiện thường xuyên như vậy thì việc học sinh
không viết hoa hoặc viết hoc tuỳ tiện nhất định sẽ được khắc phục.
- Đối với chữ viết có “i" hay “y”.
+ Viết “ i ” khi đứng sau các phụ âm: x, m, r, ch, tr, gh, ngh, l,…( xinh xắn, thông
minh, rì rào, chính tả, trí tuệ, ghi nhớ, nghỉ hè, lí lịch,…)
+ Viết “ y” khi đứng độc lập hay nó không có âm đứng trước ( y tá, yêu thương, yên
lặng, âu yếm, yết kiến,…).
- Đối với chữ viết chứa nguyên âm đôi iê hay yê.
+ Viết “ iê”khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h, k, l, m, n, x, s, t, th, ch,…( diệu kì,
điêu đứng, huy hiệu, kiêu kì, lo liệu, miêu tả, nồi niêu, siêu sao, xiêu vẹo, tiền tiêu, thiếu
thốn,…)
+ Viết “ yê” khi đứng sau các phụ âm: d, đ, h , l, x, t, th, ch, tr ( xét duyệt,huyết
tương, luyện tập, xao xuyến, tuyệt đối, thuyền bè, kể chuyện, truyền thuyết).
Khi học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả thì mỗi khi viết bài các em sẽ viết chính
xác và viết đúng chính tả. Cũng từ đó giáo dục ý chí và đức tính tốt, tính cẩn thận, óc thẩm
mĩ đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt, cách biểu thị tình cảm tốt
đẹp khi giao tiếp.
*Biện pháp 2: Ghi nhớ mẹo luật chính tả.
- Mẹo luật chính tả là các hiện tượng chính tả mang tính quy luật chi phối hàng loạt
từ, giúp giáo viên khắc phục lỗi chính tả cho học sinh một cách rất hữu hiệu .Giáo viên có
thể cung cấp cho học sinh một số mẹo luật như sau:
- Để phân biệt âm đầu s / x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s
7
Ví dụ : cây sả, cây sồi, cây sứ, cây sắn, cây sậy, cây sặt, sầu đâu, sầu riêng, cây sim, cây
trình bày ở trên. Đây là trường hợp ngoại lệ mà chúng ta cần ghi nhớ:
- Ngoại lệ 1: Những từ láy theo luật thì viết dấu ngã nhưng thực tế lại viết dấu hỏi:
niềm nở, luồn lỏi, bền bỉ, hẳn hòi, dòm dỏ, phỉnh phờ, xoàng xỉnh, vẻn vẹn, lẳng lặng.
- Ngoại lệ 2: Những từ láy theo luật thì viết dấu hỏi nhưng thực tế lại viết dấu ngã:
ngoan ngoãn, khe khẽ, se sẽ
(Số lượng ngoại lệ rất ít)
*Để nhớ luật này chúng ta chỉ cần cho học sinh nhớ câu ca dao sau:
Chị huyền mang nặng ngã đau
Anh sắc không hỏi một câu gọi là.
- Nhớ câu này là các em đã nhớ được nội dung luật viết hỏi ngã trong từ láy .
*Biện pháp 4: Phân tích, so sánh.
8
- Trong tiết dạy chính tả, với những tiếng khó giáo viên nên cho học sinh luyện viết
vào bảng con. Cần áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng hoặc so sánh với những tiếng
dễ lẫn lộn, nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ.
- Ví dụ: Khi viết tiếng biết trong từ hiểu biết học sinh rất dễ lẫn lộn viết là biếc ta cần
phân tích cấu tạo tiếng này :
- Biết = b + iêt + thanh sắc
Các em cần phân biệt với tiếng biếc trong từ xanh biếc.
*Biện pháp 5: Cho học sinh hiểu nghĩa của từ.
- Giải nghĩa từ cũng là biện pháp hữu hiệu để giúp học sinh khắc phục lỗi chính.
Học sinh sẽ viết đúng chính tả nếu các em hiểu được nghĩa của từ. Việc giải nghĩa từ
thường được thực hiện trong các tiết như luyện từ và câu, tập làm văn, tập đọc, nhưng nó
cũng là việc làm rất cần thiết trong tiết chính tả , khi học sinh không thể phân biệt được từ
khó dựa vào cách phát âm.
Ví dụ : Phân biệt “chiêng” và “chiên”
- Nếu giáo viên yêu cầu các em viết cho cô chữ ghi tiếng chiêng thì học sinh rất dễ
viết sai nên chúng ta cần giải nghĩa chiêng là nhạc cụ bằng đồng, hình tròn, Hoặc muốn
viết tiếng chiên thì giáo viên phải cung cấp chiên này có nghĩa là làm cho chín thức ăn
nhất.
Từ kết quả khảo sát thực tế đối với học sinh lớp 4A1 trường tiểu học Tôn Đức
Thắng. Khi viết bài các em viết sai chính tả rất nhiều, trình bày bài cẩu thả, viết còn nhầm
lẫn giữa các phụ âm đọc gần giống nhau. Do đó tôi mạnh dạn xây dựng một số bài tập
chính tả dưới hình thức tổ chức cho các em làm bài kiểm tra. Nhằm củng cố và bổ sung kỹ
năng nắm chắc nguyên tắc chính tả để các em không còn gặp khó khăn khi viết bài, nhằm
hạn chế lỗi chính tả trong các môn học khác.
BÀI KIỂM TRA SỐ 1.
1. Điền vào chỗ trống an hay ang.
- Mấy chú ng…con d… hàng ng… lạch bạch đi kiếm mồi.
- Lá bàng đang đỏ ngọn cây,
Sếu gi… m… lạnh đang bay ng… trời.
2. Tìm tiếng có vần iên hay uyên thích hợp với mỗi chỗ trống dưới đây.
Chỉ có ………… mới hiểu
………… mênh mông nhường nào
Chỉ có ………… mới biết
………… đi đâu về đâu.
3. Điền vào chỗ trống r , d hay gi.
… ây mơ ….ễ má
… ấy trắng mực đen
… eo ……ó gặt bão
… ối … ít tít mù
… anh lam thắng cảnh
… út … ây động rừng
… ương đông kích tây
… ãi ….ó … ầm mưa.
4.Đặt trên chữ in đậm dấu hỏi hay dấu ngã.
Bình minh hay hoàng hôn?
Trong phòng triên lam tranh, hai người em nói chuyện với nhau. Một người bao:
- Ông thư đoán xem bức tranh này ve canh bình minh hay canh hoàng hôn.
Của ……. tại người Áo mũ ……… xang.
4. Điền vào chỗ trống uôn hay uông?
- …nước nhớ ng…
- Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ anh rau m…, nhớ cà dầm tương.
- Đố ai lặn x… vực sâu
Mà đo miệng cá,… câu cho vừa.
- Người thanh tiếng nói cũng thanh
Ch… kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu.
5. Điền vào ô trống tiếng có vần ât hay âc?
Khúc nhạc đưa mọi người vào… ngủ yên lành. Âm thanh cồng chiêng, trang
nghiêm và linh thiêng như tiếng…. trời, làm mọi người tạm quên đi những lo toan ….
vả đời thường.
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
1 / 15 bài 2/ 15 bài 7/ 15 bài 5/ 15 bài
11
Bài kiểm tra số 2 tôi cho học sinh làm vào chiều thứ tư ngày 14/ 12/ 2013, kết quả
như sau:
Tổng số bài kiểm tra: 15 bài
Sau khi cho học sinh thực hành làm bài kiểm tra số 2, mặc dù đã có nhiều cố gắng
xong vẫn còn một số em khi làm bài còn nhầm lẫn giữa các âm cũng như các vần đọc gần
giống nhau. Từ kết quả trên tôi tiếp tục cho học sinh làm bài kiểm tra số 3, để nhằm giúp
học sinh khi viết bài đúng và đẹp hơn.
BÀI KIỂM TRA SỐ 3.
1. Khoanh tròn chữ cái trước từ viết đúng.
A. Sóng biểng D. Bông hồng
B. Tưởng tượng E. Thức giất
C. Ngựa gổ G. Dòng sông
H. Thân thiếc I. Thời tiết
2. Điền vào chỗ trống vần iên hay uyên.
của học sinh khi chấm, chữa bài viết cũng như bài tập chính tả.
Để khắc phục lỗi chính tả và nâng cao chất lượng chữ viết của học sinh lớp 4A1
trường Tiểu học Tôn Đức Thắng. Giáo viên phải nắm vững quy tắc chính tả, thuật ngữ
chính tả, thuật nhớ và mẹo chính tả. Nắm vững cơ sở ngữ âm, ngữ nghĩa của chính tả
Tiếng Việt. Có hiểu biết đầy đủ về khả năng kết hợp của các thành phần trong âm tiết
Tiếng Việt. Mặt khác phải quán triệt nguyên tắc chính tả tại địa phương ( cụ thể ở đây là
học sinh trường tiểu học Tôn Đức Thắng ). Cũng xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi
chính tả của học sinh trường tiểu học Tôn Đức Thắng nói chung, học sinh lớp 4A1 trường
tiểu học Tôn Đức Thắng nói riêng. Để giúp học sinh viết đúng và chuẩn chính tả người
giáo viên phải rèn chữ viết thường xuyên, viết chữ đúng mẫu, chuẩn, đẹp. Phải gương mẫu
về chữ viết trên bảng, chữ viết nhận xét, chữa lỗi trong vở học sinh. Đặc biệt phải quan
tâm độ cao, kích thước của từng con chữ, khoảng cách giữa các con chữ, các tiếng phải
đều, đúng quy định, cách trình bầy bài phải khoa học. Muốn rèn chữ viết của học sinh có
hiệu quả đòi hỏi người giáo viên phải có ý thức trách nhiệm cao, nhiệt tình chỉ bảo uốn nắn
chữ viết cho các em, dành nhiều thời gian cũng như tâm huyết với nghề, thực sự yêu
thương học sinh, quan tâm và thường xuyên nhắc nhở, động viên khen ngợi các em kịp
thời, đúng mức ở các bài viết ( khen, chê hợp lí, tránh tình trạng khen ngợi quá mức để rồi
các em không cố gắng hay chê trách nhiều để các em tự ti mặc cảm với các bạn).
Một vấn đề cần lưu ý trong khi học sinh viết bài đó là tư thế ngồi viết, giáo viên yêu
cầu học sinh ngồi viết đúng tư thế, không ngồi tuỳ tiện như: ngồi nghiêng người, cúi sát
vào vở, bàn ghế chưa đúng quy cách, … Việc ngồi không đúng tư thế sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến nét chữ của các em, gây cong vẹo cột sống,…Ngoài ra yêu cầu các em cầm bút
đúng cách để khi viết bài được dễ dàng.Thường xuyên chú ý nhắc nhở học sinh giữ sách
vở cẩn thận không để nhàu nát. Muốn thành công trong việc rèn viết chính tả cho các em
phải có sự bàn bạc ở tập thể chuyên môn, phải phối hợp với nhiều người, phối hợp giữa gia
đình và nhà trường. Điều cần chú ý là rèn chữ viết cho học sinh ngay từ các lớp đầu cấp,
nhằm rèn cho các em có ý thức ngay từ khi bắt đầu bước vào lớp học đầu tiên của bậc học
tiểu học. Từ đó các em sẽ có thói quen viết cẩn thận, đúng, đẹp. Khi đã hình thành được
thói quen các em sẽ có ý thức viết đẹp hơn, trình bầy khoa học và một điều quan trọng hơn
là sẽ hạn chế tới mức thấp nhất việc viết sai chính tả.
chính xác không? giáo viên có thể gọi một số học sinh đối thoại trực tiếp vì sao lại đánh
giá, ghi điểm bài của bạn mình như vậy và đặt ra một số câu hỏi gợi ý để hướng cho học
sinh tìm những lỗi mà các em chưa chỉ ra được.
Vì vậy trước khi luyện viết một bài chính tả giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm
hiểu khái quát bài cần viết, để học sinh lưu ý phân biệt các hiện tượng chính tả, giải thích
từ khó, nguyên tắc chính tả,… Ngôn ngữ gắn liền với tư duy nên học sinh có hiểu mới viết
đúng được và sửa lỗi trong bài một cách chính xác. Thêm vào đó khi chấm, chữa bài cho
học sinh giáo viên cần chú ý đến cách trình bày bài viết của các em sao cho khoa học,
sạch, đẹp.
Ngoài một số biện pháp cơ bản trên, trong quá trình giảng dạy tôi còn vận dụng một
số biện pháp khác như: Yêu cầu học sinh tự luyện viết ở nhà mỗi tuần ít nhất hai bài , tổ
chức thi vở sạch, thi viết chữ đẹp,… động viên các em kịp thời tạo cho các em niềm tin.
Từ đó các em sẽ có ý thức học tập tốt hơn không riêng gì phân môn chính tả mà trong tất
cả các môn học.
III: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
1.Kết quả đạt được.
Trong năm học 2013- 2014 vừa qua tôi đã vận dụng các biện pháp trong đề tài vào
việc giảng dạy phân môn chính tả cho học sinh. Sau gần một năm học kết quả được nâng
lên rõ rệt. Học sinh biết cách trình bày bài một cách khoa học hơn, chữ viết tương đối đều,
14
đẹp, cẩn thận và ít sai lỗi chính tả. Điều đáng mừng hơn là khi học phân môn tập làm văn
và các môn học khác các em có thói quen viết đúng chính tả, trình bày sạch đẹp.
Bản thân tôi là một giáo viên chủ nhiệm có được kết quả như vậy tôi rất phấn khởi
và tự tin với những thành công khi vận dụng các biện pháp này. Mặc dù trong kết quả đạt
được vẫn còn những hạn chế, thiếu sót. Kết quả đạt được tuy còn rất khiêm tốn nhưng đã
góp một phần nhỏ bé nâng cao chất lượng chữ viết của 15 học sinh trong lớp, do tôi chủ
nhiệm. Qua các đợt kiểm tra trong năm học chất lượng viết chính tả của học sinh đạt được
cụ thể như sau:
Tổng số học sinh được tham gia kiểm tra là: 15 em, với 15 bài kiểm tra, đây là kết
quả rèn luyện của các em trong năm học 2013- 2014.
- Kết hợp tốt việc giáo dục giữa nhà trường và gia đình phụ huynh học sinh để giúp
các em tiến bộ .
- Cần bổ sung những nội dung cần thiết mà sách giáo khoa chưa đề cập đến cho phù
hợp với việc dạy chính tả cho học sinh .
- Giúp học sinh thống kê những lỗi mà các em hay sai vào sổ tay Tiếng việt .
- Cần thường xuyên học tập, bồi dưỡng khả năng phát âm chuẩn và trình độ viết
15
chính tả của bản thân .
PHẦN 3: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ.
I.Kết luận
- Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi vận dụng trong quá trình giảng dạy thực tế của
lớp mình. Tuy kết quả bước đầu áp dụng kết quả chưa cao, nhưng với sự nhiệt tình và nỗ
lực của khả năng tôi, tôi cũng có được một số kinh nghiệm trên. Rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của BGH nhà trường cùng các bạn đồng nghiệp để việc giảng dạy bộ môn
Chính tả trong nhà trường nói chung và trường TH Tôn Đức thắng nói riêng được nâng
cao và hiệu quả. Xin chân thành cám ơn.
II.Kiến nghị.
Qua thực tế giảng dạy phân môn chính tả ở trường tiểu học nói chung và lớp 4 nói
riêng tôi nhận thấy người giáo viên phải luôn tự tìm tòi,học hỏi, đúc rút kinh nghiệm để
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Từ những kinh nghiệm thực tế trong giảng dạy, để giúp học sinh viết đúng, viết đẹp,
tôi có một số kiến nghị sau:
*Đối với cấp trên.
- Tổ chức thi “ Vở sạch chữ đẹp” và “ Viết chữ đẹp” cho học sinh để kích thích phong
trào thi đua viết đúng, viết đẹp của học sinh.
- Đẩy mạnh phong trào giữ “ Vở sạch chữ đẹp”. Kết thúc mỗi năm học, trường
nên giữ lại những bộ vở đẹp để lưu lại phòng Truyền thống của nhà trường làm
chuẩn để kích thích phong trào “Vở sạch chữ đẹp”cho năm học tiếp theo.
* Đối với giáo viên:
- Thường xuyên tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp, nghiên cứu các tài
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thanh
MỤC LỤC
Stt Nội dung công việc Trang
01
02
03
04
05
06
Phần thứ nhất: Đặt vấn đề
I. Lí do chọn đề tài
II.Những vấn đề về lí luận
III.Nhiệm vụ của đề tài
IV.Đối tượng nghiên cứu
V. Phương pháp nghiên cứu
2
2
2
3
4
4
17
07
08
09
10
11
12
5
5
6
6
6
7
8
8
9
9
12
14
22 Phần thứ ba : Kết luận – Kiến nghị 15
23VII. Tài liệu nghiên cứu 16
Xác nhận của HĐKH Nhà trường.
18
……………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………
… ……………………………………………………………………………………………
Xác nhận của HĐKH Phòng Giáo dục-Đào tạo huyện Krông Buk