tiểu luận cao học lịch sử lý luận công tác tư tưởngnhững giá trị khoa học của tuyên ngôn đảng cộng sản và sự vận dụng của đảng cộng sản việt nam vào hoàn cảnh nước ta hiện nay - Pdf 37

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm kinh điển chủ yếu của chủ
nghĩa xã hội khoa học. Những nguyên lý C .Mác và Ph.Ăng ghen trình bày
trong tác phẩm là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho toàn bộ phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế. Trải qua mọi thử thách, hơn một thế kỷ qua,
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi
giải quyết nhưng chủ nghĩa Mác không hề lỗi thời. Tuyên ngôn của Đảng
Cộng sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn đề về Đảng và xây dựng
Đảng. Những tư tưởng đó có ý nghĩa thiết thực trong công tác xây dựng Đảng
của Đảng ta.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản giữ địa vị đặc biệt quan trọng trong kho
tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sự ra đời của tác phẩm vĩ đại này đánh
dấu sự hình thành về cơ bản lý luận của chủ nghĩa Mác bao gồm ba bộ phận hợp
thành: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản còn là cương lĩnh chính trị của phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, là kim chỉ nam hành động của toàn bộ
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công
nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản, giải phóng loài người vĩnh viễn thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột giai cấp, bảo
đảm cho loài người được thực sự sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã đặt nền tảng tư tưởng cho những vấn
đề về đảng và xây dựng đảng. Những tư tưởng đó có ý nghĩa thiết thực trong
công tác xây dựng đảng của Đảng ta. Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn
luôn khẳng định: Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện quyết định mọi thắng lợi
của cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng là tất yếu trong tất cả các giai đoạn
cách mạng.
1





4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Giá trị khoa học của tác phẩm Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản và sự vận dụng của Đảng vào hoàn cảnh cách mạng Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nội dung tác phẩm và quan điểm tư
tưởng cơ bản của tác phẩm . Những giá trị của tác phẩm với sự vận dụng vào
cách mạng nước ta.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các
quan điểm đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu:: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử, phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu tài
liệu, phân tích tổng hợp.
6. Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận gồm phần mở đầu, nội dụng và kết luận. Trong đó nội dụng
gồm có 2 chương:
Chương I. Giá trị khoa học của tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản.
Chương II. Sự vận dụng những giá trị khoa học của tác phẩm Tuyên
ngôn của Đảng cộng sản vào hoàn cảnh cách mạng nước ta hiện nay.

3


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I.
GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA TÁC PHẨM
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
I. Hoàn cảnh ra tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
Đầu năm 1848, một văn kiện lịch sử chấn động thế giới ra đời.

Mác nghe Vai-tơ-lin nói vậy đã trả lời: ''Vậy làm thế nào để đánh đổ chế
độ xã hội cũ? Ông không chủ trương dùng bạo lực sao?” Vai-tơ-lin điềm
nhiên trả lời: ''Chuyện đó để bọn ăn mày, bọn kẻ cướp và bọn tội phạm làm,
còn công nhân chỉ cần tổ chức các cơ cấu phúc lơi và nhà ăn chung, xây dựng
công xã tự do tương ái, khiến mọi người đều bình đẳng. Theo quan điểm đó
cho nên ngọn cờ của ''Đồng minh những người chính nghĩa” mới mang khẩu
hiệu: ''Mọi người đều là anh em''”.
Mác nói: “Tôi biết rất nhiều người trong ''Đồng minh những người chính
nghĩa'' tin vào chủ nghĩa cộng sản bình quân của ông, nhưng ông không thể
thuyết phục giai cấp tư sản đem tài sản và quyền lực của mình phân phối đều
cho mọi người. Xin nói ngay rằng đó là ảo tưởng. Hiện nay, cái mà công nhân
cần là lý luận và đường lối chính xác chứ không phải là tình cảm và nguyện
vọng. Chỉ có tiến hành cách mạng vô sản mới lật đổ được chế độ tư bản. Đây
là con đường duy nhất đúng đắn''.
Mác và Vai-tơ-lin không thể đi đến thống nhất khi hai bên hoàn toàn
khác nhau về tư tưởng lý luận.
Mấy tháng sau, Mác và Ăng-ghen thành lập ở Bruc-xen ''Uỷ ban thông
tấn cộng sản''. Ngay sau đó, Uỷ ban đã liên lạc với nhiều chi bộ của ''Đồng
minh những người chính nghĩa”. Trong một cuộc họp của Uỷ ban, Mác và
Vai-tơ-lin đã tranh luận công khai. Khai mạc cuộc họp, Ăng-ghen tuyên bố:
''Cần phải có một luận điểm chung làm căn cứ cho hành động của những
người cộng sản''. Vai-tơ-lin nghe xong lập tức phát biểu, cho rằng phải động
viên công nhân còn tuyên truyền lý luận không phải là chuyện quan trọng”.
Mác chất vấn: ''Vai-tơ-lin, ông luôn mồm nói phải động viên, vậy thử hỏi, ông

5


căn cứ vào đâu để chứng minh hoạt động đó là đúng, và căn cứ vào đâu để
xác định các hoạt động sau này?''

giai cấp vô sản, về xây dựng chính đảng của giai cấp công nhân được Mác và
Ăngghen trình bày rõ trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản.
Nội dung Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được C.Mác và Ph.Ăngghen
trình bày thành bốn chương. Ngoài ra, mỗi lần xuất bản, hai ông còn viết lời
tựa để thuyết minh và làm rõ hơn nội dung tư tưởng của Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản.
Chương I. Tư sản và vô sản
1. Sự phát triển của xã hội loài người
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi chế độ cộng sản nguyên
thủy tan rã cho tới nay là lịch sử đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa các giai
cấp bị áp bức bóc lột và giai cấp bóc lột.
Đến xã hội tư bản hiện đại cũng phân chia thành hai giai cấp lớn thù địch
với nhau, đó là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Nội dung cơ bản của sự vận
động của lịch sử xã hội hiện đại là cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai
cấp tư sản. Cuộc đấu tranh đó đưa tới sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư
bản và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
2. Vị trí lịch sử của giai cấp tư sản
Nhờ áp dụng những thành quả mới của khoa học kỹ thuật vào sản xuất,
những công trường thủ công được thay thế bằng những xí nghiệp hiện đại,
những chủ công trường thủ công đã trở thành những chủ xí nghiệp tức là
những nhà tư sản hiện đại.
Khi mới ra đời, giai cấp tư sản là lực lượng cách mạng có một vai trò hết
sức to lớn trong lịch sử. Đại diện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất
đang lên, giai cấp tư sản đã làm cuộc cách mạng lật đổ giai cấp phong kiến
quý tộc, giành địa vị thống trị.
Sau khi nắm được chính quyền nhà nước, giai cấp tư sản liền phá hủy
những quan hệ sản xuất phong kiến, gia trưởng, thuần phác, thiết lập hệ thống
trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mở đường cho lực lượng sản xuất
phát triển. Chưa đầy một thế kỷ, giai cấp tư sản thống trị đã tạo ra được một
7

tư bản và sáng tạo ra một xã hội mới tốt đẹp hơn. Đó là điều mà C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khẳng định trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Sứ mệnh
lịch sử thế giới của giai cấp vô sản do vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp vô
sản trong lịch sử quy định.
8


Giai cấp vô sản là sản phẩm của nền đại công nghiệp. Cùng với sự phát
triển của nền đại công nghiệp, các giai cấp khác đều dần dần bị phân hóa, suy
tàn và tiêu vong. Chỉ có giai cấp vô sản là lớn lên cùng với sự phát triển của
công nghiệp. Giai cấp vô sản được tuyển lựa trong tất cả các giai cấp trong
dân cư. Sự tiến bộ của đại công nghiệp còn đẩy từng bộ phận trong giai cấp
thống trị vào hàng ngũ giai cấp vô sản, bộ phận ấy cũng đem lại cho giai cấp
vô sản những yếu tố tiến bộ. Hơn nữa, khi đấu tranh chống chế độ phong
kiến, giai cấp tư sản buộc phải kêu gọi sự giúp đỡ của giai cấp vô sản, và do
đó, đã lôi cuốn giai cấp vô sản vào cuộc vận động chính trị, nghĩa là đã cung
cấp cho giai cấp vô sản những yếu tố tri thức chính trị phổ thông, những vũ
khí mà sau này giai cấp vô sản sẽ sử dụng để chống lại giai cấp tư sản.
Giai cấp vô sản không có tài sản, phải bán sức lao động cho tư sản, họ phải
chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường. Những
người vô sản chẳng có cái gì là của mình để bảo vệ, họ phải phá hủy hết thảy
những cái gì từ trước tới nay vẫn bảo đảm và bảo vệ cho chế độ tư hữu.
Giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng, còn các giai cấp trung gian
mang tính bảo thủ, hơn thế họ còn là phản động, tìm cách làm cho bánh xe
lịch sử quay ngược trở lại. Đoàn kết thống nhất là một thuộc tính cơ bản của
giai cấp vô sản để đấu tranh chống giai cấp tư sản.
Giai cấp vô sản luôn bị áp bức cùng cực bởi giai cấp tư sản. Giai cấp tư
sản đã không đảm bảo cho giai cấp vô sản những điều kiện sinh hoạt tối thiểu
cho họ có thể sống được trong vòng nô lệ. Như vậy, có nghĩa là, sự tồn tại của
giai cấp tư sản không còn tương dung với sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Chương II: Những người vô sản và những người cộng sản
Chương này C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày tính tiên phong của Đảng
Cộng sản, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và giai cấp, những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, một số nguyên lý chiến lược, sách lược
cách mạng.
1.

Tính tiên phong của Đảng

Sự trưởng thành của giai cấp vô sản được đánh dấu bằng sự ra đời của
Đảng Cộng sản. Song, Đảng Cộng sản khác với toàn bộ giai cấp vô sản ở tính
10


tiên phong. Tính tiên phong của Đảng thể hiện: tiên phong trong hành động
thực tiễn, tiên phong về mặt lý luận. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã trình
bày: những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công
nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên về
mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ
những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản. Vai trò
tiên phong của Đảng đảm bảo cho Đảng tập hợp được giai cấp vô sản. Sự
lãnh đạo của Đảng là điều kiện đảm bảo cho giai cấp vô sản hoàn thành sứ
mệnh lịch sử toàn thế giới. Nhưng Đảng Cộng sản không phải là một đảng
riêng biệt, Đảng là một bộ phận gắn liền với giai cấp. Lợi ích của Đảng thống
nhất với lợi ích giai cấp: “Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi
lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”. Mục đích của Đảng là mục đích của giai
cấp, Đảng là đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào vô sản.
Kết quả của phong trào vô sản không dừng lại ở sự ra đời của chính
Đảng mà còn biểu hiện ở chỗ giai cấp vô sản biết hành động theo sự lãnh đạo
của Đảng.

của cá nhân. Tư bản không phải là lực lượng cá nhân, nó là một lực lượng xã
hội, nhưng nó chỉ có thể vận động được là nhờ sự hoạt động chung của toàn
xã hội. Người sở hữu thì không lao động, người lao động thì không được
quyền sở hữu, xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy, chỉ có xóa bỏ chế độ
tư hữu mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội.
Vấn đề tự do cá nhân:
Mác và Ăngghen khẳng định rằng, trong xã hội tư bản chỉ có nhà tư sản
có tính đối lập và cá tính, còn cá nhân người lao động thì mất độc lập và cá
tính. Do đó, phải xóa bỏ cá tính tư sản, tính độc lập tư sản, và tự do tư sản,
thứ tự do buôn bán và bóc lột sức lao động của người khác để hình thành xã
hội mới trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát
triển tự do của tất cả mọi người.
Chế độ gia đình:

12


Người cộng sản chủ trương xóa bỏ gia đình tư sản, khi chế độ tư bản bị
xóa bỏ thì quan hệ gia đình tư sản cũng tiêu tan. Bởi vì quan hệ gia đình tư
sản dựa trên tư bản, lợi nhuận cá nhân nhà tư sản, người phụ nữ coi như một
công cụ sản xuất, dựa trên chế độ cộng thể, nạn mãi dâm chính thức và không
chính thức. Tư sản đã chà đạp mối liên hệ gắn bó người vô sản với gia đình.
Vấn đề giáo dục:
Người cộng sản không bịa ra tác động của xã hội đối với giáo dục vì nó
là cái vốn sẵn có mà chỉ thay đổi tính chất của sự tác động ấy và kéo giáo dục
ra khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản mà thôi.
Vấn đề dân tộc, tổ quốc và quốc tế:
Dưới chủ nghĩa tư bản, người cộng sản không có tổ quốc, giai cấp tư sản
nắm quyền đại diện cho tổ quốc, dân tộc, lợi ích của tổ quốc và dân tộc mà cơ
bản là lợi ích của giai cấp tư sản cho nên giai cấp vô sản mỗi nước trước hết

quyền”; Giai cấp vô sản được tổ chức thành giai cấp thống trị.
Chương III: Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời là sự cáo chung đối với tất
cả các trào lưu xã hội chủ nghĩa phi vô sản trước đó. Các trào lưu xã hội chủ
nghĩa xuất hiện như là một tất yếu lịch sử. Tuyên ngôn xác định thái độ cụ thể
với từng trào lưu: Phê phán các trào lưu xã hội chủ nghĩa phản động của
phong kiến tiểu tư sản. Tuyên ngôn dành sự đánh giá thích đáng chủ nghĩa xã
hội. Tất cả các trào lưu xã hội chủ nghĩa phi vô sản đều là trở ngại cho việc ra
đời của chính Đảng. Tuyên ngôn phê phán những trào lưu đó nhằm bảo đảm
thắng lợi cho việc truyền bá học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học và
phong trào công nhân.
Chương IV: Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng độc
lập
Chương này khẳng định lập trường kiên định của Đảng Cộng sản về
những vấn đề chiến lược và sách lược mềm dẻo của Đảng.
Nguyên tắc có ý nghĩa chiến lược của người cộng sản là: Chiến đấu cho
mục đích trước mắt của giai cấp vô sản, nhưng đồng thời trong phong trào
hiện tại họ cũng bảo vệ và đại diện cho tương lai của phong trào.
14


Xuất phát từ thực tế lịch sử của nước Đức và một số nước ở Châu Âu lúc
đó, những mục đích và lợi ích trước mắt của giai cấp vô sản bấy giờ là đấu
tranh đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế thực hiện quyền tự do dân chủ;
còn tương lai của phong trào là đấu tranh chống lại ách áp bức bóc lột của giai
cấp tư sản. Ở tất cả các nước, những người cộng sản ủng hộ mọi phong trào
cách mạng, và trong những phong trào ấy, họ vẫn đưa vấn đề sở hữu lên hàng
đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào.
Trong khi liên hợp với các đảng phái để chống lại thế lực phản động
đang thống trị, Đảng Cộng sản xác định rằng: giành độc lập, liên minh nhưng

quan hệ của con người thành quan hệ mua bán và trao đổi đơn thuần.
Ba là, Tuyên ngôn đã chứng minh sự tan vỡ của chế độ tư bản chủ nghĩa
là điều hiển nhiên, vì sự vùng lên quật đổ của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động khi họ bị giai cấp tư sản bóc lột. Tuyên ngôn chỉ ra rằng, cuộc đấu
tranh giữa những người bị áp bức và những kẻ áp bức, kể từ khi xã hội
nguyên thủy tan rã, là động lực chủ yếu của sự phát triển lịch sử.
Tuy nhiên, về điểm này, K.Marx và F.Engels không luận giải được
sự điều chỉnh và sự nắm lấy khoa học và công nghệ, sự phát triển lực
lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản, nên nó sẽ tồn tại trong một thời gian
dài, cũng như chế độ phong kiến đã tồn tại trong một thời gian rất dài mới
bị chế độ tư bản lật đổ.
Bốn là, Tuyên ngôn đã luận chứng cho một luận điểm về vai trò lịch sử
toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp cách mạng nhất trong tất cả các
giai cấp đã có trong lịch sử. Giai cấp công nhân đấu tranh với chủ nghĩa tư
bản không phải vì sự giải phóng của riêng họ, mà còn vì lợi ích của tất cả
nhân dân lao động, bằng cách giải phóng họ vĩnh viễn thoát khỏi những áp
bức và bất công.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân được Tuyên ngôn xác lập một
cách dứt khoát, rõ ràng là nó diễn ra trước hết là trên miếng đất dân tộc, đoàn
kết tất cả lực lượng tiến bộ của dân tộc lại chung quanh mình.

16


Tuy nhiên, Tuyên ngôn chỉ tập trung phân tích về giai cấp công nhân, mà
không phân tích vai trò to lớn của giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân
lao động khác, những người bạn đồng hành của giai cấp công nhân.
Năm là, Tuyên ngôn chỉ ra những quy luật chủ yếu của cách mạng vô
sản là đưa giai cấp công nhân, từ địa vị của những người làm thuê, bị bóc lột,
thành giai cấp lãnh đạo xã hội và thiết lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

chất giai cấp công nhân là tư tưởng xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng
để đảm bảo cho Đảng hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo.
Sự thống nhất lợi ích của Đảng và giai cấp - tư tưởng này làm cơ sở cho
những chủ trương xóa bỏ đặc quyền đặc lợi của Đảng.
Trong Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích và kết luận bản
chất lập trường quan điểm của các tầng lớp, các giai cấp trong xã hội, những
kết luận đó vận dụng trong công tác phát triển Đảng, công tác cán bộ sẽ tránh
được chủ nghĩa thành phần.
Những tư tưởng quan điểm về xây dựng Đảng trong Tuyên ngôn luôn
luôn là kim chỉ nam trong công tác xây dựng Đảng của Đảng ta.
Thắng lợi của toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam kể từ năm 1930,
nhất là thắng lợi của công cuộc đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn của con
đường mục tiêu của cách mạng Việt Nam gắn liền với độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Thắng lợi đó cùng với thắng lợi của cách mạng, của chủ nghĩa
xã hội ở các nước khác đã chứng minh ý nghĩa lịch sử, giá trị cách mạng và
khoa học của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do Mác và Ăng ghen
soạn thảo.
Từ khi xã hội loài người phân chia các giai cấp như Mác và Ăngghen
khẳng định là lịch sử đấu tranh giai cấp. Đó là cuộc đấu tranh của các giai cấp
đối lập nhau về quyền và lợi ích, địa vị trong xã hội. “Người tự do và người
nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ
bạn, nói tóm lại, những kẻ áp bức và những người bị áp bức luôn luôn đối
kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai,
lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc hoặc bằng một

18


cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của cả hai giai
cấp đấu tranh với nhau”.

sản ngày càng phát triển và trưởng thành về ý thức đấu tranh, về lợi ích và
con đường đi tới để xoá mọi áp bức, bất công. Thế là giai cấp tư sản đã từng
đóng vai trò cách mạng trong lịch sử lại trở thành lực lượng phản động khi họ
áp bức bóc lột thậm tệ đối với giai cấp vô sản và nói chung đối với những
người lao động, với các dân tộc thuộc địa.
Giai cấp vô sản làm thuê dần dần phát triển lớn mạnh cùng với sự phát
triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, của đại công nghiệp. Sự lớn
mạnh đó không chỉ ở số lượng mà còn ở sức mạnh của tính tổ chức, của sự
giác ngộ ý thức giai cấp. Mác và Ăngghen đã nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa tư
bản, giai cấp công nhân và phong trào công nhân và từ đó xây dựng học
thuyết khoa học cách mạng để truyền bá vào giai cấp công nhân và phong trào
công nhân dẫn dắt giai cấp đó vào con đường đấu tranh cách mạng chống chủ
nghĩa tư bản bất công. Mác và Ăngghe cho rằng: “Trong tất cả các giai cấp
hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực
sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự
phát triển của đại công nghiệp còn giai cấp vô sản, lại là sản phẩm của bản
thân nền đại công nghiệp”
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đánh dấu sự ra đời của học thuyết khoa
học, cách mạng - vũ khí lý luận tư tưởng của giai cấp vô sản. Mác và
Ăngghen đã phát hiện và khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là
đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội hoàn toàn mới, không
còn áp bức, bất công đó là chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Cuộc cách mạng vô sản đã được Mác và Ăngghen nêu ra trong Tuyên ngôn
với 10 biện pháp chủ yếu. Mác và Ăngghen cũng dự báo “sự sụp đổ của giai
cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu nhu nhau.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản không chỉ giải phóng giai cấp mình
mà còn giải phóng nhân dân lao động, giải phóng các dân tộc và toàn thể nhân
loại. Không chỉ giai cấp vô sản bị chủ nghĩa tư bản thống trị, bóc lột mà các
tầng lớp nhân dân lao động, các dân tộc cũng bị giai cấp tư sản thống trị và nô
20

tộc thuộc địa bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũng ngày càng sâu
sắc và bùng phát thành cuộc đấu tranh, thành phong trào dân tộc ở khắp nơi.

21


CHƯƠNG II.
SỰ VẬN DỤNG NHỮNG GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA TÁC PHẨM
TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VÀO HOÀN CẢNH
CÁCH MẠNG NƯỚC TA HIỆN NAY
Dưới ánh sáng của Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, cách mạng vô sản
và cách mạng giải phóng dân tộc hướng theo quỹ đạo của cách mạng vô sản
đã phát triển ở nhiều nước. Đó là Công xã Pari năm 1871, Cách mạng Tháng
Mười Nga năm 1917, Cách mạng Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và ở nhiều
nước khác. Thế kỷ XX đã chứng kiến sự ra đời phát triển và lớn mạnh của
chủ nghĩa xã hội hiện thực. Với sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc, với
chiến lực “diễn biến hoà bình” và do những sai lầm và cả sự phản bội của một
số người lãnh đạo của một số đảng cộng sản mà chế độ xã hội chủ nghĩa đã
sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Nhưng các nước xã hội chủ nghĩa
còn lại, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam đã và đang kiên định con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối cải cách, mở cửa và đổi mới và
chứng minh sức sống của chủ nghĩa xã hội, của tư tưởng xã hội chủ nghĩa và
con đường cách mạng mà Tuyên ngôn của Đảng cộng sản đã đề ra.
Trên con đường đi tìm con đường giải phóng dân tộc để giành lại độc lập
cho đất nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin. Người nói: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ
nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(13). Người đã truyền
bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Việt Nam dẫn tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Đảng Cộng
sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã đề ra Cương

cuộc đổi mới về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản.
Có thể thấy rõ nhận thức về chủ nghĩa xã hội và về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam đã góp phần làm sáng tỏ những điều mà Mác và
23


Ăngghen đã dự báo trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua công cuộc đổi mới đã
được nhận thức sáng tỏ trên mấy vấn đề lớn.
Một là, nhận thức sáng tỏ hơn về mục tiêu và mô hình của chế độ xã hội
chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII của Đảng (61991) thông qua đã lần đầu tiên nêu ra mô hình 6 đặc trưng của xã hội xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực tiễn của quá trình đổi mới cho phép nhận thức rõ
hơn và có thể bổ sung, phát triển mô hình đó. Đương nhiên, mô hình đó chỉ có
thể đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ và chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng
về căn bản ở Việt Nam. Đại hội X của Đảng (4-2006) đã khẳng định: “Xã hội
xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh,
công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển
cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc
sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ;
có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với
nhân dân các nước trên thế giới”.
Đại hội X của Đảng cũng xác định rõ: “Mục đích của Đảng là xây dựng
nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh,
không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối

hội. Điều đó tiếp tục được khẳng định và thực hiện khi miền Bắc được giải
phóng (1954) bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả nước
tiến lên chủ nghĩa xã hội sau đại thắng mùa xuân năm 1975. Trong công cuộc
đổi mới từ năm 1986, mặc dù mất đi chỗ dựa do sự sụp đổ của chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, song thắng lợi của công cuộc đổi mới càng
khẳng định Việt Nam hoàn toàn có khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản để tiến
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status