LUẬN VĂN:MARKETING QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG BẮC MỸ - Pdf 11


Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 1 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:
MARKETING QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ NÂNG CAO
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY
VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG BẮC MỸ Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Nguyễn Trung Vãn
Người thực hiện : Tống Thị Thái Hà
Lớp : Nhật 1 - K37 B HÀ NỘI – 2002

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 2 -

Chương I: Những vấn đề lí luận chung về Marketing quốc tế và
tổng quan về thị trường hàng dệt may Bắc Mỹ.
Chương II: Tình hình xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị
trường Bắc Mỹ.
Chương III: Định hướng và giải pháp Marketing cho cạnh tranh của
hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Bắc Mỹ.
Do những hạn chế về thời gian, về tài liệu và kiến thức của người
viết, chắc chắn khoá luận này không tránh khỏi những sai sót. Tác giả rất
mong nhận được sự chỉ dẫn tận tình của các thầy cô giáo và góp ý của đông
đảo độc giả. Qua đây, tác giả cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới
các thầy cô giáo Trường đại học Ngoại thương đã hướng dẫn tác giả hoàn
thành khoá luận tốt nghiệp này.

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 4 -
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING
QUỐC TẾ VÀ TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG
DỆT MAY BẮC MỸ
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING QUỐC TẾ
1. Khái quát chung về Marketing quốc tế và vấn đề cạnh tranh
quốc tế hiện nay
1.1. Các định nghĩa về Marketing quốc tế
TỪ ĐẦU THẾ KỶ 20, THUẬT NGỮ MARKETING VÀ MARKETING
QUỐC TẾ (INTERNATIONAL MARKETING) BẮT ĐẦU ĐƯỢC NHẮC
NHIỀU TRONG CÁC SÁCH BÁO Ở NƯỚC MỸ, TRONG CHƯƠNG TRÌNH
GIẢNG DẠY CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CŨNG NHƯ TRONG CHIẾN
LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH DOANH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN. HIỆN NAY,
TRONG CÁC TÁC PHẨM VỀ MARKETING TRÊN THẾ GIỚI CÓ TỚI TRÊN
2000 ĐỊNH NGHĨA KHÁC NHAU VỀ MARKETING, DÙ VỀ THỰC CHẤT
THÌ CŨNG KHÔNG KHÁC NHAU LẮM, NHƯNG CHƯA CÓ ĐỊNH NGHĨA

Vì thế, nội dung và kết cấu của khoá luận được xây dựng theo quan
niệm trên nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2. Bản chất và đặc trưng của Marketing quốc tế
Yếu tố cốt lõi trong Marketing quốc tế chính là thị trường quốc tế.
Trong bất kỳ thị trường nào, hai trục cung và cầu luôn đóng vai trò chi
phối toàn bộ hoạt động, đặc tính của thị trường đó. Bản chất của Marketing
quốc tế xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng nước ngoài: tìm nhu cầu
và thoả mãn tốt nhất nhu cầu. Marketing quốc tế chính là chìa khoá giúp
các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh : đó là lợi nhuận và mở
rộng thị trường tiêu thụ.
Đặc trưng của Marketing quốc tế (khác với Marketing quốc gia)
chính là sự di chuyển qua biên giới quốc gia của các sản phẩm (Object), sự

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 6 -
khác nhau về quốc tịch của các chủ thể mua bán (Subject), đồng tiền thanh
toán là ngoại tệ đối với ít nhất một trong các bên, hành trình phân phối kéo
dài cả về không gian và thời gian, vòng đời sản phẩm phải được kéo dài
hơn so với trong nước và sự việc xây dựng kế hoạch chiến lược phải được
cụ thể hoá cho từng quốc gia cụ thể. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động dù vươn
ra thị trường quốc tế nhưng Marketing quốc tế vẫn phải đảm bảo những nội
dung cơ bản, đó là:
Thứ nhất, phân tích và dự báo thị trường trên cơ sở phân tích nhu cầu
khách hàng, tình hình cạnh tranh, các trung gian phân phối, phân tích môi
trường chính trị, kinh tế, công nghệ.
Thứ hai, hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp phù
hợp với nhu cầu và đIều kiện thị trường, tác động đến nhu cầu thị trường
bằng các chính sách sản phẩm giá cả, phân phối, yểm trợ.
Marketing quốc tế cũng không có nghĩa là Marketing trong nước trên
một phạm vi rộng hơn, vì Marketing trong nước thì chỉ liên quan đến
những yếu tố môi trường (không kiểm soát được) trong nước, còn

tin nhanh nhạy.
 Kiểm tra điều chỉnh kịp thời hoạt động kinh doanh sao cho
giảm thiểu những rủi ro và khai thác tối đa những cơ hội kinh doanh nhằm
đảm bảo có hiệu quả tối ưu. 2. Cạnh tranh quốc tế và những cơ hội, thách thức hiện nay

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 8 -
Trong cơ chế kinh tế thị trường, người ta luôn luôn phải chú trọng
đến ba quy luật cơ bản: quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh,và quy luật
cung cầu. Trong đó quy luật cạnh tranh chính là động lực của quá trình phát
triển. Thật vậy, cạnh tranh là một trong những quy luật tất yếu của nền sản
xuất hàng hoá.Trên thực tế, sản xuất hàng hoá càng phát triển thì qui mô và
mức độ cạnh tranh càng cao. Đứng trên góc độ doanh nghiệp,cạnh tranh là
quá trình giành giật những lợi thế từ phía đối thủ về phía mình nhằm thực
hiện thắng lợi những mục tiêu của doanh nghiệp. Cạnh tranh là áp lực bên
ngoài buộc các nhà doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để nâng cao năng
suất lao động, đưa ra thị trường các sản phẩm có chất lượng và giá cả hợp
lý, mở rộng kinh doanh, tăng tích luỹ cho doanh nghiệp. Cạnh tranh lành
mạnh như là một động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, tiến
bộ khoa học kỹ thuật, quản lí, là điều kiện để giáo dục tính năng động, nhạy
bén và óc sáng tạo của những nhà doanh nghiệp.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, với nền kinh tế mở và xu hướng
quốc tế hoá, bất luận lĩnh vực, ngành hàng nào cũng phải đối mặt với quá
trình cạnh tranh gay gắt hơn. Bởi lẽ, thị trường nào cũng có sự ngăn cách
giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bản thân các doanh nghiệp cũng
không bao giờ tự bằng lòng với phần thị trường mình chiếm lĩnh được (vì
như vậy có nghĩa là chấp nhận bị tiêu diệt, mà điều này rất nguy hiểm), mà
luôn tìm cách vươn lên, mở rộng thị trường. Để đạt được điều này, các

Trước hết là sự suy yếu tương đối của Mỹ (về kinh tế) so với sự nổi lên và
độc lập tương đối của Nhật bản và EU cùng với các nước NICS (Châu Á).
Hai là, quá trình quốc tế hoá đang đi đến nấc thang toàn cầu hoá nền kinh tế
thế giới, cung vượt quá cầu và sự cạnh tranh tất yếu sẽ trở lên khốc liệt hơn.
Quá trình này được đẩy nhanh từng giờ, từng phút chính từ sự bùng nổ của

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 10 -
khoa học công nghệ thông tin. Nền kinh tế “số hoá” kể từ đầu thập niên 90
với công nghệ World Wide Web phát triển đã tác động đến mọi mặt của
nền kinh tế xã hội và đặc biệt là Marketing quốc tế. Nó không chỉ tạo ra
cách thức giao tiếp, trao đổi mới mà còn tạo ra các công ty theo mô hình và
cách thức tiến hành kinh doanh mới. Các sản phẩm giá trị gia tăng cũng
như hình thức tiêu dùng mới. Ba là, tầm quan trọng của các cường quốc
kinh tế đang tăng lên, tầm quan trọng của sức mạnh kinh tế đang được đẩy
lên hàng đầu. Bốn là, từ sau đại chiến thế giới thứ hai, những vòng đàm
phán về thương mại nối tiếp nhau trong khuôn khổ GATT đã dẫn đến một
sự giảm bớt đầy kinh ngạc về hàng rào thuế quan và sự tăng trưởng của nền
thương mại thế giới. Kể từ sau vòng đàm phán Uruguay cùng với việc mở
rộng dần điều kiện mậu dịch quốc tế theo xu hướng tự do hoá thương mại,
đẩy những cuộc cạnh tranh quốc tế lên những nấc thang cao hơn. Sân chơi
"bằng phẳng" hơn và luật chơi càng thoáng, rõ ràng hơn làm cho các cuộc
cạnh tranh cũng càng trở nên quyết liệt hơn.
2.2. Những yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế
Bất kỳ một doanh nghiệp nào,khi bước ra khỏi thị trường nội địa để
tham gia vào thị trường thế giới, đều không thể phủ nhận được sự tồn tại
cũng như tính khốc liệt của cạnh tranh quốc tế. Vậy thì, muốn tồn tại và
đứng vững để tham gia một "cuộc chơi" các doanh nghiệp buộc phải tìm
hiểu luật chơi, mà trước tiên phải tìm hiểu được tính chất, những yếu tố
quyết định khả năng cạnh tranh quốc tế, để từ đó chuẩn bị cho mình vũ khí
cạnh tranh có hiệu quả nhất.

cạnh tranh quốc tế của một sản phẩm, thì điều trước hết chính là lợi thế so
sánh của sản phẩm đó. Lợi thế so sánh của sản phẩm ở đây chủ yếu được
nhắc đến là lợi thế so sánh về chi phí sản xuất (nhân công, nguyên vật

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 12 -
liệu ) và năng suất. Bởi lẽ các yếu tố chi phí sản xuất thấp thường được
coi là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh. Nếu xét trên phạm vi quốc tế,
lợi thế so sánh còn bao gồm cả lợi thế về các điều kiện thuận lợi về giao
thông buôn bán quốc tế, cũng như các biện pháp, chính sách của Nhà nước
khuyến khích sản xuất, xuất khẩu sản phẩm, kể cả lợi thế về các chi phí bán
hàng, xúc tiến yểm trợ, thuế quan v.v .
NÓI CHUNG, YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
QUỐC TẾ HAY CẠNH TRANH TRONG NƯỚC THƯỜNG BAO GỒM CẢ
YẾU TỐ KHÁCH QUAN VÀ YẾU TỐ CHỦ QUAN. ĐỐI VỚI NHỮNG YẾU
TỐ KHÁCH QUAN TỒN TẠI NGOÀI Ý MUỐN CHỦ QUAN CỦA DOANH
NGHIỆP CHO NÊN BẢN THÂN DOANH NGHIỆP CẦN PHẢI TÌM HIỂU VÀ
NẮM BẮT NHANH NHẠY ĐỂ KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ THỜI CƠ TỐT
NHẤT. CÒN VỚI NHỮNG YẾU TỐ CHỦ QUAN THUỘC PHẠM VI KIỂM
SOÁT CỦA DOANH NGHIỆP (NHƯ TÀI CHÍNH, NHÂN SỰ, CÔNG
NGHỆ ) ĐÂY MỚI LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG ĐỂ CHÍNH BẢN THÂN MỖI
DOANH NGHIỆP TỰ ĐÁNH GIÁ VÀ LƯỢNG SỨC MÌNH TRONG QUYẾT
ĐỊNH VƯƠN RA THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI. TẤT NHIÊN, ĐỂ THẮNG THẾ
TRONG CẠNH TRANH KINH NGHIỆM THỰC TẾ THƯỜNG CHO THẤY
CẦN PHẢI HỘI TỤ ĐỦ "THIÊN THỜI, ĐỊA LỢI, NHÂN HOÀ". TUY
NHIÊN,ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP ĐIỀU QUAN TRỌNG LÀ PHẢI
BIẾT VÀ HIỂU RÕ KHI NÀO " THIÊN THỜI", KHI NÀO "ĐỊA LỢI" VÀ
"NHÂN HOÀ", ĐỂ ĐƯA RA CHIẾN LƯỢC THÍCH HỢP GIÀNH THẮNG
LỢI TRÊN THỊ TRƯỜNG, ĐẶC BIỆT LÀ THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ.
2.3. Cơ hội và thách thức chủ yếu trong cạnh tranh quốc tế hiện nay.
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay, quan điểm "biết

trong nhiều năm tới.
Tuy nhiên, việc tham gia vào môi trường cạnh tranh quốc tế chắc
chắn sẽ là thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn
non trẻ về trình độ công nghệ cũng như kinh nghiệm thương trường. Thực
tế cho thấy, thách thức lớn nhất chính là nguy cơ tụt hậu trong điều kiện
cạnh tranh như vũ bão hiện nay.

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 14 -
Đó là nét bao trùm chung của nền kinh tế. Nếu xét về mặt hàng dệt
may nói riêng thì bản thân Việt nam sẽ vấp phải sự cạnh tranh từ chính các
nước trong khu vực Asean khi giá thành sản xuất của ta còn cao, còn công
nghệ và chiến lược thông tin cũng đi sau các nước này rất nhiều. Mặt khác,
việc chúng ta được hưởng các qui chế đãi ngộ nhưng theo nguyên tắc "có đi
có lại" chúng ta cũng phải cho hàng hoá các nước vào nước mình dễ dàng,
do đó bản thân thị trường dệt may trong nước sẽ bị tấn công. Rõ ràng với
"lực" còn chưa mạnh trong cạnh tranh quốc tế nên thách thức sẽ mang tính
"sống còn" thực sự đối với các sản phẩm Việt nam tại vòng đua quyết liệt
này. Tuy nhiên khi xem xét năng lực cạnh tranh của một ngành hàng trên
một thị trường thì nhất thiết phải đặt nó trên cơ sở của nền kinh tế quốc gia.
Theo xếp hạng về năng lực cạnh tranh của các nước trên thế giới trong Báo
cáo kinh tế toàn cầu của Diễn đàn kinh tế thế giới WEF thì năm 1997, Việt
Nam đứng thứ 49/53, năm 1998 thứ 39/53 năm 1999 thứ 48/59 và năm
2000 đứng thứ 53/59 [13]. Như vậy năng lực cạnh tranh của Việt nam vừa
rất thấp lại vừa lên xuống thất thường. Chính vì vậy việc tìm hiểu năng lực
cạnh tranh để nâng cao được sức cạnh tranh của mình càng là vấn đề bức
xúc cho không chỉ ngành dệt may mà ở tất cả các ngành hàng của Việt
Nam.
II. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG HÀNG DỆT MAY BẮC MỸ DƯỚI
GÓC ĐỘ MARKETING QUỐC TẾ
Đứng dưới góc độ Marketing quốc tế, việc phát triển sản phẩm luôn

đổi mẫu mã liên tục, nhãn hiệu sản phẩm được chú trọng và yếu tố thời vụ
cũng là đặc trưng nổi bật của hàng dệt may.

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 16 -
Nhìn tổng quan về thị trường hàng dệt may thế giới trong 4 năm gần
đây, chúng ta thấy kim ngạch hàng dệt may thế giới đạt khoảng 153 tỉ đô la
mỗi năm về hàng dệt, 186 tỉ đô la về hàng may, tổng cả hàng dệt và hàng
may chiếm bình quân khoảng 6% tổng kim ngạch mậu dịch trên toàn thế
giới. Trị giá quốc tế hàng dệt may có nhiều sự thay đổi qua các năm.
Bảng 1-Tình hình xuất khẩu hàng dệt, may qua các năm (1997 –2001)
Đơn vị : tỷ USD
Năm 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt 155 151 148 157 159
Hàng may 177 180 186 199 201
Tỷ trọng (*)

6,2% 6,3% 6,1% 6,0% 6,1%
(*): Tỷ trọng của hàng dệt may so với tổng kim ngạch mậu dịch trên
toàn thế giới.
Nguồn : International Trade Statistics (1998,1999,2000,2001)
Đó là nét chung về tổng giá trị kim ngạch. Còn xét theo khu vực,
chúng ta thấy sản xuất và xuất khẩu chủ yếu hàng dệt may tập trung phần
lớn ở châu Á và châu Âu (hai khu vực này chiếm khoảng 75% tổng sản
lượng hàng dệt may của thế giới, trong đó châu Á chiếm hơn 40 % và thu
hút hơn một nửa lao động trong ngành của thế giới.
Bảng 2-Các khu vực xuất khẩu chủ yếu trên thế giới về hàng may (năm
2000)
Đơn vị : tỷ USD
Giá trị (tỷ USD) Tỷ trọng(%)
Thế giới 198,94 100

Mỹ 15709 66392

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 18 -
EU 49774 85909
Nhật Bản 4939 19709
Nguồn : International Trade Statistics (2001)

1.2. Các nước EU :
Các nước EU là những quốc gia đứng đầu thế giới về nhập khẩu
hàng dệt may với kim ngạch nhập khẩu tăng đều qua các năm, đặc biệt là
hàng may. Một thị trường rộng lớn lên tới 17 quốc gia (Thuỵ Sỹ, Na Uy
mới kết nạp) với mức chi tiêu cho hàng may mặc năm 2000 là 212 tỷ euro,
tăng 2,4 % so với năm 1999, đứng thứ hai sau chi tiêu cho thực phẩm, rau
quả. Theo báo cáo hàng năm của tổ chức WTO, nhập khẩu hàng dệt may
của EU chiếm khoảng 2,4% tổng giá trị nhập khẩu của thế giới. Trong đó
EU nhập khẩu nhiều nhất từ châu Á, đặc biệt là từ Trung Quốc.
Bảng 4-Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của EU qua các năm :
Đơn vị : triệu USD
Năm 1990 1995 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt 50370 56368 58016 52774 49774 50268
Hàng may

56844 76245 86786 86917 85909 86138
Nguồn : International Trade Statistics (2001)
1.3. Nhật Bản :
Đây là nước lớn nhất châu Á, đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu
hàng dệt may phục vụ cho tiêu dùng nội địa và nhịp độ tăng trưởng khá
cao, bình quân tăng 17%/năm trong giai đoạn 90-96. Riêng năm 90, mức
nhập khẩu đạt con số 8737 triệu USD chiếm 7,6% kim ngạch nhập khẩu
hàng may thế giới.


Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 20 -
Thứ nhất, qui mô đơn hàng thường lớn và giới hạn thời gian không mấy khi
rộng rãi. Thứ hai, yêu cầu về chất lượng của thị trường khá cao và để đảm
bảo chất lượng thì phải có các giấy chứng nhận hay xác nhận của các tổ
chức quản lí chất lượng có uy tín trên thế giới. Thứ ba, tư vấn là tập quán
của các công ty và thị trường Bắc Mỹ, đặc biệt là thị trường Mỹ nên các
doanh nghiệp xuất khẩu cần sử dụng tư vấn khi thâm nhập thị trường. Thứ
tư, phương thức giao dịch kinh doanh trên thị trường rất đa dạng, hiện đại.
Ví dụ: nhiều công ti không có cửa hàng hay siêu thị mà chỉ có một kho
chứa và một website trên Internet.
Đó là những đặc điểm nổi bật của thị trường Bắc Mỹ nói chung,
trong đó có cả thị trường hàng dệt may nói riêng. Đi vào cụ thể, chúng ta
sẽ xem xét đánh giá một số nét sau về thị trường hàng dệt may Bắc Mỹ ở
các góc độ mà doanh nghiệpxuất khẩu cần quan tâm.
2.1. Mức tiêu thụ hàng dệt may của thị trường Bắc Mỹ.
Người dân Bắc Mỹ và đặc biệt là dân Mỹ rất thích việc đi mua sắm
và xem đó như là một nhu cầu thiết yếu. Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng cá
nhân khá cao và mức tiêu dùng cũng tăng lên nhanh chóng qua các năm
(bình quân 18.000 USD/người /năm).
Trong ngân quỹ của mình, người Mỹ dành một khoản chi tiêu khá
nhiều cho may sắm quần áo (7%). Riêng năm 2001, Mỹ tiêu dùng 72 tỷ
USD cho may sắm quần áo, con số này bằng 2 lần thu nhập quốc dân của
Việt nam trong năm 2001. Đây là mức tiêu dùng đứng thứ tư, chỉ sau tiêu
dùng cho nhà ở, đi lại, và thực phẩm.
Bảng 6- Mức tiêu thụ hàng dệt may của thị trường Mỹ qua các năm :
Đơn vị : tỷ USD
1996 1997 1998 1999 2000 2001

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 21 -

tiêu thụ sản phẩm từ bình dân đến cao cấp, cả hai loại này đều có nhu cầu
lớn trên thị trường Bắc Mỹ.
2.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của thị trường Bắc Mỹ
Ngành dệt may được đánh giá là một ngành tương đối quan trọng
trong hệ thống các ngành công nghiệp của Bắc Mỹ. Riêng tại Mỹ, đây là
ngành công nghiệp lớn đứng thứ mười sau các ngành xe hơi, năng lượng,
cơ khí, hoá chất. Cũng như tại các nước khác, ngành dệt may ở Bắc Mỹ
cũng được chia ra làm hai mảng lớn là dệt và may.
Mỹ là một trong những nước sản xuất bông xơ hàng đầu thế giới (chỉ
sau Trung Quốc). Hàng năm, Mỹ sản xuất khoảng 4,2 triệu tấn bông xơ.
Nhưng thời gian gần đây, sản lượng bông xơ của Mỹ có khuynh hướng
giảm : Sản lượng bông vụ 98-99 là 13,6 triệu kiện đã giảm rất nhiều so với
vụ 94-95 là 19,7 triệu kiện và vụ bông 2002 này sản lượng bông của Mỹ dự
đoán chỉ còn 3,8 triệu tấn (giảm 13% so với vụ năm trước)[20].
Đối với sản phẩm may mặc, ngành sản xuất hàng may mặc của Bắc
Mỹ đều chịu sự cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu từ các nước châu Á
như Trung Quốc, Indonesia, Băng la đét. Ưu thế của các nước này là chi
phí nhân công thấp, là điều rất quan trọng đối với ngành sử dụng nhiều lao
động nhiều như dệt may. Hơn nữa, trong chiến lược phát triển kinh tế của
các nước này đều ưu tiên sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có hàm
lượng chất xám cao và tiến hành nhập khẩu hàng tiêu dùng. Điều này giải
thích cho việc hàng năm Mỹ phải nhập một khối lượng khổng lồ hàng dệt
may để phục vụ nhu cầu trong nước.

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 23 -
Từ năm 1970, ngành công nghiệp dệt may của Mỹ phải giảm gần
500.000 nhân công vì hàng nhập khẩu. Để đối phó với cuộc cạnh tranh này
các nhà máy sản xuất quần áo lớn của Mỹ đều có những đổi mới đáng kể.
Một trong những đổi mới đáng kể là đầu tư chiều sâu vào công nghệ ngành
dệt: trang bị máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao khả năng cạnh tranh ở

7,2
12,5
8,5
5,5
4,4
3,7
3,7
3,7
2,9
2,6
Tổng giá trị 127,8 47,5

Sinh viên: Tống Thị Thái Hà. Lớp Nhật 1.K37 - 24 -
Nguồn: Ira Kalish, Retail Forward, reported in Women ‘s Wear
Daily, April 11,2002 and The Trade Partmentship.
Bảng số liệu trên chỉ rõ tình hình tiêu thụ trong nước và khả năng
đáp ứng nhu cầu. Nếu nhìn vào mảng xuất khẩu của ngành dệt may Bắc Mỹ
thì xuất khẩu nội vùng NAFTA chiếm phần lớn và ngày càng tăng về tỷ
trọng buôn bán nội vùng. Năm 1990 con số này chỉ chiếm khoảng 43% thì
năm 2000 đã tăng lên khoảng 56 %. Về cơ cấu hàng xuất khẩu thì tỷ lệ
hàng may có cao hơn hàng dệt một chút.
Một lợi thế trong ngành hàng dệt may của Mỹ là những sản phẩm
thời trang cao cấp, dù giá cao nhưng vẫn có chỗ đứng và cạnh tranh được
với các nước khác, điển hình như hãng Levi Strauss & Co, Tommy
Hilfiger, Lee, Gap, Wrangler
2.3. Tình hình nhập khẩu hàng dệt may của thị trường Bắc Mỹ.
Như chúng ta đã biết, thị trường Bắc Mỹ và đặc biệt là Mỹ là một thị
trường hấp dẫn và lí tưởng của hàng dệt may. Vì sản xuất trong nước không
đáp ứng đủ nhu cầu, mặt khác chiến lược phát triển của Mỹ cũng nghiêng
về nhập khẩu hàng tiêu dùng nên Mỹ được coi là một trong những nước

3. Hồng Kông 4.403
4. Hàn Quốc 2.931
5. Ấn Độ 2.633
6. Indonesia 2.553
Nguồn : ITCB-Council of Representatives 35
th
Session, Vietnam2002
Nhìn vào bảng ta nhận thấy cơ cấu thị phần hàng dệt may ở Mỹ chia
đều cho nhiều nước, không có nước nào chiếm trên 15% thị phần về mặt
hàng này. Những nhà cung cấp được chia làm hai khối: lớn nhất là từ các
nước và lãnh thổ châu Á như Trung Quốc, Đài Loan, Hông Kông, Hàn
Quốc, Ấn độ, Philippin. Tiếp đến là khối NAFTA, mà chủ yếu là Mêhicô.
Tuy nhiên, cơ cấu này đang có sự thay đổi mạnh mẽ do buôn bán nội vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status