Chuyên đề ôn thi TN THPT Quốc Gia
KĨ NĂNG ĐỌC-HIỂU
( 02 tiết)
A. MỤC TIÊU ÔN
I. Yêu cầu
- Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu
một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những
văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu
hướng dẫn đọc hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp
với mục đích và đối tượng học sinh.
Các câu hỏi phần đọc hiểu tập trung vào một số khía cạnh như:
+ Nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn
bản, tên văn bản;
+ Những hiểu biết về từ ngữ, cú pháp, chấm câu, cấu trúc, thể loại văn bản;
+ Một số biện pháp nghệ thuật trong văn bản và tác dụng của chúng.
- Giúp HS có thể được thực hành các dạng đề khác nhau liên quan tới kỹ năng này,
đối chiếu hướng dẫn và gợi ý chấm để rút ra kinh nghiệm.
II. Mục tiêu: giúp học sinh nắm được
1.Về kiến thức
a. Nắm được cấu trúc của phần đọc – hiểu trong kì thi THPTQG
- Phần đọc hiểu thường là câu 3 điểm trong bài thi.
- Đề ra thường là chọn những văn bản phù hợp (Trong cả chương trình lớp 11
và 12 hoặc là một đọan văn, thơ, một bài báo, một lời phát biểu trong chương
trình thời sự… ở ngoài SGK) phù hợp với trinh độ nhận thức và năng lực của
học sinh.
- Văn bản: 2 văn bản (văn bản văn xuôi/ thơ, văn bản nhật dụng/ nghệ thuật)
- Câu hỏi: 8 ý hỏi
b. Nắm được phạm vi kiến thức cơ bản của phần đọc – hiểu trong kì thi
THPTQG
1
+ Luyện tập các chuyên đề, các đề thi thử mà GV giao.
2
C. PHƯƠNG PHÁP ÔN
Kết hợp nhiều phương pháp phù hợp với thời gian ôn, nội dung ôn và đối
tượng HS như : Đàm thoại, vấn đáp, thảo luận nhóm, luyện tập các bài tập. Cụ thể
- Nội dung ôn tập phần đọc hiểu (trong đó có đọc hiểu phần Tiếng Việt) được xây
dựng một thời lượng thích hợp (tùy thực tế của từng nhà trường) để ôn luyện cho học
sinh.
- Trong quá trình ôn tập GV nên chú ý tích hợp những kiến thức Tiếng Việt ở cấp
dưới. Chú ý rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn và kĩ năng trả lời các
dạng câu hỏi đọc hiểu (phần Tiếng Việt), cần hướng dẫn học sinh kĩ năng nhận diện,
phân tích, đánh giá.
D. TIẾN TRÌNH ÔN
1. Ổn định lớp
2. Bài mới
Hoạt động
Nội dung cần đạt thi tốt nghiệp
của GV và
HS
GV củng cố
Nội dung cần đạt
thi đại học
A.KHAI QUÁT CHUNG
bản
chính
chương
11,
12;
3
để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã những vấn đề có
đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm tính thời sự.
thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.
-Nên
- Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của dạng
ôn
theo
câu
hỏi
sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa (dạng bài), chủ
của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết đề; sau đó ra câu
nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu đọc
+ Nội dung của văn bản.
kiểm tra định kì
+ Mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ
hết
chức và xây dựng.
vòng ôn.
+ Ý đồ, mục đích?
- Chú trọng thực
+ Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong
hành trong khi ôn.
tác phẩm.
Cần phải đảm bảo
+ Giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật.
học sinh nắm tốt
+ Ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc
chấm chéo những
Mọi tác phẩm văn học đều tồn tại trong
4
HS, yêu cầu các hình thức thể loại nhất định: một cuốn tiểu bài kiểm tra.
HS
làm
cương
đề thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ, một vở
-Phương pháp ôn
trước kịch, một kí sự...Không có tác phẩm văn học nào cần bám sát vào
khi lên lớp. được xây dựng ngoài những hình thức quen mục
tiêu
kiến
Tùy đối tượng thuộc đó. Vì vậy, bên cạnh nhan đề tác phẩm, thức.
HS, GV giao tác giả thường ghi tên thể loại: Những người
VD: Để đạt
tùy theo nội của văn bản văn học. Thể loại là hình thức trừu sao lại sử dụng
dung ôn).
tượng dùng để phân loại văn bản văn học, đồng thao tác so sánh
Yêu cầu cụ
thời là phạm trù thẩm mĩ, là cách gọi chung các chứ không phải
thể:
loại văn bản văn học. Thể loại văn học là dạng thao tác khác và
- Nắm được
thức cụ thể và hình thái cụ thể của tác phẩm văn viết như thế nào.
có bao nhiêu
học hiển hiện trước mắt độc giả, là cơ sở để độc
loại?
giả nắm bắt, nhận thức tác phẩm văn học. Đối phương pháp tiếp
- Khái niệm.
tượng biểu hiện, miêu tả của tác phẩm, hình thức cận cho một mục
- Đặc trưng.
Một số thể loại văn học bao quen thuộc:
- Xác định các
thao tác ở đoạn
* Văn xuôi nghệ thuật: tiểu thuyết, truyện kí, tùy văn.
bút, chính luận,…
- Viết đoạn văn
* Thơ
theo một hay một
- Các thể thơ dân tộc: lục bát, song thất lục bát, số thao tác nhất
hát nói
định.
- Thơ Đường luật: ngũ ngôn (tứ tuyệt, bát cú), - Sắp xếp các câu
thất ngôn (tứ tuyệt, bát cú)
rời rạc thành đoạn
- Thơ hiện đại: năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, văn hoàn chỉnh.
hôn hợp, tự do, thơ- văn xuôi…thơ trữ tình, thơ - Cho một đoạn
tự sự
văn
kiện sự thể hiện các hình ảnh hình tượng sự hoạt
động và quan hệ giữa các nhân vật suy nghĩ và
cảm xúc của các nhân vật...Xuyên qua nội dung
cụ thể của tác phẩm ở một cấp độ cao hơn sâu
hơn là nội dung tư tưởng (nội dung khái quát).
Ðó chính là sự khái quát những gì đã trình bày
trong nội dung cụ thể thành những vấn đề của
đời sống và giải quyết những vấn đề ấy theo một
khuynh hướng tư tưởng nhất định. Như vậy có
thể nói nội dung của tác phẩm là toàn bộ những
hiện tượng thẩm mĩ độc đáo được phản ánh bằng
hình tượng thông qua sự lựa chọn đánh giá chủ
quan của người nghệ sĩ tức là tiếng nói riêng của
nhà văn bao gồm những cảm xúc tâm trạng lí
tưởng khát vọng của tác giả về hiện thực dó. Khi
nói đến nội dung của tác phẩm Secnưxepki
không chỉ nhấn mạnh việc "tái hiện các hiện
tượng hiện thực mà con người quan tâm" mà còn
nhấn mạnh đến việc "giải thích cuộc sống" "đề
xuất sự phán xét đối với các hiện tượng được
miêu tả". Ông viết: "Thể hiện sự phán xét đó
trong tác phẩm là một ý nghĩa mới của tác phẩm
nghệ thuật nhờ đó nghệ thuật đứng vào hàng các
hoạt động tư tưởng đạo đức của con người". Có
thể mượn những câu thơ mở đầu Truyện Kiều
của Nguyễn Du để nói về nội dung tác phẩm văn
học :
Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
tưởng của anh mà thôi. Như vậy hình thức là
một yếu tố rất quan trọng của tác phẩm nghệ
thuật. Ông Phạm văn Ðồng nhấn mạnh tầm quan
trọng của hình thức nghệ thuật : Giá trị hình thức
8
rất quan trọng. Bởi vì không có giá trị nghệ thuật
thì không thể có tác phẩm nghệ thuật được ! Nó
là con số không ! Chúng ta đều phải hiểu như
vậy...Tư tưởng nội dung tư tưởng phải đúng và
nói về mặt yêu cầu thì nó phải một trăm phần
trăm nhưng giá trị nghệ thuật cũng cần thiết đòi
hỏi cũng phải trăm phần trăm chứ không phải là
năm mươi và năm mươi cộng lại. Bởi vì một tác
phẩm không có giá trị nghệ thuật là không có
nghĩa gì hết. Nó không phải là một sản phẩm.
Cũng như có thể có những đồng chí có tư tưởng
tốt lắm nghĩa là như Lênin nói khi chết có thể
lên thiên đường nhưng không làm được việc !
Chính những tác phẩm đúng về tư tưởng nhưng
không có giá trị nghệ thuật cũng giống như
những con người ấy
2.2.3. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức vốn là một phạm trù
triết học có liên quan đến mọi hiện tượng trong
đời sống. Hình thức tất yếu phải là hình thức của
một nội dung nhất định và nội dung bao giờ
cũng là nội dung được thể hiện qua một hình
thức. Không thể có cái này mà không có cái kia
cũng như chiều sâu nhận thức của nhà văn đối
với cuộc sống. Một văn bản có thể có nhiều chủ
đề. Tầm quan trọng của chủ đề không phụ thuộc
và khuôn khổ văn bản, cũng không phụ thuộc
vào việc chọn đề tài. Có những văn bản rất ngắn,
đề tài lại rất hẹp nhưng chủ đề đặt ra lại hết sức
lớn lao (chẳng hạn như bài ca dao Hoa sen; bài
thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương).
- Một số VD về chủ đề:
+ Chủ đề của truyện ngắn Lão Hạc (Nam Cao)
10
là nhân cách, lòng tự trọng của người nông dân
trước cái đói, sự nghèo khổ.
+ Chủ đề của Truyện Kiều (Nguyễn Du) là thực
trạng xã hội vô nhân đạo và số phận con người
sống trong xã hội ấy. Vấn đề tình yêu, nhân
phẩm, công lí,... cũng được Nguyễn Du đặt ra để
lí giải.
+ Truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh
Châu cũng là một trong những văn bản chứa
nhiều chủ đề mà chủ đề chính là vấn đề đạo đức
của con người. Bên cạnh đó, nhà văn còn đặt ra
nhiều vấn đề khác như: vấn đề người lính trong
và sau chiến tranh; vấn đề bi kịch chiến tranh;
vấn đề thế nào là một tác phẩm nghệ thuật đích
thực?..
6. Kết cấu
Khái niệm: Kết cấu của văn bản là tổ chức
ra cả một lô tên có thể mang đặt cho truyện đó.
Đôi khi chúng có hàng trăm cái tên. Rồi tôi bắt
đầu gạch bỏ, có khi, tất cả những tên nghĩ ra đều
bị gạch hết”. Lại có trường hợp đặt nhan đề cho
tác phẩm do một sự tình cờ nào đó, có lúc tên
truyện được lấy ra từ trong thân truyện. Nhan đề,
một yếu tố cận văn bản (cùng với tiêu đề các
chương, các lời tựa, bạt, lời đề từ, các lời bình
luận in trên bìa sách, các ghi chú của người
viết...) do tác giả đặt (hoặc bạn hữu/biên tập viên
sành sỏi nào đó gợi ý), nhìn chung đều có dụng
ý tư tưởng, thậm chí nó còn có chức năng định
hướng cách đọc, sự tiếp nhận của độc giả đối với
phần chính văn. Nhan đề như một một mã của
thông điệp thẩm mỹ, một mô hình nghệ thuật, nó
là cái biểu nghĩa của văn bản văn học, cho độc
12
giả biết trước: văn bản này viết về cái gì, có thể
đọc nó hoặc nên đọc văn bản như thế nào.
Người xưa khẳng định: “Chỉ ra cái cốt tuỷ
của toàn bài, hoặc ở đầu bài, hoặc ở giữa bài,
hoặc ở cuối bài”. Không ít tác giả nhận
thấy: “đầu đề phải nổi lên trên bề mặt văn bản,
không có nó… không thể xây dựng được mô
hình văn bản”. Quan điểm này, đúng với một số
trường hợp. Nhà văn Đỗ Chu kể: “Bắt tay vào
viết truyện ngắn, có truyện ban đầu đến với tôi
bằng một cái tên. Hương cỏ mật, Mùa cá bột, tôi
trộm in
ở
tuần
báo Văn
nghệ (do Đời nay ấn hành) tháng 10-1940 không
nói được điều đó. Tôi thấy tiếc cho chủ đề và đổi
thành Kẻ hô hoán”.
Tác phẩm văn học dân gian thường không có
nhan đề, đó là tài sản chung của cộng đồng, phản
sánh kiểu tư duy tập thể. Nhan đề, với tư
cách yếu tố cận văn bản, xuất hiện hầu hết ở các
tác phẩm văn học viết. Việc đặt nhan đề hay
không đặt nhan đề liên hệ mật thiết với ý thức
sáng tạo cá nhân, với ý thức sở hữu văn bản
II. Tiếng Việt
1.Văn bản:
Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ, được tạo lập bởi sự liên kết các
câu, các đoạn văn… tạo thành một đơn vị hoàn
chỉnh về nội dung và hình thức và hướng tới một
mục đích giao tiếp nhất định.
2. Đoạn văn và cách triển khai
- Khái niệm: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo
nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu
dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng. Nội
dung đoạn văn thường biểu đạt một ý tương đối
tiếp theo triển khai ý cụ thể, chi tiết. Câu cuối
đoạn văn tổng hợp lại các ý khái quát.
* Một số cách triển khai đoạn văn khác:
móc xích, tam đoạn luận,...
3. Các phép liên kết
Phương tiện liên kết là yếu tố ngôn ngữ
15
được sử dụng nhằm làm bộc lộ mối dây liên lạc
giữa các bộ phận có liên kết với nhau. Cách sử
dụng những phương tiện liên kết cùng loại xét ở
phương tiện cái biểu hiện được gọi là phép liên
kết. Có các phép liên kết chính sau đây: phép
lặp, phép thế, phép liên tưởng, phép nghịch đối,
phép nối.
- Phép thế là cách thay những từ ngữ nhất định
bằng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương
(cùng chỉ sự vật ban đầu, còn gọi là có tính chất
đồng chiếu) nhằm tạo tính liên kết giữa các phần
văn bản chứa chúng. Có 2 loại phương tiện dùng
trong phép thế là thay thế bằng từ ngữ đồng
nghĩa và thế bằng đại từ.
Dùng phép thế không chỉ có tác dụng tránh lặp
đơn điệu, mà còn có tác dụng tu từ nếu chọn
được những từ ngữ thích hợp cho từng trường
hợp dùng.
- Phép lặp là cách dùng đi dùng lại một yếu tố
ngôn ngữ, ở những bộ phận khác nhau (trước hết
ở đây là những câu khác nhau) của văn bản
chúng trong văn bản.
Phép liên tưởng khác phép thế ở chỗ trong phép
thế thì dùng những từ khác nhau để chỉ cùng một
sự vật; trong phép liên tưởng, đó là những từ
ngữ chỉ những sự vật khác nhau có liên quan đến
nhau theo lối từ cái này mà nghĩ đến cái kia (liên
tưởng).
Sự liên tưởng có thể diễn ra giữa những sự vật
cùng chất cũng như giữa những sự vật khác chất.
- Tương phản -Phép nghịch đối sử dụng những
từ ngữ trái nghĩa vào những bộ phận khác nhau
có liên quan trong văn bản, có tác dụng liên kết
17
các bộ phận ấy lại với nhau. Những phương tiện
liên kết thường gặp dùng trong phép nghịch đối
là:
+ Từ trái nghĩa
+ Từ ngữ phủ định (đi với từ ngữ không bị phủ
định)
+ Từ ngữ miêu tả (có hình ảnh và ý nghĩa nghịch
đối)
+ Từ ngữ dùng ước lệ
- Phép tỉnh lược là cách rút bỏ những từ ngữ có
ý nghĩa xác định ở những chỗ có thể rút bỏ và
muốn hiểu được thì phải tìm những từ ngữ có ý
nghĩa xác định ấy ở những câu khác.
4. Phong cách chức năng
Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt:
văn,văn bản).
a/ Tính khái quát, trừu tượng.
b/ Tính lí trí, lô gíc.
c/ Tính khách quan, phi cá thể.
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật:
- Khái niệm:
+ Là loại phong cách ngôn ngữ được dùng trong
các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (Văn
xuôi nghệ thuật, thơ, kich).
- Đặc trưng:
+ Tính thẩm mĩ.
+ Tính đa nghĩa.
+ Thể hiện dấu ấn riêng của tác giả.
Phong cách ngôn ngữ chính luận:
- Khái niệm: Là phong cách ngôn ngữ được
dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ tư
tưởng, lập trường, thái độ với những vấn đề thiết
thực, nóng bỏng của đời sống, đặc biệt trong lĩnh
19
vực chính trị, xã hội.
- Mục đích: Tuyên truyền, cổ động, giáo dục,
thuyết phục người đọc, người nghe để có nhận
thức và hành động đúng.
- Đặc trưng:
+ Tính công khai về quan điểm chính trị: Rõ
ràng, không mơ hồ, úp mở.
Tránh sử dụng từ ngữ mơ hồ chung chung, câu
nhiều ý.
dùng để thong báo tin tức thời sự trong nước và
quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư
luận quần chúng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ xã
hội.
+ Là phong cách được dùng trong lĩnh vực thông
tin của xã hội về tất cả những vấn đề thời sự:
(thông tấn có nghĩa là thu thập và biên tập tin
tức để cung cấp cho các nơi).
Một số thể loại văn bản báo chí:
+ Bản tin: Cung cấp tin tức cho người đọc theo 1
khuôn mẫu: Nguồn tin- Thời gian- Địa điểm- Sự
kiện- Diễn biến-Kết quả.
+ Phóng sự: Cung cấp tin tức nhưng mở rộng
phần tường thuật chi tiết sự kiện, miêu tả bằng
hình ảnh, giúp người đọc có 1 cái nhìn đầy đủ,
sinh động, hấp dẫn.
+ Tiểu phẩm: Giọng văn thân mật, dân dã,
thường mang sắc thái mỉa mai, châm biếm
nhưng hàm chứa 1 chính kiến về thời cuộc.
5. Biện pháp tu tư
So sánh: Là cách công khai đối chiếu hai hay
nhiều đối tượng có một nét tương đồng nào đó
về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong
để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm
21
mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe.
Ví dụ:
Công cha như núi thái sơn
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
(Việt Bắc - Tố Hữu)
Nói quá- phóng đại- thậm xưng; Khoa trương:
Là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu quy mô,
tính chất, mức độ... của đối tượng được miêu tả
so với cách biểu hiện bình thường nhằm mục
đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối
tượng được miêu tả.
Ví dụ:
Nhác trông thấy bóng anh đây
Ăn chín lạng hạt ớt thấy ngọt ngay như đường.
(Ca dao)
-Nói giảm- nói tránh; Nói giảm: Là biện pháp tu
từ dùng hình thức biểu đạt giảm bớt mức độ hơn,
nhẹ nhàng hơn, mềm mại hơn để thay thế cho sự
biểu đạt bình thường cần phải lảng tránh do
những nguyên nhân của tình cảm. Nói giảm
không có phương tiện riêng mà thường được
thực hiện thông qua các hình thức ẩn dụ hay
hoán dụ tu từ. Biện pháp tu từ này thường được
dùng để nói về cái chết.
Ví dụ:
Áo bào thay chiếu anh về đất
(Tây Tiến - Quang Dũng)
-Điệp tư- điệp ngữ Là biện pháp lặp đi lặp lại
những từ ngữ nào đó nhằm mục đích mở rộng,
nhấn mạnh ý nghĩa hoặc gợi ra những cảm xúc
trong lòng người đọc.
Ví dụ:
"Tin vui chiến thắng trăm miền
Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
Vui từ Đồng Tháp, An Khê
24
Vui lên Việt Bắc, đồi De, núi Hồng."
+ Phép liệt kê tăng tiến:
"Thể điệu ca Huế có sôi nổi, tươi vui, có buồn
cảm, bâng khuâng, có tiếc thương, ai oán,..."
Câu hỏi tu tư Là loại câu hỏi đặc biệt không
nhằm mục đích lấy thông tin mà nhằm thể hiện 1
tâm trạng, 1 cảm xúc.Trong câu hỏi tu từ thường
bao hàm câu trả lời.
VD: Tây Bắc ư? có riêng gì Tây Bắc
- Cách sử dụng từ láy…
Các loại từ láy:
+Láy toàn phần
VD: xanh xanh, đỏ đỏ....
+Láy phụ âm đầu
VD: Lấp lửng, lập lòe...
+Láy phụ âm cuối
VD:lom khom, lác đác....
Tác dụng: nhấn mạnh vào nội dung mà từ láy
chuyển tải.
6. Kiểu câu
-Các loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp
- Các loại câu phân loại theo mục đích nói (trực
tiếp, gián tiếp).
- Câu tỉnh lược, câu đặc biệt, câu khẳng định,