SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY PHÂN MÔN CHÍNH TẢ LỚP
4 TRƯỜNG TIỂU HỌC CHIỀNG KHỪA HUYỆN MỘC CHÂU”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn học Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ quan trọng vào bậc nhất là trau dồi
ngôn ngữ cho học sinh, trang bị cho học sinh những tri thức Việt ngữ học và quy tắc sử
dụng chúng trong hoạt động giao tiếp.
Trong các phân môn của bộ môn Tiếng Việt, chính tả là một trong những phân môn có
vai trò quan trọng, bởi đây là phân môn hình thành, rèn luyện và phát triển kỹ năng viết.
Rèn chữ viết chính tả cung cấp cho học sinh biết quy tắc chính tả và thói quen viết chữ
ghi âm Tiếng Việt đúng và chuẩn. Nắm vững chính tả học sinh mới có thể nói được, viết
được, nói hay, viết hay… góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, thứ của cải vô
cùng quý báu của dân tộc ta.
Sự thống nhất chính tả thể hiện tính thống nhất của một ngôn ngữ. Chính tả có thống nhất
thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa các địa phương, cũng
như giữa các thế hệ với nhau.
Mục tiêu đầu tiên của giáo dục tiểu học là rèn luyện cho học sinh kỹ năng “đọc thông,
viết thạo”. Giải quyết lỗi chính tả trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ quan
trọng góp phần hoàn thành mục tiêu giáo dục đề ra.
Đối với học sinh bậc tiểu học việc rèn để các em viết đúng, viết chuẩn là vấn đề vô cùng
cần thiết. Đặc biệt là đối với học sinh lớp 4, lớp gần cuối của bậc tiểu học, số lượng môn
học nhiều hơn vì lẽ đó các em chỉ tập trung vào viết đủ chữ nên việc sai lỗi chính tả khi
viết và trình bày bài chưa khoa học là khá phổ biến.
Ở trường tiểu học Chiềng Khừa phần lớn học sinh là con em dân tộc Thái, và H
'
mông các
em nói tiếng phổ thông còn chưa rõ và phát âm chưa đúng dẫn đến việc viết chữ cũng sai
rất nhiều.
Qua nhiều năm giảng dạy tại trường tôi thấy nhiều học sinh khi viết chính tả chỉ chú ý
ngoan ngoãn biết vâng lời thầy, cô giáo, vâng lời cha mẹ, đoàn kết với bạn bè, biết tương
trợ giúp đỡ lẫn nhau.
Tổng số học sinh lớp 4A là: 19 học sinh.
Trong đó:
Học sinh nam : 10 em
Học sinh nữ : 9 em
Dân tộc Kinh : 1
Dân tộc Thái : 14 em
Dân tộc H
’
mông : 4 em.
Khuyết tật ngôn ngữ : 0 em.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
1. Phương pháp khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh.
2. Phương pháp thống kê, phân tích.
3. Phương pháp thực nghiệm.
4. Phương pháp đối chiếu và so sánh kết quả sau khi vận dụng các biện pháp trên.
V. Tài liệu nghiên cứu.
1. Sách Tiếng Việt lớp 4, tập 1+ 2.
2. Vở bài tập Tiếng Việt lớp 4, tập 1+ 2.
3. Để học tốt Tiếng Việt 4 tập, 1: Ngô Trần Ái, Nguyễn Qúy Thao (chủ biên) Nhà
xuất Báo Giáo Dục và Thời đại.
4. Bồi dưỡng học Văn - Tiếng Việt tiểu học: Nguyễn Kim Dung – Hồ Thị Vân
Anh: Nhà Xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bài tập thực hành trắc nghiệm Tiếng Việt 4, tập 1, 2 : Đinh Ngọc Bảo (chủ biên),
Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm.
6. Sổ tay chính tả Tiếng Việt tiểu học: Nguyễn Đình Cao, Nhà xuất bản Giáo Dục.
7. Dạy và học chính tả ở tiểu học, Hoàng Văn Thung- Đỗ Văn Thảo, Nhà xuất bản
Giáo Dục.
8. Chữa lỗi chính tả cho học sinh, Phan Ngọc, Nhà xuất bản Giáo Dục.
trình hoạt động trái ngược nhau. Nếu tập đọc là sự chuyển hoá văn bản dưới dạng âm
thanh thành văn bản viết. Có như vậy, khi giao tiếp bằng ngôn ngữ, người đọc mới hiểu
đúng hoàn toàn nội dung, ý nghĩa mà người viết gửi gắm, việc viết đúng thống nhất như
thế còn gọi bằng thuật ngữ quen thuộc là: chính tả. Bởi theo nghĩa gốc thì “chính tả” tức
là “ phép viết đúng” hay “ lối viết hợp với chuẩn”.
Qua các bài viết chính tả rèn luyện cho học sinh “ có tính kỉ luật, tính cẩn thận và
óc thẩm mĩ”.Đồng thời bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quý Tiếng Việt, chữ viết, cách
biểu thị tình cảm được thể hiện trong việc viết đúng chính tả.
Xuất phát từ tính chất và tầm quan trọng của việc viết đúng chính tả như thế nên
phân môn chính tả đã được đưa vào chương trình giảng dạy của trường phổ thông. Cụ thể
ở đây là các lớp bậc tiểu học, phân môn chính tả đã được giảng dạy ở tất cả các lớp trong
bậc học tiểu học (trừ học kì I của chương trình lớp 1 là chưa dạy) với nhiều hình thức
chính tả khác nhau: Từ chính tả nhìn bảng, nhìn sách để chép (ở cuối lớp 1 và đầu lớp 2)
rồi đến chính tả so sánh, chính tả nghe- viết, chính tả nhớ-viết. Với những hình thức
chính tả này giúp học sinh có thể hiểu về quy tắc chính tả để viết đúng chính tả. Tuy việc
viết đúng chính tả là quan trọng và cần thiết như vậy nhưng thực tế việc dạy và học và
học chính tả ở tất cả các lớp trong bậc học tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 trường
tiểu học Chiềng Khừa nói riêng vẫn còn mắc nhiều lỗi khi viết chính tả. Đây là nhiệm vụ
của người học sinh cần phải rèn luyện chữ viết sao cho đúng “chính tả” và cũng là trách
nhiệm đặc biệt quan trọng của tập thể giáo viên trường tiểu học Chiềng Khừa nói chung
và cá nhân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 4, trách nhiệm đó đặc biệt cần chú
trọng hơn.
CHƯƠNG II. NHỮNG THỰC TRẠNG.
Trong thực tế giảng dạy chương trình môn Tiếng Việt, phân môn chính tả có nhiệm
vụ cung cấp cho học sinh các quy tắc viết đúng và rèn luyện để các em có kĩ năng, thói
quen viết đúng chính tả, rèn luyện để các em có kỹ năng viết đúng quy trình con chữ, rèn
luyện cho học sinh một số phẩm chất: Tính kỷ luật, tính cẩn thận (vì phải viết thẳng hàng,
ngay ngắn, đẹp đẽ). Đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng yêu quý Tiếng Việt.
Do xác định được vai trò và tầm qan trọng của việc rèn chữ viết cho học sinh tiểu
học, tôi đã tìm hiểu vấn đề này. Trước hết nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho các
học sinh lớp 4 trong năm học 2011 – 2012 này.
Đầu năm học 2011-2012. Qua khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh lớp
4A, cụ thể là:
Tổng số bài được khảo sát là: 19 bài.Trong đó:
Qua kết quả khảo sát cho thấy chất lượng viết chính tả còn rất
nhiều hạn chế, điểm yếu còn quá nhiều, số lượng bài đạt điểm khá, giỏi thì quá ít. Nếu
không có biện pháp giảng dạy để rèn luyện chữ viết cho học sinh thì sẽ rất khó khăn cho
các em học các môn học khác cũng như học lên lớp 4 cũng như các cấp học sau.
CHƯƠNG III:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢNG DẠY PHÂN MÔN CHÍNH TẢ LỚP 4.
Việc tìm và đưa ra các biện pháp giảng dạy phân môn chính tả lớp 5, là vấn đề mà
mỗi giáo viên cần phải có trách nhiệm giúp đỡ các em. Muốn vậy chúng ta những giáo
viên đang trực tiếp giảng dạy bậc học tiểu học phải có cách làm khoa học, cụ thể phải
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
1/ 19 bài 2 / 19 bài 10 / 19 bài 6 / 19 bài
nghiên cứu các phương pháp dạy học, có nhiều phương pháp và cách nghiên cứu. Tôi
nghiên cứu theo các bước sau:
1. Khảo sát chất lượng chữ viết của học sinh.
2. Phát hiện lỗi sai mà các em mắc phải.
3. Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến học sinh viết chưa đúng chính tả.
4. Đưa ra một số biện pháp rèn viết chính tả và trực tiếp vận dụng các
phương pháp đó trong quá trình giảng dạy phân môn chính tả.
Trong thời gian thực nghiệm tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp để khắc phục
những lỗi chính tả mà các em thường mắc và rèn cho các em viết đúng chính tả.
BIỆN PHÁP THỨ NHẤT:
TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN MẮC LỖI ĐỂ XÁC ĐỊNH NỘI DUNG
DẠYHỌC CHÍNH TẢ.
1. Nguyên nhân khách quan.
Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương. Tiếng Việt tuy là một ngôn ngữ thống nhất
trong cả nước nhưng có nhiều phương ngữ khác nhau. Phương ngữ làm cho Tiếng Việt
chưa vận dụng sáng tạo từ những bài tập ngoài sách học sinh để bài dạy thêm phong phú,
đa dạng, tần số chính tả xuất hiện nhiều và phù hợp với đối tượng lớp mình phụ trách.
Đặc biệt một số giáo viên chỉ chú ý phát âm đúng trong giờ chính tả. Như vậy ở các môn
học khác giáo viên phát âm bình thường không chuẩn, do đó học sinh cũng không chú ý
viết cẩn thận. Không sửa lỗi cho học sinh, cho nên học sinh cẩu thả khi viết. Một phần là
do các em chưa chịu khó học, ý thức học tập chưa cao, nhất là luyện đọc, nói Tiếng Việt
và luyện viết ở nhà. Khi đến lớp trong giờ chính tả cũng như các tiết học khác các em viết
còn ẩu, nhanh chưa chính xác.Mặc dù thời gian viết chính tả trên lớp là thời gian luyện
viết tốt nhất với các em. Muốn viết đúng chính tả cũng như muốn áp dụng các thuật nhớ,
các mẹo chính tả, phải hướng cho học sinh biết nhận dạng và nắm chắc đơn vị trung tâm
của chính tả Tiếng Việt là ( tiếng) hay( âm tiết) và yêu cầu cơ bản của chính tả Tiếng Việt
là viết đúng từng tiếng một. Khi nói, khi đọc người Việt Nam phát âm từng tiếng tách
bạch nhau.
Ví dụ: “ Công cha như núi Thái Sơn”. Là một câu nói gồm 6 tiếng phân biệt rạch ròi, khi
một tiếng được viết lên trang giấy ta sẽ có một chữ.
Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế muốn viết đúng chính tả,
việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở giúp
học sinh viết đúng chính tả.
Ví dụ: Nếu giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là/ za/ thì học sinh có thể lúng túng
trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu đọc ( gia đình)hoặc ( da dẻ)
hay( ra vào), đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định, thì học sinh dễ dàng
viết đúng chính tả. Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ
nghĩa. Đây là một đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng
Việt. Khi viết chính tả, học sinh chỉ chú ý nghe giáo viên phát âm chứ không hề chú ý
đến nghĩa của từ để viết cho đúng. Vì lẽ đó mà chúng ta thường thấy nhiều học sinh đạt
điểm cao trong giờ chính tả nhưng ở các môn học khác lại mắc rất nhiều lỗi chính tả.
Muốn khắc phục được những hạn chế, thiếu sót đó người giáo viên cần bổ sung, điều
chỉnh mục tiêu môn chính tả sao cho phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ trách
và nhắc nhở phân tích các từ ngữ mà học sinh thường viết sai, thường gặp trong các môn
học khác để học sinh hiểu nghĩa của từ và luôn viết đúng chính tả. Hơn nữa khi đọc bài
sửa được, vì lẽ đó mỗi giáo viên cần nhận thức và xác định được cho mình nhiệm vụ
quan trọng số một của phân môn chính tả là cung cấp các quy tắc, rèn luyện kỹ năng và
thói quen viết đúng chính tả.
Trước hết cần phân ra từng nhóm đối tượng học sinh, nhóm nào thường mắc
những lỗi nào thì tìm ra phương pháp khác phục cho học sinh sửa lỗi đó. Khi viết những
từ có liên quan đến những lỗi mà nhóm học sinh hay mắc phải, cần gọi những em đó lên
viết trên bảng lớp, viết thường xuyên. Có như vậy, các em mới phát hiện ra lỗi sai để kịp
thời giúp học sinh khắc phục.
Lỗi phụ âm đầu:
“v” viết thành “ b”
“ l” viết thành “đ”
“th” viết thành “t”
Viết lẫn lộn giữa “ s” và “x”
Viết lẫn lộn giữa “g” và “gh”
Viết lẫn lộn giữa “ ng” và “ngh”
Viết lẫn lộn giữa “ c”, “k” và “q”
Viết lẫn lộn giữa “ ch” và “tr”
Viết lẫn lộn giữa “ d”, “r” và “ gi”
Lỗi chính tả phần vần:
“ ai” viết thành “ay”
“ iu” viết thành “ ưu”
“ an” viết thành “at”
“ anh” viết thành “ ach”
“ ui” viết thành “ uy”
“ iêc” viết thành “ iêp”
“ ơi” viết thành “ây”
“ iên viết thành “ uyên”
“ ông” viết thành “ ôn”
“ ăng” viết thành “ăn”
“ ênh” viết thành “êch”
Lính lạc- đính lạc
Người lính Mí-người đính mí
Liu liến- điu luyễn
Dọc dằn- giọc giằn- rọc rằn
Tông tin
Truyền tuyết- chiền tiết
Xung xướng-sung sưỡng
Đực xĩ- đực sí
Sanh biết – xanh viếc
Xai lối chính tả- sai đối chĩnh tả
Nước viển- nước biểng
Chênh chếc- trêng trếc
Nghiêng ngả
Gập ghềnh
Bạt ngàn
Thơm phưng phức
Khuy áo
Mây bay
Kết quả
Yêu thương
Róc rách
Che lấp
Trịnh trọng
Chế giễu
Cồng kềnh
Của trách
Hoa sữa
Ngiêng ngả
Gập gềnh
Vạt ngàn- bạn ngàn
giáo viên cần xác định được trọng tâm của bài, dạy chính tả phải biết kết hợp với việc
dạy chuẩn âm, tức là “ phát âm đúng”. Yêu cầu giáo viên phải là người chuẩn mực trong
việc đọc, nói. Vì cơ sở cơ bản của chính tả Tiếng Việt là nguyên tắc ngữ âm.Chính tả âm
vị đọc thế nào, nói thế nào viết thế ấy. Hầu hết học sinh chưa nắm vững nguyên tắc chính
tả nên dẫn đến viết sai chính tả.
Ví dụ: Khi viết những âm đầu mà khi phát âm gần giống nhau, hoặc những tiếng nào cần
sử dụng âm C/Q hay K hoặc D/ R hay Gi, những tiếng nào có âm cuối là I/ Y.Giáo viên
cần thường xuyên chú ý giúp học sinh so sánh, phân biệt sao cho chính xác tức là giúp
học sinh nắm chắc nguyên tắc chính tả.
- Đối với âm D/ R/ Gi.
+ Viết “ D” khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o, e, i, iê, yê,…( duyên dáng, dạt dào,
…).
+ Viết “ Gi” khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o, u, ư, ươ, …( giờ giấc, giữ gìn,
giường gỗ, cùng một giuộc,…).
+ Viết “ R” khi đứng trước các nguyên âm: a, o, ô, e, i, iê, ươ, uô,…( rành mạch,
róc rách, rì rào,…).
- Đối với âm C/ K/ Q.
+ Viết “ C” khi đứng trước các nguyên âm: a, o, ô, ơ, u, ư,…( cá, cô, cờ,cò, căn cứ,…)
+ Viết “ K”khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, iê,…( kiêu sa, Quốc kì, êke, kênh kiệu,
…).
Viết “ Q” khi đứng trước vần có “ u” là âm đệm: ( quân đội, Quốc kì, quê hương, quả
quýt, quần áo,…).
- Đối với âm G/ Gh; Ng/ Ngh.
+ Viết “ G”, “ Ng”khi đứng trước các nguyên âm: a, â, o,ô, u, ư, ươ, …( ngủ gà ngủ
gật, gà gô, ngỗ ngược, gửi ,gùi,…)
+ Viết “ Gh” khi đứng trước các nguyên âm: e, ê, i, …( bàn ghế, ghi chép, ghe
thuyền,…)
+ Viết “ Ngh”khi đứng trước các nguyên âm: i, ê, iê ( con nghé, nghi ngờ, nghiêng
ngả, củ nghệ,…)
- Đối với âm Ch/ Tr.
nhanh và đẹp.
Như vậy, trong dạy học chúng ta phải biết cách tổ chức, biết cách điều khiển cho trẻ hoạt
động. Bởi chúng ta đều biết, các em phải được hoạt động thì tâm lí cũng như nhận thức
mới phát triển được. Mặt khác, các em phải được hoạt động một cách có chủ động thì khả
năng nhận thức sẽ tốt hơn.
Cụ thể, trong quá trình dạy học chính tả giáo viên phải tổ chức cho học sinh thực hành
luyện tập các bài tập, bởi thông qua quá trình thực hành luyện tập các bài tập sẽ dần hình
thành ở các em kỹ năng viết thành thạo, thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo chuẩn chính
tả, nghĩa là hình thành kỹ xảo chính tả. Khi các em làm bài tập một cách tích cực, chủ
động thì các em sẽ tự nhận biết được viết như thế nào là viết đúng và nếu viết khác đi thì
sẽ sai, từ đó các em ghi nhớ cách viết đúng sâu sắc hơn, bền vững hơn.
Trong quá trình giảng dạy, sau khi học xong bài mới, giáo viên giao cho học sinh những
bài tập để thực hành luyện tập. Đối với các em việc thực hành luyện tập sẽ giúp các em
ghi nhớ kiến thức đẫ học nhanh hơn và biết khắc phục những lỗi mà mình thường mắc
phải. Còn đối với bản thân tôi là một giáo viên trực tiếp giảng dạy sau khi chấm tất cả các
bài tập này, thứ nhất là có thể đánh giá được kết quả học tập của mỗi học sinh. Thứ hai là
có thể thu được thông tin ngược lại từ phía học sinh, xem mức độ tiếp thu bài của các em
tới đâu? hay còn vướng mắc ở chỗ nào? phần nào? Với phương pháp dạy học đó đã phù
hợp chưa? Từ đó điều chỉnh lại cách thức, phương pháp dạy học sao cho đạt hiệu quả tốt
nhất.
Từ kết quả khảo sát thực tế đối với học sinh lớp 4A trường tiểu học Chiềng Khừa,. Khi
viết bài các em viết sai chính tả rất nhiều, trình bày bài cẩu thả, viết còn nhầm lẫn giữa
các phụ âm đọc gần giống nhau. Do đó tôi mạnh dạn xây dựng một số bài tập chính tả
dưới hình thức tổ chức cho các em làm bài kiểm tra. Nhằm củng cố và bổ sung kỹ năng
nắm chắc nguyên tắc chính tả để các em không còn gặp khó khăn khi viết bài, nhằm hạn
chế lỗi chính tả trong các môn học khác.
BÀI KIỂM TRA SỐ 1.
1. Điền vào chỗ trống s hay x.
….anh ….anh bãi mía bờ dâu
Ngô khoai biêng biếc bên bờ ….ông
6. Khoanh tròn vào chữ cái trước từ viết đúng chính tả.
A. Vầy biện Đ. Bầy trẻ I. Ban đạy
B. Bày biện E. Bày trẻ K. Van lạy
C. Thứ bảy G. Tre đạy L.chậy nhảy
D. Tứ bảy H. Che đậy M. Chạy nhảy.
Tôi tổ chức cho học sinh làm bài kiểm tra vào chiều ngày mồng 15/ 11/ 2011 kết quả như
sau:
Trong đó nhầm lẫn giữa các âm, vần còn rất nhiều cụ thể:
Stt Nhầm lẫn giữa các âm, vần, dấu thanh Số bài mắc lỗi
1 Nhầm lẫn giữa D, R và Gi 8 bài
2 Nhầm lẫn giữa X và S 7 bài
3 Nhầm lẫn giữa Ch và Tr 9 bài
4 Nhầm lẫn giữa vần Uyên và Iên 5 bài
5 Nhầm lẫn giữa vần Iu và Ưu 4 bài
6 Nhầm lẫn giữa Ay và Ây 5 bài
7 Nhầm lẫn giữa Th và T 2 bài
8 Nhầm lẫn giữa V và B 4 bài
9 Nhầm lẫn giữa dấu thanh “sắc” và dấu thanh “
ngã”
7 bài
Sau khi cho học sinh thực hành làm bài kiểm tra, các em còn nhầm lẫn rất nhiều giữa các
âm cũng như các vần đọc gần giống nhau. Từ kết quả trên tôi tiếp tục cho học sinh làm
bài kiểm tra số 2.
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
1 / 19 bài 2/ 19 bài 11/ 19 bài 5/ 19 bài
BÀI KIỂM TRA SỐ 2.
1. Điền vào chỗ trống V hay B.
….ạch lá tìm sâu Giật gấu ….á ….ai
Giậu đổ … ìm leo Kinh hồn ….ạt vía
….ăn ôn ….õ luyện Ăn ….óc học hay.
Mây trời bồng ………… Nước chảy …….láng
Của ……. tại người Áo mũ ……… xang.
Bài kiểm tra số 2 tôi cho học sinh làm vào chiều thứ tư ngày 14/ 01/ 2012, kết quả như
sau:
Tổng số bài kiểm tra: 19 bài
tTrong đó nhầm lẫn giữa các âm, vần đã có phần giảm xong vẫn còn nhiều học sinh mắc
phải cụ thể:
Stt Nhầm lẫn giữa các âm, vần, dấu thanh Số bài mắc lỗi
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
2 / 19 bài 6/ 19 bài 9/ 19 bài 2/ 19 bài
1 Nhầm lẫn giữa D, R và Gi 5 bài
2 Nhầm lẫn giữa X và S 5 bài
3 Nhầm lẫn giữa Ch và Tr 6 bài
4 Nhầm lẫn giữa vần Uyên và Iên 4 bài
5 Nhầm lẫn giữa vần Iu và Ưu 3 bài
6 Nhầm lẫn giữa Ay và Ây 3 bài
7 Nhầm lẫn giữa Th và T 1 bài
8 Nhầm lẫn giữa V và B 1 bài
9 Nhầm lẫn giữa dấu thanh “sắc” và dấu thanh “
ngã”
5 bài
10 Nhầm lẫn giữa vần “ươi và uôi”, “an và ang”,
“ơp và ơt”, “ôc và uôc”, “ai và ay”
4 bài
Sau khi cho học sinh thực hành làm bài kiểm tra số 2, mặc dù đã có nhiều cố gắng xong
vẫn còn một số em khi làm bài còn nhầm lẫn giữa các âm cũng như các vần đọc gần
giống nhau. Từ kết quả trên tôi tiếp tục cho học sinh làm bài kiểm tra số 3, để nhằm giúp
học sinh khi viết bài đúng và đẹp hơn.
BÀI KIỂM TRA SỐ 3.
1. Khoanh tròn chữ cái trước từ viết đúng.