123DOC.ORG
THƯ VIỆN TRI THỨC1102
ÔN THI THPT QUỐC GIA
`
MÔN: NGỮ VĂN
(TÀI LIỆU ĐỘC QUYỀN DO THƯ VIỆN TRI THỨC1102 SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN) 2015 - 2016
TÂY TIẾN
- Quang Dũng -
A. KHÁI QUÁT
1. Tác giả:
Quang Dũng là một nghệ sỹ đa tài: làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc, viết văn… nhưng
hơn hết ông vẫn là một nhà thơ xuất sắc của thi ca Việt Nam hiện đại, một nhà thơ trưởng
thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp, một hồn thơ phóng khoáng và tâm huyết, tinh tế và
lãng mạn.
2. Tác phẩm:
2.1. Vị trí:
Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu cho đời thơ của Quang Dũng, trong đó thể hiện tập trung
những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Tây Tiến cũng là một
trong những bài thơ hay nhất trong số những bài viết về đề tài người lính thời kỳ kháng
chiến chống Pháp.
2.2. Cảm hứng sáng tác:
Với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã trở thành khúc ca bi
tráng phản ánh chân thực cuộc sống, chiến đấu gian khổ, sự hy sinh anh dũng và vẻ đẹp
Tiến”.
+ Năm 1957, khi in lại trong tập “Mây đầu ô”, tác giả đổi nhan đề bài thơ thành “Tây
Tiến”
=> Hoàn cảnh sáng tác cho thấy rõ hơn nỗi nhớ da diết của nhà thơ với đơn vị cũ và
mảnh đất miền Tây đầy kỷ niệm, nỗi nhớ đã trở thành cảm xúc trữ tình xuyên suốt bài thơ.
Hoàn cảnh sáng tác cũng đồng thời giúp người đọc hiểu rõ hơn vẻ đẹp hòa hoa, hào hùng
của chiến sỹ Tây Tiến, hiểu được ng/x bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn - những
yếu tố làm nên chất bi tráng rất đặc biệt cho bài thơ.
B. TÌM HIỂU TÁC PHẨM:
Nỗi nhớ về chặng đường hành quân gian lao vất vả của chiến sỹ Tây Tiến
qua vùng núi rừng miền Tây
1. Hai câu đầu: thể hiện cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ và của bài thơ
- Câu thơ đầu chia thành 2 vế trong nhịp ngắt 4/3:
“Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi!”
+ Sông Mã là dòng sông chảy dọc theo địa bàn biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Mộc
Châu, Sầm Nưa, Mai Châu, Quan Hóa… Đây là dòng sông nhiều ghềnh thác, đổ dốc dữ dội,
một mình băng băng giữa núi rừng hùng vĩ, hai bên bờ sông còn rải rác mồ chiến sỹ Tây
Tiến. Vì thế, Sông Mã vừa là 1 cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, vừa là hình ảnh của vùng đất
miền Tây. Sông Mã còn là 1 dòng sông gắn liền với chặng đường hành quân của trung
đoàn, từng chứng kiến và chia sẻ những buồn vui, những mất mát hy sinh, từng “gầm lên
khúc độc hành” tiễn đưa tử sỹ. Sông Mã là 1 hình ảnh thiên nhiên miền Tây đựng đầy kỷ
niệm về trung đoàn Tây Tiến. Hành hương về quá khứ, Quang Dũng đã nhắc đến Sông Mã
như 1 biểu tượng đầu tiên của nỗi nhớ nhung.
+ Bài thơ được viết khi Quang Dũng đang ở Phù Lưu Chanh, xa trung đoàn, xa đồng
đội, xa núi rừng miền Tây và dòng sông Mã thân yêu. Nhịp 4/3 với dấu ngắt giữa dòng tạo
cảm giác như có 1 phút ngừng lặng để cảm nhận sự trống trải mênh mông trong thực tại bởi
“Sông Mã xa rồi”, để rồi sau đó hiện tại mờ đi, nỗi nhớ ùa vào trong tiếng gọi tha thiết hướng
về quá khứ: “Tây Tiến ơi!”. Tiếng gọi ấy không dừng lại trong câu 1 mà như được ngân nga,
nối tiếp trong những vần “ơi” của từ láy “chơi vơi” ở câu 2 - phép điệp vần tinh tế khiến tiếng
gọi như âm vang, đập vào vách đá, dội lại lòng người, da diết, bâng khuâng…
Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
+ Bút pháp hiện thực trong câu trên đã mô tả một đoàn quân dãi dầu, mệt
mỏi, thấp thoáng ẩn hiện trong sương. Nhịp ngắt 4/3 khiến trọng tâm câu thơ rơi vào từ “lấp”
ở cuối vế đầu. Với việc này, nhà thơ đã cho thấy màn sương rừng miền Tây mênh mông,
dày đặc, che kín cả một đoàn quân, trùm phủ, khuất mờ rừng núi, khiến con đường hành
quân của các chiến sỹ thêm vất vả, gian nan.
+ Với câu sau, hiện thực khắc nghiệt đã được thi vị hóa bởi cảm hứng lãng
mạn: Đêm sương thành “đêm hơi” bồng bềnh, những ngọn đuốc soi đường di chuyển dọc
theo hàng quân được nhìn như những đóa hoa chập chờn, lung linh, huyền hoặc… Những
thanh bằng nhẹ bẫng trong câu thơ càng làm đậm thêm sắc hư ảo của màu sương rừng. Sự
khắc nghiệt của thiên nhiên đã được cảm nhận một cách thi vị bởi những tâm hồn lãng mạn,
hào hoa…
- Dốc núi: Nhắc đến miền Tây không thể nào quên sự hiểm trở và hùng vĩ vô cùng
của dốc núi. Đoạn thơ mô tả dốc núi miền Tây đã làm hiện ra sắc nét khung cảnh thiên
nhiên hùng vĩ và hiểm trở ấy, qua đó cũng đồng thời làm hiện ra cuộc hành quân gian lao và
vất vả, ý chí bất khuất kiên cường, tinh thần lạc quan, yêu đời của người lính Tây Tiến.
Đọc đoạn thơ mô tả dốc núi của Quang Dũng, người đọc có thể nhớ tới con đường
khó khăn lên xứ Thục của Lý Bạch xưa:
“Thục đạo nan! Thục đạo nan
Nan ư hướng thiên thanh”
Nghĩa là:
Đường lên xứ Thục khó thay
Khó như đi lên trời xanh
+ Câu thơ đầu trực tiếp miêu tả dốc núi miền Tây:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
. Câu thơ ngắt nhịp 4/3, từ “dốc” điệp lại ở đầu 2 vế câu thể hiện sự trùng
điệp, chồng chất, nối tiếp như tới vô tận của những con dốc, cũng phần nào gợi ra những
nỗi nhọc nhằn của người lính trên đường hành quân: con dốc này chưa qua, con dốc khác
lại đợi sẵn, núi rừng miền Tây như muốn thử thách nghị lực của các anh.
. Sự hiểm trở của dốc núi miền Tây đã hiện ra trong ý nghĩa tạo hình của
điệp ngữ “ ngàn thước” cộng chất tương phản của các động từ “ lên”, “xuống” trong hai vế
câu đã tạo ra một nét gập đột ngột, dữ dội đặc tả độ cao của dốc, độ sâu của vực, bên này
đường lên núi dựng đứng vút cao, bên kia vực đổ xuống hun hút hiểm trở
=> Trong 3 câu thơ đặc biệt giàu chất tạo hình, dốc núi miền Tây đã được miêu tả
một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng đều khắc họa được đồng thời cả sự hiểm trở lẫn vẻ
đẹp ký thú, thông qua bức tranh thiên nhiên có thể thấy những vẻ đẹp trong tâm hồn người
lính Tây Tiến: Họ lạc quan, mạnh mẽ, coi thường mọi gian truân, những khó khăn thử thách
của thiên nhiên chỉ làm rõ hơn ý chí, sức mạnh tâm hồn trẻ trung và tư chất nghệ sỹ của họ
- Mưa rừng: Sau những câu thơ hun hút nhọc nhằn miêu tả dốc núi, câu thơ tả mưa
miên man trong 7 thanh bằng với rất nhiều âm thanh mở, câu thơ đã gợi tả một không gian
mênh mông, dàn trải, nhạt nhòa trong mưa:
“Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
+ Hình ảnh “mưa xa khơi” có thể coi là một ẩn dụ cho thấy cả thung lũng mờ
mịt như loãng tan trong biển mưa, không gian bỗng như mênh mông, xa vời hơn. Sau
những chặng đường hành quân gian khổ, người lính như đang dừng chân đâu đó đưa mắt
nhìn cảnh núi rừng chìm trong mưa. Ánh mắt những người lính xa nhà bâng khuâng hướng
tới những ngôi nhà bồng bênh thấp thoáng trong màn mưa hư ảo… Sắc thái phiếm chỉ khiến
cụm từ “nhà ai” trở nên mơ hồ, xa xăm; sắc thái nghi vấn gợi nỗi trăn trở trong lòng người.
Cả câu thơ chỉ có duy nhất tiếng “nhà” mang thanh huyền như một thoáng trầm lắng suy tư
để rồi sau đó tất cả là những thanh không chơi vơi trong nỗi nhớ.
+ Giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa núi rừng mênh mông, hình ảnh những ngôi
nhà đã gợi cảm giác ấm áp, nhớ nhung, dễ làm xao xuyến lòng người xa quê.
- Núi rừng thâm u: Núi rừng miền Tây được miêu tả trong những nét vẽ đầy ấn
tượng:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
+ “Thác gầm thét” và “cọp trêu người” là hai hình ảnh nhân hóa thể hiện sự
dữ dội, hoang sơ đầy bí hiểm của núi rừng miền Tây. Bút pháp đối lập của cảm hứng lãng
mạn được sử dụng trong phép đối thanh rất tinh tế ở hai câu thơ này: nếu câu trên có “thác”,
“thét” mang thanh trắc ở âm vực cao thì âm dưới là “hịch”, “cọp” cũng mang thanh trắc
khắc nghiệt của chiến tranh đã được Quang Dũng biểu hiện bằng cách nói thật lãng mạn để
qua đó làm hiện lên không phải khó khăn mà là tinh thần dũng cảm vượt lên khó khăn, đó
chính là vẻ đẹp hào hùng của người chiến binh Tây Tiến.
- Con đường hành quân của chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có gian truân vất vả mà còn
có cả những kỷ niệm ngọt ngào, thắm thiết ân tình. Miền Tây không chỉ có núi cao, rừng
sâu…, miền Tây còn còn có những bản làng nên thơ với khói lam chiều ấm áp quện bên
sườn núi, có hương thơm quyến rũ của xôi nếp hương và nhất là có những sơn nữ tình tứ
và xinh đẹp:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
+ Hai câu thơ là những cụm từ ngữ đã được xóa đi các yếu tố kết nối khiến
cho nó mang dáng dấp như một bức tranh ấn tượng, một bức tranh của nghệ thuật sắp đặt,
trong đó ghi lại tổng hợp những ấn tượng của cả thị giác, thính giác, khứu giác và thậm chí
cả xúc giác.
+ Mở đầu bằng cụm từ “nhớ ôi…”, câu thơ đã bộc lộ cảm xúc nhớ nhung
dâng trào mãnh liệt sau những chặng đường hành quân giữa mưa rừng buốt lạnh, giữa
những tiếng chân thú rình rập đầy đe dọa, bát cơm mới thơm ngào ngạt cùng làn khói bếp
mỏng manh vương vấn quấn quýt phút dừng chân ở Mai Châu, một bản làng miền Tây, tất
cả đã đem đến cảm giác thanh bình thật hiếm hoi, quý giá trong chiến tranh. Giống như âm
thanh tiếng gà trưa trên đường hành quân của anh chiến sỹ trong bài thơ Xuân Quỳnh,
hương thơm bát xôi nếp đầu mùa ở Mai Châu sẽ mãi là một kỷ niệm khó quên về tình cảm
quân dân ấm áp trong cả đời người lính chiến.
+ Câu “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” gợi ra nhiều cách hiểu. Có thể hiểu
các chiến sỹ Tây Tiến dừng chân ở Mai Châu giữa mùa lúa chín, đón nhận bát xôi ngào ngạt
hương nếp đầu mùa và tình em thơm thảo… Cũng có thể hiểu theo một nét thật lãng mạn
của cụm từ “mùa em”. Người ta thường chỉ nói “mùa hoa”, “mùa quả”… Đó là thời điểm căng
tràn, sung mãn, đầy ắp sắc hương của hoa trái… Quang Dũng đã tạo ra một nghĩa mới mẻ,
táo bạo và thật đa tình về mùa em khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danh với kỷ
niệm thơm thảo của hương nếp đầu mùa, Mai Châu còn gợi nhớ hình ảnh về những cô gái
miền Tây duyên dáng. Có người lính nào quên được giây phút dừng chân ở Mai Châu, khi
đêm hơi” thì lần này, trong một đêm lửa trại giữa bản mường miền Tây, bút pháp lãng mạn
đã khiến ảnh lửa bập bùng nơi đóng quân trở thành đuốc hoa rực rỡ, gợi những liên tưởng
thú vị, đem đến sự náo nức, rạo rực trong lòng người, khiến đêm liên hoan giữa bộ đội và
dân làng trở thành đêm hội tưng bừng.
+ Cụm từ “bừng lên” là một nốt nhấn tươi sáng cho cả câu thơ, nó đem đến
ấn tượng về ánh sáng và đây là ánh sáng chói lòa, đột ngột của lửa, của đuốc, xóa đi cái tối
tăm lạnh lẽo của núi rừng, thể hiện niềm vui sướng, rạo rực trong lòng người. Người đọc
còn có thể hình dung ra những ánh mắt ngỡ ngàng, những gương mặt bừng sáng của các
chiến sỹ, bừng sáng vì sự phản chiếu của ánh lửa bập bùng đêm hội, bừng sáng còn vì
ngọn lửa ấm nóng trong tâm hồn, ngọn lửa của niềm vui trẻ trung, lạc quan, ngọn lửa của
tình yêu với con người và mảnh đất miền Tây.
- Câu 2: Hình ảnh trung tâm của hội đuốc hoa là các thiếu nữ miền sơn cước:
“Kìa em xiêm áo tự bao giờ”
+ Từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” đã bộc lộ cảm giác vừa ngỡ ngàng
thú vị, vừa ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sỹ trước sự xuất hiện của các cô gái miền
Tây. Đó là cảm giác rất chân thực trong một dịp vui hiếm hoi sau bao ngày hành quân giữa
rừng già với núi cao, dốc thẳm, sương dày, với mua rừng và thú dữ. Với niềm vui tỏa ra từ
câu thơ, Quang Dũng còn đưa người đọc đến một cảm nhận thú vị khi liên tưởng tới câu thơ
đầu. “Doanh trại bừng lên” hình như không chỉ vì ánh sáng của lửa, của đuốc mà còn vì sự
xuất hiện đột ngột của các sơn nữ miền Tây.
+ Các cô gái hiện lên với hai ấn tượng đẹp đẽ bởi bút pháp mỹ lệ hóa trong
“xiêm áo” lộng lẫy và nét “e ấp” đầy nữ tính. Những ấn tượng ấy khiến các cô đẹp hơn trước
một đoàn quân “xanh màu lá”, duyên dáng hơn trước những người lính “dữ oai hùm”. Nét
tương phản của cảm hứng lãng mạn đã tạo nên chất thi vị làm dịu đi rất nhiều hiện thực
khắc nghiệp của chiến tranh.
+ Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, say đắm trước vẻ đẹp của
những thiếu nữ miền Tây e ấp và duyên dáng mà còn mơ màng trong “man điệu” núi rừng.
“Man điệu” có thể hiểu là vũ điệu uyển chuyển của các sơn nữ, cũng có thể là giai điệu mới
mẻ của vùng đất lạ trong tiếng “khèn lên” mê hoặc lòng người. Với tâm hồn hào hoa nghệ
sỹ, đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp, người lính Tây Tiến say đắm chiêm ngưỡng và cảm nhận
xác” lòng người. Hoa lau thường mọc ven bờ sông, triền núi, nơi vắng người qua lại. Trong
những năm tháng quá khứ, người chiến sỹ Tây Tiến hành quân giữa núi rừng miền Tây, bên
dòng sông Mã, giữa phơ phất ngàn lau, lau như linh hồn của rừng núi chia sẻ buồn vui với
chiến sỹ trên đường hành quân. Nay người đã đi xa, ngàn lau vẫn ở lại giữa mênh mông gió
núi, cảm giác về những bờ lau cô đơn “nẻo bến bờ” khiến nỗi nhớ càng xao xác trong lòng
người đã chia xa miền Tây.
+ Câu hỏi thứ hai dành cho con người miền Tây:
“Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đung đưa”
Trong làn sương mờ của hoài niệm, con người miền Tây chỉ hiện lên như một
bóng dáng mờ xa huyền ảo. Dáng người ấy vừa cứng cỏi, kiên cường trên con thuyền “độc
mộc” đè thác lũ băng băng lướt tới, vừa mềm mại, duyên dáng trong hình ảnh ẩn dụ “hoa
đung đưa”. Nếu “hoa đung đưa” gợi hình hơn biểu cảm và chủ yếu gợi hình ảnh những cánh
hoa dập dờn đôi bờ sông thì “hoa đung đưa” không dừng lại ở nét nghĩa cụ thể ấy mà còn
gợi tả tinh tế dáng vẻ dịu mềm, tình tứ của những sơn nữ miền Tây - đó là một sáng tạo mới
mẻ về ngôn từ, thể hiện chất lãng mạn rất đặc sắc của hồn thơ Quang Dũng.
III/ Kết luận:
- Nghệ thuật: Đoạn thơ đã sử dụng những từ ngữ đặc biệt có giá trị biểu hiện và biểu
cảm như “bừng”, “hồn lau”, “đung đưa”… bút pháp thi trung hữu nhạc và thi trung hữu họa
đã đem đến chất nhạc, chất họa đặc sắc cho bài thơ, với những câu thơ tái hiện sinh động
một không gian huyền ảo, với những đường nét thi vị, tràn ngập âm thanh, lung linh ánh
sáng; những câu thơ khi rạo rực hân hoan, khi bâng khuâng xa vắng, khi mơ mộng bồng
bềnh.
- Nội dung: Bút pháp lãng mạn đậm nét trong đoạn thơ đã khắc họa vẻ đẹp thơ mộng
của cảnh và người miền tây qua cảm nhận của những người lính phong trần có tâm hồn
nghệ sỹ. Giữ được tâm hồn mộng mơ lãng mạn ngay trong những năm tháng vất vả gian
truân không chỉ thể hiện được nét hào hoa mà còn là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh
hào hùng để các anh chiến đấu và chiến thắng. Những giá trị nội dung và nghệ thuật đặc
sắc trong bài thơ đã góp phần khắc họa vẻ đẹp toàn vẹn cho bức chân dung người lính Tây
Tiến trong bài thơ cùng tên của Quang Dũng.
màu lá” là cách diễn đạt đẹp và thanh về một hiện thực thô ráp nặng nề trong chiến tranh.
+ Và ngay trong vế sau của câu thơ đã là một tương phản độc đáo với hình
ảnh “dữ oai hùm” - trên những gương mặt xanh xao gầy ốm của người lính vẫn toát lên nét
dữ dội kiêu hùng, vẻ uy nghi lẫm liệt, tựa như những vị chúa tể rừng xanh! Cũng với hình
ảnh về một “đoàn binh không mọc tóc”, những gương mặt “dữ oai hùm” cũng là nét vẽ đặc
sắc, ấn tượng của cảm hứng lãng mạn trong bức chân dung phi thường về người chiến binh
Tây Tiến.
+ Hình ảnh ẩn dụ “dữ oai hùm” còn gợi liên tưởng tới “cọp trêu người” ở đoạn
trên - một liên tưởng thú vị, tự hào: dường như ở miền đất có bóng hổ rình rập đe dọa với
“cọp trêu người” thì người lính cũng phải có “oai hùm” dữ dội, uy nghi để chế ngự và chiến
thắng.
=> Miêu tả người chiến sỹ Tây Tiến trong gian khổ, bệnh tật nhưng Quang
Dũng không chú trọng vào gian khổ cùng hậu quả của nó mà nghiêng về ca ngợi vẻ đẹp phi
thường, lãng mạn, hào hùng
b) Hai câu sau:
Bức tượng đài chiến sỹ Tây Tiến không chỉ có nét ngang tàng oai phong trong dáng vẻ uy
nghi dữ dội mà còn được thể hiện ở chiều sâu đẹp đẽ trong tâm hồn:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiềm thơm”
+ “Mắt trừng” là ánh mắt mở to hướng thẳng về phía trước, ánh mắt ngời lên
ý chí chiến đấu, khát vọng chiến thắng, cái khát vọng gửi trong mộng chiến trường, giấc
mộng cao đẹp của những người trai thời loạn. Ánh mắt ấy thực chất là một hình ảnh ước lệ
của cảm hứng lãng mạn nhằm tôn thêm sự oai phong lẫm liệt trong dáng vẻ, nét kiêu hùng
ngạo nghễ trong tâm hồn những người lính có lý tưởng và khát vọng lớn lao, ra đi vì nghĩa
lớn như những tráng sỹ xưa “Giã nhà đeo bức chiến bào - Thét roi cầu vị ào ào gió thu”.
+ Những chàng trai Hà Nội ra đi vì sức vẫy gọi mãnh liệt của lý tưởng song
trái tim của họ vẫn dành một góc lưu luyến nhớ nhung về “Hà Nội dáng kiều thơm”. Theo
cấu trúc câu, có thể hiểu người lính miền viễn xứ khi xa quê vẫn mơ màng nhớ về Hà Nội,
nhớ về thủ đô hoa lệ đẹp như một dáng kiều thơm; cũng có thể hiểu theo một cách rất lãng
mạn đó là nỗi nhớ về những thiếu nữ Hà thành với vóc dáng đáng yêu, kiều diễm. Qua hình
càng lạnh lẽo hơn khi các anh không được nằm bên nhau, những nấm mồ cứ rải rác trên
từng chặng đường hành quân gian khổ, những nấm mồ thiếu hơi ấm của gia đình, quê
hương - sự hy sinh của các anh càng làm đau lòng người sống. Tây Tiến là một trong số ít
những tác phẩm văn chương thời chống Pháp trực tiếp miêu tả sự mất mát hy sinh của
người lính, thậm chí bằng những câu thơ gợi nỗi bi thương, đau xót nhất.
- Câu thứ hai: Tuy nhiên Tây Tiến bi mà không lụy, ảm đạm mà không yếu mềm, cảm
hứng bi tráng đã trở thành âm hưởng chủ đạo của đoạn thơ và của bài thơ.
+ Một trong những yếu tố đem đến sắc thái mạnh mẽ và hào hùng cho đoạn
thơ chính là việc Quang Dũng đã sử dụng một loạt các từ Hán Việt như: biên cương, viễn
xứ, chiến trường, độc hành khiến sự hy sinh của chiến sỹ Tây Tiến được đặt vào một
không khí thiêng liêng trang trọng tạo tâm thế ngưỡng mộ đầy tôn kính cho người đọc.
+ Và cảm giác ảm đạm ngậm ngùi trong câu 1 đã nhanh chóng được xóa đi
bởi tứ thơ mạnh mẽ, rắn rỏi như một lời tuyên thệ trong câu 2:
“Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”
. Hình tượng thơ đậm nét bi tráng, phảng phất hình ảnh những tráng sỹ
xưa: “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”, những con người sẵn sàng gạt tình riêng ôm chí
lớn “ra đi không vương thê nhi”. Cũng với cách diễn đạt chủ động trong kiểu câu phủ định,,
câu thơ đã tô đậm lý tưởng cao cả và khí phách kiên cường của những người chiến sỹ anh
hùng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
. “Đời xanh” là hình ảnh ẩn dụ cho tuổi thanh xuân, thời gian đẹp nhất
trong đời, quãng thời gian một đi không trở lại; nhịp đi liền mạch trong câu thơ “chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh” cho thấy ý chí quyết tâm cao độ của những người thanh niên ưu tú
sẵn sàng hiến dâng cuộc đời và tuổi thanh xuân, cũng có nghĩa là sẵn sàng hiến dâng phần
đời đẹp nhất cho đất nước, đó cũng là tâm nguyện, là ý chí cao đẹp của những người thanh
niên Việt Nam thời chống Mỹ đã được Thanh Thảo thể hiện trong những câu thơ chânh
thành, xúc động:
“Chúng tôi - đã đi không tiếc đời mình
Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc”
+ Như vậy, sau câu thơ đầu nói về cái chết, về những nấm mồ, câu thơ tiếp
- Câu thứ tư: Âm hưởng bi tráng được gợi ra từ hình tượng người chiến sỹ Tây Tiến
đã được đẩy lên tới đỉnh điểm trong câu kết đoạn:
“Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
+ Sông Mã đã từng xuất hiện trong tiếng gọi tha thiết ở đầu bài thơ “Sông
Mã ” như một biểu tượng của miền Tây, của chiến khu, nay trở lại với âm thanh dữ dội, hào
hùng của cảnh tiễn đưa tử sỹ. Không phải là “vang lên” hay “cất lên”, cụm từ “gầm lên” đã
thể hiện trọn vẹn tính chất dữ dội trong những cung bậc tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc: bi
phẫn, đau xót, tiếc thương, cảm phục
+ Sông Mã từng gắn bó với các anh trong suốt chặng đường hành quân gian
khổ qua miền Tây, nay Sông Mã lại là chứng nhân lịch sử thay lời cho cả thiên nhiên trời
đất, núi sông, gầm vang “khúc độc hành” bi tráng đưa tiễn những người con yêu quý trở về
yên nghỉ trong lòng đất mẹ. Ý nghĩa của khúc độc hành vừa mạnh mẽ, hào tráng, vừa phảng
phất âm hưởng cô đơn gợi nỗi ngậm ngùi buồn bã. Đây là cảm giác không tránh khỏi khi
đứng trước cái chết, khi phải tiễn đưa những người thân yêu trong chuyến ra đi cuối cùng
đơn độc.
3. Đoạn kết: Khúc vỹ thanh nhớ nhung về Tây Tiến
- Trở về với hiện tại, Tây Tiến đã lùi xa trong ký ức, trong nỗi nhớ thương:
“Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi”
+ Tác giả nhắc tới hình ảnh “người đi” trong những nét nghĩa mơ hồ: đó có
thể là những chiến binh Tây Tiến, những chàng trai Hà Nội năm xưa từ biệt quê hương, ra đi
Tây Tiến “không hẹn ước” ngày về, cách hiểu này gợi niềm thương mến, cảm phục với
những “người chiến sỹ, mùa thu ấy ra đi từ đó không về ” (lời một bài hát); cũng có thể hiểu
đó là thời điểm cuối năm 1948 khi Quang Dũng đang ở Phù Lưu Chanh, bâng khuâng nhớ
về việc mình đã chia xa trung đoàn Tây Tiến “không hẹn ước” ngày về, đã từ biệt miền Tây
không biết bao giờ gặp lại.
+ Đoạn kết còn đồng thời mở ra một không gian thăm thẳm, xa xa, mịt mờ
của “đường lên” với miền Tây, với Tây Tiến - cái xa xăm mịt mờ ấy càng làm đậm thêm cảm
giác “chia phôi” ngăn cách với những người thân yêu nhất trong lòng nhà thơ, một cựu chiến
binh Tây Tiến.
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa:
- Nền văn học vận động và phát tiển dưới sự lãnh đạo của Đảng CS, thống nhất về
khuynh hướng tư tưởng, tổ chức và quan niệm nhà văn mới: nhà văn - chiến sỹ
- Đất nước diễn ra nhiều sự kiện lớn lao: cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và công
cuộc xây dựng cuộc sống, con người mới ở miền Bắc.
2. Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
2.1. Chặng đường 45-54:
Văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống Pháp với chủ đề bao trùm là ca ngợi
Tổ quốc và quần chúng Cách mạng, ca ngợi cuộc kháng chiến và con người kháng chiến,
văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng, kháng chiến, hướng tới đại chúng, phản
ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân, thể hiện niềm tự hào dân tộc, niềm tin vào tương
lai tất thắng của cuộc kháng chiến.
+ Đôi mắt - Nam Cao
+ Làng - Kim Lân
+ Tập thể Việt Bắc - Tố Hữu
+ Cảnh khuya - Hồ Chí Minh
+ Tây Tiến - Quang Dũng
+ Bắc Sơn (kịch)
2.2. Chặng đường 55-64:
Đây là chặng đường văn học trong những năm xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải
phóng dân tộc ở miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà. Văn học tập trung thể hiện hình
ảnh cuộc sống mới, con người mới trong bước đầu xây dựng CNXH với cảm hứng lãng mạn
tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan tin tưởng, thể hiện tình cảm với miền Nam ruột thịt, ý chí
thống nhất đất nước.
+ Vợ nhặt
+ Mùa lạc
+ Vợ chồng A Phủ
+ Ba người trên sân ga
2.3 Chặng đường 65-75:
Văn học chặng đường này tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ với chủ đề bao trùm
- Văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản có ý nghĩa sống còn với vận
mệnh đất nước. Con người được khám phá ở những lẽ sống lớn, tình cảm lớn, thường là
những đại diện ưu tú cho cộng đồng, thể hiện phẩm chất, sức mạnh, vẻ đẹp và khát vọng
của cả cộng đồng, có số phận gắn liền với số phận cộng đồng. Lời văn mang giọng điệu
trang trọng, ngợi ca, tráng lệ và hào hùng.
- Cảm hứng lãng mạn được thể hiện trong việc khẳng định vẻ đẹp lý tưởng của cuộc
sống mới, con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai
tươi sáng của dân tộc.
B. VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN HẾT THẾ KỶ XX
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa:
Sau chiến thắng của cuộc vệ quốc vĩ đại 1975, đất nước ta bước vào thời kỳ độc lập tự do
và thống nhất. Hậu quả nặng nề của chiến tranh khiến đổi mới trở thành một đòi hỏi bức
thiết về mọi mặt, trong đó có văn hóa nghệ thuật. Trong thời kỳ đổi mới, nền kinh tế thị
trường và điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hóa các nước đã chi phối mạnh tới văn học.
1.1. Sự phát triển và đặc điểm cơ bản:
- Thơ ca: Không còn sức hấp dẫn mạnh mẽ như thời kỳ trước, một loạt các bản
trường ca ra đời với xu hướng tổng kết, khái quát về chiến tranh thông qua những trải
nghiệm của bản thân.
- Văn xuôi: Đặc biệt khởi sắc, có những đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt trong cả nội
dung và hình thức thực hiện, có sức hút cao với người đọc. Đó là những tác phẩm có nhu
cầu đổi mới cách viết về chiến tranh, nhìn nhận lại hiện thực đời sống. Từ sau Đại hội Đảng
VI 1986, văn học Việt Nam đã thực sự đổi mới với những tác phẩm có giá trị cao ở nhiều thể
loại: truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, bút
ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, kịch của Lưu Quang Vũ.
Nhìn chung văn học thời kỳ này vận động theo hướng dân chủ hóa mang tính nhân bản
nhân văn sâu sắc. Văn học đa dạng về đề tài, chủ đề, có tính hướng nội, đề cao cá tính
sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, khám phá con người cà đời sống, đặc biệt
chú ý tới số phận cá nhân trong cuộc sống đời tư - thế sự.
NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
A. QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC:
3. Hồ Chí Minh luôn đề cao tính chân thật và tính dân tộc của văn chương, coi đó là một tiêu
chí quan trọng để xác định vị trí của tác phẩm. Nhưng chân thật không có nghĩa là đơn giản,
sơ lược mà phải có tính nghệ thuật cao, Bác khuyên nghệ sỹ phải: “miêu tả cho hay, cho
chân thật, cho hùng hồn” những hiện thực phong phú của đời sống, phải “giữ tình cảm cho
chân thật”, nên “phát huy cốt cách dân tộc… giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.
Kết luận: Hồ Chí Minh đã thể hiện một cách nhất quán những quan điểm ấy trong sáng tác
của mình khiến tác phẩm của Bác luôn có tư tưởng sâu sắc, nội dung thiết thực, hình thức
nghệ thuật sinh động, phong phú.
B. SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC:
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là một nhà văn hóa
lớn. Bên cạng sự nghiệp chính trị, Người còn để lại cho nhân dân ta một sự nghiệp văn
chương lớn lao về tầm vóc tư tưởng, phong phú về thể loại và đặc sắc về phong cách. Tác
phẩm của Người được viết bằng tiếng Pháp, tiếng Hán và tiếng Việt với 3 loại hình nổi bật:
văn chính luận, truyện ký và thơ ca.
1. Văn chính luận:
- Nội dung và mục đích: trực tiếp tố cáo tội ác của kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm
vụ chính trị trong từng chặng đường lịch sử của cách mạng, kêu gọi quần chúng nhân dân
thực hiện những nhiệm vụ chính trị ấy.
- Nghệ thuật: Văn chính luận của HCM được viết không chỉ bằng lý trí sáng suốt, trí
tuệ sắc sảo mà còn bằng cả tấm lòng yêu ghét nồng nàn, được biểu đạt bằng những lời văn
chặt chẽ, súc tích.
- Tác phẩm: Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946)
2. Truyện ký:
- Nội dung và mục đích: Tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo của bọn thực dân đế
quốc, bọn phong kiến tay sai đối với nhân dân các nước thuộc địa, ca ngợi những tấm
gương yêu nước và cách mạng.
- Nghệ thuật: Các tác phẩm truyện ký của Bác được viết bằng bút pháp hiện đại với
nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tình huống truyện độc đáo, hình tượng sinh động…, thể hiện
trí tưởng tượng phong phú, vốn văn hóa sâu rộng, trí tuệ sắc sảo và trái tim tràn đầy nhiệt
tình yêu nước và cách mạng
thấm đượm cảm xúc, văn phong linh hoạt, khi ôn tồn thấu tình đạt lý, khi đanh thép, mạnh
mẽ, hùng hồn.
2. Truyện ký:
Tùy theo từng đối tượng tiếp nhận, Bác lựa chọn bút pháp, giọng điệu và văn phong thích
hợp. Nhìn chung, truyện ký Nguyễn Ái Quốc có phong cách rất hiện đại, thể hiện tính chiến
đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng sâu sắc. Tác phẩm thường tạo ra tiếng cười trào
phúng nhẹ nhàng hóm hỉnh nhưng … thâm thúy sâu cay. Bên cạnh đó, Bác còn có những
tác phẩm thắm thiết chất trữ tình làm xúc động lòng người. Chất trí tuệ và tính hiện đại là nét
đặc sắc của truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc.
3. Thơ ca:
a. Thơ tuyên truyền cách mạng
Thường được viết theo hình thức bài ca với lời lẽ giản dị mộc mạc, dễ hiểu dễ nhớ, mang
đậm màu sắc dân gian. Loại thơ này cũng rất đa dạng về hình thức:
- Thơ châm ngôn
- Thơ chúc Tết mừng xuân theo tục lệ cổ truyền dân tộc
- Thơ tuyên truyền, kêu gọi
- Thơ tặng bạn (thơ cù bạn)
b. Thơ ca nghệ thuật:
Hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển viết bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ phương Đông
với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển và bút pháp hiện đại.
- Màu sắc cổ điển: Thể hiện ở thể loại, ngôn ngữ, thi liệu, thi tứ quen thuộc trong cổ
thi, những đề tài truyền thống như thiên nhiên, tình bạn, thế sự. Các bút pháp cổ điển như
bút pháp chấm phá chủ yếu gợi mà ít tả, chỉ vài nét vẽ đơn sơ mà ghi lấy linh hồn tạo vật,
bút pháp tả cảnh ngụ tình khiến phong cảnh trở thành tâm cảnh, khiến thiên nhiên luôn thấm
đượm cảm xúc con người; Thơ Bác luôn đầy ắp thiên nhiên, nhân vật trữ tình luôn gắn bó
hòa nhập với thiên nhiên mang phong thái ung dung tự tại, tiên phong đạo cốt.
- Bút pháp hiện đại:
+ Chất hiện đại trong thơ Bác được thể hiện ngay ở tính dân chủ, đưa thơ ca
trở về gần gũi với cuộc đời; nhân vật trữ tình luôn ở vị trí trung tâm của bức tranh thiên
nhiên, không chịu sự chi phối của thiên nhiên mà thậm chí còn có tác động tích cực trở lại
Còn Pháp, để chuẩn bị cho cuộc xâm lược lần thứ hai, chúng đã đưa ra một chiêu bài rất dễ
đánh lừa công luận quốc tế: Pháp có công khai hóa Đông Dương, đây vốn là đất bảo hộ của
Pháp bị Nhật chiếm. Nay Nhật đã đầu hàng Đồng minh, Pháp đương nhiên có quyền trở lại
Đông Dương thay thế quân đội Nhật.
Hoàn cảnh ra đời đã cho thấy đối tượng và mục đích của bản Tuyên ngôn độc lập. Đối
tượng của bản Tuyên ngôn không chỉ là “đồng bào cả nước” như trong lời mở đầu mà còn là
các nước trên thế giới, chủ yếu là phe Đồng minh, trong đó có Anh, Mỹ, đặc biệt là Pháp.
Như vậy mục đích của bản Tuyên ngôn không chỉ là tuyên bố độc lập dân tộc, nội dung bản
tuyên ngôn còn có thể coi là một cuộc tranh luận ngầm đối với những đối tượng ấy để bác
bỏ luận điệu kẻ cướp của thực dân Pháp. Xác định được đối tượng và mục đích hướng tới
của bản Tuyên ngôn độc lập, người đọc sẽ hiểu sâu sắc hơn nội dung tư tưởng, giọng điệu
và cách lập luận của tác phẩm.
2. Nội dung chính (mục đích sáng tác):
- Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam trên cơ sở chân lý lẽ phải
không thể chối cãi, xuất phát từ thực tế Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật
đã chiến đấu ngoan cường để trở thành một nước tự do độc lập.
- Lên án, tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, kết hợp với những cứ liệu
hùng hồn để phủ nhận quyền của thực dân Pháp với Việt Nam, bác bỏ luận điệu xảo trá, sai
trái của chúng trước dư luận quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới
với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân
tộc.
- Khẳng định quyết tâm chiến đấu của nhân dân Việt Nam để giữ vững quyền tự do
độc lập.
Phân tích nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu của Tuyên ngôn độc lập
I/ Mở bài
- Hồ Chí Minh là tác gia lớn của Văn học Việt Nam. Di sản văn học của Người gồm
nhiều thể loại, trong đó văn chính luận giữ một vị trí đặc biệt quan trọng.
- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị cao về lịch sử và văn học, cũng đồng
thời là một mẫu mực về nghệ thuật lập luận trong văn chính luận.
- Đoạn mở đầu của tác phẩm đã thể hiện rõ nét và sinh động điều đó
tư tưởng tiến bộ và thành quả cách mạng vĩ đại của nhân loại, Cách mạng tháng Tám năm
1945 không phải sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nó xứng đáng được nhận sự
đống tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.
+ Việc trích dẫn cũng tỏ ra kiên quyết sắc sảo khi cảnh cáo thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ: họ không thể phản bội lý tưởng cao quý của chính tổ tiên mình, không thể chà
đạp lên lá cờ tự do - bình đẳng - bác ái mà tổ tiên họ từng giương cao.
Lời khẳng định sau khi trích dẫn: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là
cách lập luận “vừa khôn khéo, vừa kiên quyết” của HCM, là thủ pháp “lấy gậy ông đập lưng
ông” rất mạnh mẽ, đích đáng.
3. Hiệu quả của những lời luận bàn, mở rộng nâng cao:
- Sự “suy rộng ra” từ quyền con người tới quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng
của các dân tộc trên thế giới đã thể hiện tư duy lý luận sáng tạo của Đảng, của HCM, nhờ
đó, lời tuyên bố độc lập của Việt Nam trở thành chân lý của mọi thời đại. Đó cũng là đóng
góp lớn về tư tưởng của Chủ tịch HCM đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế
giới - 1 dòng thác cách mạng sẽ phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX.
- Một nhà hoạt động cách mạng thế giới đã khẳng định: “Cống hiến nổi tiếng nhất của
cụ HCM là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi dân tộc, như
vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình”.
III/ Kết luận:
Nghệ thuật lập luận trong đoạn mở đầu đã cho thấy Tuyên ngôn độc lập là một áng văn
chính luận chặt chẽ, lý lẽ đanh thép, văn phong trang trọng và trong sáng.
Giá trị lịch sử và giá trị văn học của Tuyên ngôn độc lập
1. Giá trị lịch sử
- Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử đúc kết nguyện vọng sâu sắc của dân
tộc Việt Nam về quyền độc lập, tự do, cũng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh gần
100 năm của dân tộc ta để có thể có được quyền thiêng liêng và chính đáng ấy.
- Bản Tuyên ngôn độc lập đã tuyên bố chấm dứt chế độc thực dân phong kiến ở Việt
Nam, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng cho dân tộc Việt Nam trên trường quốc
tế, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập, tự do, kỷ nguyên nhân dân
làm chủ đất nước.