tiểu luận sửa đổi lề lối lam việc “ sửa đổi lối làm việc” đối với vấn đề xây dựng đảng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - Pdf 37

A. PHẦN MỞ ĐẦU
Suốt chiều dài lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã có những
đóng gớp vô cùng to lớn đối với cách mạng nước ta, giúp cho cách mạng Việt Nam
tìm ra được hướng đi đúng đắn, giải phóng người dân khỏi xiềng xích nô lệ cùa
thực dân, phong kiến, dành lại độc lập ấm no và tự quyết cho đất nước. Công lao
của Người còn được thể hiện qua những bài viết đăng báo : “ Người cùng khổ”,
trên báo : “Sự Thật” hay các tác phẩm mang tính chất cách mạng như: “ Đường
Kach Mênh”, “ Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” “ Di
chúc”..v..v
Là người đứng ra thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, vào ngày 3/2/1930, cả
cuộc đời hoạt động cách mạng của Người luôn luôn lo lắng quan tâm tới công tác
xây dựng chỉnh đốn Đảng, trong đó vấn đề được Người chú trọng nhấn mạnh nhiều
nhất là vấn đề cán bộ, đạo đức cán bộ đảng viên. Tác phẩm : “ Sửa đổi lối làm
việc” là một tác phẩm có nhiều ý nghĩa hết sức quan trọng đối với công tác xây
dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, đảm bảo tính trong sạch vững
mạnh của Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lấy bút danh X.Y.Z) viết sửa đổi lối làm việc vào lúc
cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ của nhân dân ta chống thực dân Pháp mới
bắt đầu. Đảng ta trở thành đảng cầm quyền được hơn hai năm. Đảng ta trở thành
đảng cầm quyền được hơn hai năm. Sự nghiệp cách mạng đang đứng trước nhiều
thử thách. Qua thực tiễn đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chính
quyền non trẻ, trong hàng ngũ cán bộ cách mạng đã sớm bộc lộ những nhược điểm,
sai sót trong phương thức, lề lối làm việc. Nếu chậm khắc phục sẽ ảnh hưởng tới
uy tín của Đảng và sự nghiệp cách mạng.
Nhằm vạch ra những sai lầm khuyết điểm, lệch lạc, chấn chỉnh lại nhận thức
tư tưởng, nâng cao trình độ chính trị, lý luận, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác


của cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng, Bác Hồ đã
viết tác phẩm này.
Đây là một tác phẩm rất quan trọng, đề cập nhiều vấn đề lớn, vừa có tính lý

thành Đảng lãnh đạo chính quyền. Đây là vấn đề hoàn toàn mới và không đơn
giản. Từ khi có chính quyền, chưa một ngày Đảng có điều kiện để rút kinh nghiệm,
chưa kể đến sự kiện ngày 11-11-1945, trước sức ép của kẻ thù, để “ứng vạn biến”,
Đảng ta đã tuyên bố tự giải tán, nhưng thực chất Đảng vẫn lãnh đạo công cuộc
kháng chiến, kiến quốc của nhân dân.
Sau khi lên cầm quyền, Đảng ta đã lãnh đạo chính quyền đưa cách mạng
Việt Nam vượt ra khỏi tình trạng ngàn cân treo sợi tóc: củng cố xây dựng chính
quyền non trẻ, phát triển lực lượng cách mạng, đẩy lùi được giặc đói, giặt dốt; loại
bỏ được một số kẻ thù, phát động toàn quốc kháng chiến, chuyển trung ương,


Chính phủ và bộ đội chủ lực về chiến khu Việt Bắc an toàn… Nhưng một số căn
bệnh của đảng cầm quyền đã nảy sinh và phát triển.
Tháng 12-1946, các cơ quan của Đảng và Nhà nước ta về chiến khu Việt
Bắc để hoạt động lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược trong muôn vàn khó
khăn. Thực dân Pháp đang tiếp tục thực hiện âm mưu tấn công lên chiến khu bằng
hai gọng kềm nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến, để kết thúc chiến tranh. Chiến
dịch Việt Bắc diễn ra từ 7-10-1947 đến 9-12-1947, quân và dân ta đã loại khỏi
vòng chiến đấu hơn 6.000 quân xâm lược, bắn rơi 16 máy bay, bắn chìm 11 tàu
chiến, ca nô, phá hủy hàng trăm khẩu pháo, hàng trăm xe quân sự, thu hàng chục
tấn chiến lợi phẩm.
Nhân dân cả nước đang tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ ở giai đoạn
khó khăn, gian khổ nhất mà trước mắt phải đánh bại kế hoạch chiến lược tấn công
Việt Bắc của thực dân Pháp với trên 12.000 tên của cả 4 quân binh chủng hiện đại
bộ binh, pháo binh, không quân, thuỷ quân… với âm mưu: tiêu diệt đầu não và phá
tan căn cứ địa của cuộc kháng chiến. Vào thời điểm lịch sử này, để hoàn thành
trọng trách lãnh đạo của mình, Đảng phải được xây dựng và chỉnh đốn để thực sự
nâng cao năng lực lãnh đạo, nâng cao uy tín đạo đức và sự gắn bó máu thịt của
Đảng, chính quyền với nhân dân. Đúng như trong “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”
năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong lúc dân tộc đang ở ngã tư

Phê bình việc làm, chứ không phê bình người. Đảng phải sửa đổi lối làm việc để
lãnh đạo sao cho có hiệu quả trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến trường kỳ, tuy mới
bắt đầu nhưng đầy gian khổ, khó khăn. Bằng tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, Đảng Cộng sản Đông Dương đang trực tiếp lãnh
đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ và tự lực cánh sinh của dân
tộc. Trong tác phẩm, Bác đã chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực


tiễn, những kinh nghiệm trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, những khuyết điểm
chủ yếu và cách chữa.
Đấy là bối cảnh mà dưới bút danh X.Y.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác
phẩm "Sửa đổi lối làm việc", như là đặt ra một cuộc vận động lớn về xây dựng,
chỉnh đốn Đảng, làm cho "Sửa đổi lối làm việc" có ý nghĩa cách mạng sâu sắc,
giúp xây dựng nhân sinh quan mới, phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh dân tộc và
tiến bộ xã hội.


Mục đích của tác phẩm:

Nâng cao trình độ lý luận tư tưởng và tình cảm cách mạng, nâng cao phẩm
chất đạo đức, tác phong công tác của người cán bộ cách mạng, nâng cao năng lực
lãnh đạo nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng.
Trong tác phẩm này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán : “ chủ nghĩa cá
nhân” vì đó là một thứ “ vi trùng rất độc” nó sinh ra các khuyết điểm nghiêm
trọng như bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, ham địa vị, thiếu kỷ luật, óc hẹp
hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ, bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, bệnh cận
thị không biết nhìn xa, trông rộng...Đồng thời, Hồ Chi Minh vạch ra nguyên nhân
và phương hướng khắc phục. Tác phẩm “ Sửa đổi lối làm việc” không chỉ nhằm
phê phán mà chủ yếu là cách mạng, là vì, cách mạng mới là động lực của lịch sử.
Đảng là lực lượng tiên phong, ưu tú nhất của xã hội, là đầu tàu của lịch sử.

khinh lý luận hoặc lý luận suông. Lênin đã dạy: Không có lý luận cách mạng thì
không có phong trào cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: “Lý luận là
đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét,
so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với
thực tế. Đó là lý luận chân chính”. Lý luận như cái la bàn, nó chỉ cho ta định
hướng đúng để đi. Người khẳng định “ Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành
phải nhằm theo lý luận.Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng


như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không
có tên.” Nếu kém lý luận, khi giải quyết công việc, nghĩ thế nào làm như thế ấy,
kết quả thường kém. Giữa kinh nghiệm và lý luận có quan hệ biện chứng chặt chẽ
“có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắt sáng, một mắt mờ” cho
nên rất cần thiết là phải nghiên cứu, học tập lý luận.
Học lý luận là cốt để vận dụng vào thực tế, học lý luận không phải để thao
thao bất tuyệt, để lòe thiên hạ. Nếu chỉ thao thao bất tuyệt thì lý luận ấy là lý luận
suông. Học phải đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, lý luận phải liên hệ
với thực tế. Đây chính là những nguyên lý mà Bác đã chỉ ra: cả lý luận và thực tiễn
đều quan trọng. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn, trở về với thực tiễn, thực tiễn kiểm
nghiệm lý luận và bổ sung để hoàn thiện lý luận; cho nên bên cạnh việc đề cao lý
luận, không được tuyệt đối hóa lý luận. Mặt khác, cũng không được đề cao thực
tiễn quá mức đến độ mắc phải bệnh kinh nghiệm rồi xem thường lý luận, không
chịu học hỏi, không chịu tổng kết kinh nghiệm để bổ sung nhằm từng bước hoàn
thiện lý luận…
Người mắc bệnh chủ quan đều coi khinh lý luận, làm việc chỉ theo kinh
nghiệm của bản thân, không biết khái quát thành lý luận chung, giải quyết công
việc một cách sự vụ, vụn vặt. Đó là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Chủ nghĩa kinh
nghiệm chính là một biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan, nguyên nhân của bệnh chủ
quan, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do kém lý luận hay khinh lý luận. Vì vậy,
không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Ngược lại, lý luận là cốt để áp

nhiên làm không nổi. Cũng vì bệnh hẹp hòi mà không biết cách xử trí khôn khéo
với các hạng đồng bào (như tôn giáo, dân tộc thiểu số, anh em trí thức...). Điều đó
tất yếu dẫn đến phá hoại chính sách đoàn kết, cũng như ảnh hưởng không nhỏ tới
sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Ba là, bệnh ba hoa. Ba hoa là nói và viết dài
dòng, rỗng tuyếch, dùng chữ cầu kỳ, khó hiểu, không nhằm đúng đối tượng, quần


chúng không hiểu, cho nên không có tác dụng gì cả. Người nhắc nhở: cán bộ tuyên
truyền bao giờ cũng tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không vậy, thì
cũng như có ý không muốn cho người ta nghe, không muốn cho người ta xem.
Như vậy, sửa đổi lối làm việc của Đảng ở các cấp, theo tư tưởng của Hồ Chí
Minh, trước hết phải phê bình và sửa chữa bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh giáo
điều, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa... Mỗi chứng bệnh đó là một kẻ địch nguy hiểm.
Mỗi kẻ địch bên trong là bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch
bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề
phòng những kẻ địch đó. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để chữa khỏi những bệnh trên, ta
phải tự phê bình ráo riết và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật, mà ráo riết
phê bình. Hai việc đó phải đi đôi với nhau. Mỗi cán bộ, đảng viên mỗi ngày phải tự
kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày rửa mặt. Được như vậy Đảng ta
mới thực sự trong sạch, vững mạnh.
Nội dung thứ hai: Mấy điều kinh nghiệm.
Trong phần này, tác phẩm đề cập đến một số vấn đề cơ bản như:


Có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong .Người viết: “ Muốn việc thành công hay

thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”.


Chính sách khẩu hiệu thì đúng, nhưng cách làm thực hành chưa đúng, vì thế


Bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm

với nhân dân. Người đã thấu hiểu và nhìn thấy rõ được vấn đề cốt yếu, Người viết :
“Nếu chúng ta hỏi cán bộ: “ Việc đó, làm cho ai? Đối với ai phụ trách?” chắc chắn
số đông cán bộ sẽ trả lời: “ Làm cho Chính Phủ hoặc Đảng, phụ trách trước cấp
trên”..Câu trả lời đo chỉ đúng một nửa. Nếu chúng ta lại hỏi: “ Chính phủ và Đảng vì
ai mà làm việc đó? Và phụ trách với ai?” Thì e nhiều cán bộ không trả lời được.
Chính phủ và Đảng chỉ muốn giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gi cũng vì
lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân.” Nhận thấy được
vai trò hết sức to lớn của quần chúng nhân dân “ Quần chúng nhân dân là những
người làm nên lịch sử”, nhân dân là những người góp nên thắng lợi của mọi cuộc cách
mạng, muốn giữ vững chính quyền, xây dựng đất nước thì cần phải dựa vào dân, cần
phải được lòng dân, được sự ủng hộ của nhân dân, vì vậy chủ tịch Hồ Chi Minh đã
đúc rút ra kinh nghiệm quí báu để giáo dục giác ngộ cán bộ đảng viên: “ Chúng ta
phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đều hiểu thì việc gì khó khăn
mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải


chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng : những việc đó là vì lợi ích của họ
mà làm.”


Cần khắc phục hai chứng bệnh ở cán bộ là:

- Bệnh khai hội: khai hội không có kế hoạch, không chuẩn bị kỹ lưỡng, không
thiêt thực, khai hội lâu, khai hội nhiều mà không có hiệu quả thiết thực. Đây là một
căn bệnh mà Người rất quan tâm nhắc nhở các cán bộ đảng viên khi làm công tác
Đảng, công tác tuyên huấn, phải thiết thực, phù hợp với đối tượng và nguyện vọng
của đối tượng. Người nhấn mạnh : “ Bất cứ việc to việc nhỏ, chúng ta phải xét rõ và

2.

Coi trọng đạo đức cách mạng : nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, liêm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất mực coi trọng đạo đức cách mạng của người cán bộ

đảng viên : “ Người đảng viên, người cán bộ tốt, muốn trở nên người cách mạng
chân chính, không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình
chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư.
Mình đã có chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt
như sau, ngày càng thêm. Nói tóm tắt tính tốt ấy gồm 5 điều: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí,
Dũng, Liêm.” Trong bài nói chuyện tại lớp hướng dẫn viên các trại hè cấp I vào ngày
12 tháng 6 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhắc nhở cán bộ, đảng viên về ý thức
đạo đức cách mạng như sau: “ Trong giáo dục không những phải có tri thức phổ
thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không có đức,
tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa,
không giúp ích gì được ai”.
Trong tác phẩm, Người lý giải rõ, từng ngữ nghĩa của các phẩm chất đạo
đức cách mạng đó để mỗi cán bộ có thể hiểu một cách đúng đắn và sâu sắc nhất:
a. NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chi đồng bào. Vì thế
mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân.
Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ.
Vì thề mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền.


b. NGHĨA là ngay thẳng, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu
Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao
việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc thì làm, thấy việc phải
nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn
đúng đắn.
c. TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch

chưa làm được bốn chữ : Chí công vô tư, cho nên mắc phải chứng “ chủ nghĩa cá
nhân”. Đó là thứ vi trùng rất độc gây ra các bệnh như: bệnh tham lam, bệnh lười
biếng, bệnh kiêu ngạo, bênh hiếu danh, thiếu bí mật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc
lãnh tụ..v..v..bệnh hữu danh vô thực, kéo bè kéo cánh, bệnh cận thị, bệnh cá nhân,
bệnh lười biếng.
Những bệnh khác như là : bênh hữu danh vô thực, bệnh kéo bè kéo cánh,
bện cận thị, bệnh cá nhân, bệnh lười biếng, bệnh tị nạnh, bệnh xu nịnh a dua. Đồng
thời Người cũng đưa ra những biện pháp để chữa trị những căn bệnh nói trên.
Đảng ta không phải từ trên trời rơi xuống, Đảng ở trong xã hội mà ra. Nói chung
đảng viên phần nhiều là tốt, nhưng bên cạnh đó vẫn còn những một số chưa bỏ hết
thói xấu từ xã hội vào Đàng. Đảng phải làm công việc giải phóng dân tộc to lớn,
phưc tạp, Đảng mang trong mình những trọng trách lớn lao mà dân tộc giao cho,
do vậy, Đảng cần phải cố sức sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm còn tồn đọng,
phải chữa trị cho tiệt nọc các chứng bệnh để cho Đảng ngày càng trong sạch, vững
mạnh, đảm đương vai trò sứ mệnh lịch sử đưa đường dẫn lối cho đất nước đi lên.
Những khuyết điểm sai lầm vì đâu mà có, và từ đâu đến?. Mỗi đảng viên cán
bộ cần phải thật thà, tự nhận xét và phê bình khuyết điểm của mình, của đồng chí
mình, ai có khyết điểm nào thì thật thà sửa chữa và cũng giúp nhau sửa chữa “
Thang thuốc hay nhất và thiết thực là phê bình và tự phê bình.” (tr262)
Đối với các khuyết điểm cần phải phân tích rõ ràng, cái gì đúng, cái gì sai, ra
sức tranh đấu sửa chữa những khuyết điểm, khéo dùng cách phê bình và tự phê
bình để giúp đồng chí mình sửa chữa những lỗi lầm, đoàn kết Đảng bằng sự tranh
đấu nội bộ, nâng cao kỷ luật của Đảng.


Phần thứ ba : tác phẩm nêu lên tư cách bổn phận của người đảng viên.
Phần thứ tư : tác phẩm nêu tầm quan trọng của việc rèn luyện tính Đảng,
nghĩa là cần đặt lợi ích của Đảng, cuả dân tộc lên hàng đầu, làm việc gì cũng phải
điều tra rõ ràng, cẩn thận, lý luận luôn phải đi cùng với thực tiễn.
Nội dung thứ IV: vấn đề cán bộ

đạo đức. Sức mạnh của đạo đức đã lan toả, thẩm thấu trong suốt chiều dài lịch sử
của dân tộc, trở thành giá trị cốt lõi, vĩnh hằng của văn hoá trong các thế hệ các
dân tộc ở trên đất nước Việt Nam. Nếu cán bộ không có một đời tư trong sáng thì
sẽ không thuyết phục, vận động được nhân dân trong các phong trào cách mạng.
Người cán bộ, ngoài việc phải hoàn thành tốt công việc chung của Đảng đã được
phân công, lại phải còn là một thành viên tốt của gia đình, là một người công dân
tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với
mọi người chung quanh trong cùng bản làng, phum, sóc, thôn xóm…
Yêu cầu về phẩm chất, năng lực. Trước hết, cán bộ phải có đạo đức cách
mạng. Đây là yêu cầu “gốc”, “nguồn” đúng như Hồ Chí Minh đã nêu. Đây cũng
chính là quan điểm xuất phát, một yêu cầu có tính chất tiên quyết đối với cán bộ
cách mạng. Không ít lần, Hồ Chí Minh lưu ý rằng: “Đảng không phải là một tổ
chức để làm quan phát tài”, người cán bộ cách mạng không phải là người “làm
quan cách mạng”, không phải vào Đảng, không phải làm cán bộ là để “thăng quan
tiến chức”, không phải như dưới thời thực dân-phong kiến “một người làm quan cả
họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời
thực dân-phong kiến”, v.v. Người cán bộ phải tận tụy với sự nghiệp cách mạng,
phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, “phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân
tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trung thành ở đây trước
hết đòi hỏi cán bộ phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình
được giao, kể cả trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và kể cả khi


thời bình, xây dựng đất nước; khi gặp thắng lợi thì không kiêu căng, chủ quan, tự
mãn; khi gặp khó khăn, gian khổ, trở ngại thì không hoang mang, dao động; “vô
luận hoàn cảnh thế nào, lòng họ cũng không thay đổi” , phải luôn luôn có ý thức
và hành động bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc. Trung thành với cách mạng là phải hết
lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, là việc gì có lợi cho dân, dù
nhỏ, cũng gắng sức làm, việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, cũng hết sức tránh. Đồng
thời, về năng lực, cán bộ phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối,

thị (tức là chỉ nhìn gần mà không nhìn xa trông rộng được), có đầu óc quan sát;
phải chân đi, miệng nói, tay làm, không như thế thì đầy túi quần thông cáo, đầy túi
áo công văn nhưng công việc không chạy. Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề
lý luận cơ bản nhất về quy luật Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản
thân mình. Điều này đúng như điều tất yếu mà Hồ Chí Minh đã nêu: Đảng ta
không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra, do đó, Đảng phải thường
xuyên phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, và đó chính là quy luật phát triển của một
Đảng Mác – Lênin, một Đảng chiến đấu dưới lá cờ của chủ nghĩa cộng sản, vì một
xã hội tốt đẹp, vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người. Riêng về phong cách
công tác của cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các vấn đề chủ yếu: Sửa cách
lãnh đạo về công tác cán bộ; Biết chọn trình tự ưu tiên công việc; Thường xuyên
tổng kết công tác; Phải luôn luôn có sáng kiến; Sâu sát, gần gũi nhân dân, có tinh
thần phụ trách trước dân; Phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ; Có lãnh đạo chung,
nhưng có chỉ đạo điểm.
Phần thứ V: Cách lãnh đạo
1.

Lãnh đạo đúng là quyết định mọi vấn đề cho đúng, kịp thời chính xác, hiệu

quả, tổ chức lãnh đạo cho đúng, tổ chức thi hành cho đúng, tô chức kiểm soát cho
đúng. Người lãnh đao không được kiêu ngạo, mà phải hiểu thấu được tâm tư
nguyện vọng của cấp dưới và của quần chúng nhân dân. : “ Sự hiểu biết và kinh


nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng đắn, vì vậy, ngoài kinh
nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của người đảng
viên, của dân chúng để thêm cho kinh nghiệm của mình ”. Như vậy có nghĩa là
Người muốn nhấn mạnh đến mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ với quần chúng
nhân dân, người lãnh đạo, phải biết lắng nghe những ý kiến của quần chúng, chắt
lọc những ý kiến đóng góp của mọi người dân, nhưng tuyệt đối không phải là theo


người làm nên lịch sử. Họ có kinh nghiệm thực tế, Người căn dặn cán bộ, đảng
viên trước hết phải có lòng tin vào quần chúng nhân dân: "Chúng ta phải ghi tạc
vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ
cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ" và phải biết dựa vào ý kiến của
dân chúng để chỉnh sửa cán bộ và tổ chức, từ đó không ngừng nâng cao năng lực
phục vụ nhân dân. cán bộ, đảng viên phải giữ mối liên hệ chặt chẽ với dân, làm
việc gì cũng phải giữ nguyên tắc bàn bạc cùng dân và giải thích cho dân hiểu, để
khơi dậy không khí dân chủ và tinh thần hăng hái ở họ. Trong tác phẩm, khá nhiều
lần cụm từ "từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng" và "lãnh đạo liên hợp
với quần chúng" được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, coi đó là những nguyên
tắc quan trọng trong quá trình lãnh đạo, làm việc của tổ chức Đảng và đảng viên,
bởi lẽ, "Sự hiểu biết và kinh nghiệm của mình cũng chưa đủ cho sự lãnh đạo đúng
đắn. Vì vậy, ngoài kinh nghiệm của mình, ...còn phải dùng kinh nghiệm của đảng
viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình" . Nhưng bên cạnh đó,
Người cũng nhấn mạnh một điểm hết sức đáng lưu ý và quan trọng, Hồ Chí Minh
căn dặn cán bộ, đảng viên đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của quần chúng song
tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng, bởi "Trong dân chúng, có nhiều tầng
lớp khác nhau, trình độ khác nhau, ý kiến khác nhau. Có lớp tiên tiến, có lớp
chừng chừng, có lớp lạc hậu" . Cán bộ, đảng viên lắng nghe ý kiến của quần
chúng, song không phải dân nói gì cũng nhắm mắt nghe theo, mà phải biết chọn
lựa, vận dụng những ý kiến tích cực, tiến bộ vào công việc, để phục vụ dân tốt hơn.
Phần cuối cùng, phần thứ VI: chống thói ba hoa
Ở phần này, Hồ Chí Minh đề cập tới bệnh ba hoa, căn bệnh mà cán bộ ,đảng
viên dễ mắc phải. Người chỉ ra những biêu hiện của thói ba hoa như: dài dòng,


rỗng tuếch, thói cầu kỳ, khô khan, lúng túng, báo cáo lông bông, lụp chụp, cẩu thả,
sáo cũ, nói không ai hiểu. Thói ba hoa gắn với bệnh chủ quan và hẹp hòi...
- Đồng thời Người cũng đưa ra những biện pháp để chữa trị căn bệnh này như:

chặt lý luận với thực tiễn cách mạng Việt Nam để nâng cao năng lực hoạch định
đường lối cách mạng, góp phần phát triển lý luận Mác-Lê nin, soi sáng con đường
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Điều cốt yếu là Đảng ta luôn lấy Chủ nghĩa Mác-Lê
nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động
của mình. Lập trường nguyên tắc của Đảng là kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn
liền với Chủ nghĩa xã hội để tìm ra hình thức và bước đi phù hợp, chống mọi biểu
hiện chủ quan, giáo điều và mọi biểu hiện cơ hội trong Đảng dưới mọi mầu sắc.
Xây dựng đảng về tư tưởng là Xây dựng, chỉnh đốn Đảng về tư tưởng là làm
cho hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác -Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thật sự
trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn
dân ta, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp côngnhân của Đảng. Tại lớp huấn
luyện đảng viên mới của Thành uỷ Hà Nội, ngày 14-5-1966. Bác Hồ nói: ''Để lãnh
đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do các
đảng viên đều tốt. Muốn xây dựng chi bộ "bốn tốt'' thì phải bồi dưỡng lập trường
vô sản cho đảng viên. Muốn có lập trường vô sản vững chắc thì đảng viên phải có
ý thức giai cấp, đồng thời phải có lý luận cách mạng. Không có lý luận về chủ
nghĩa xã hội khoa học thì không thể có lập trường giai cấp vững vàng.
Tiếp thu theo tư tưởng của Người trong tác phẩm, Công tác xây dựng Đảng
về chính trị tư tưởng, được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của Đảng ta.
Việc đề ra đường lối chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển, theo quan điểm của
Người phải phù hợp với tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, mọi đường
lối chủ trương Đảng đề ra cần phai biết lắng nghe ý kiến từ nhân dân,Xây dựng,
chỉnh đốn Đảng về chính trị là kiên định con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa


chọn, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong những bài học
mà Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết sau mười năm đổi mới, bài học về giữ vững
mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được đưa lên hàng đầu. Độc lập dân
tộc gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt trong lịch sử lãnh đạo cách
mạng của Đảng ta.Các đại hội và hội nghị Trung ương từ khoá VI đến khoá VIII

Đảng hiện nay” đã phát động trong toàn Đảng cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình. Đây là sự tiếp nối Nghị quyết Trung
ương 3, khoá VII, tháng 6-1993, nhưng có yêu cầu cao hơn, nội dung tập trung hơn
và chỉ đạo thực hiện với tinh thần quyết liệt hơn. Với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ
và cách làm thích hợp, cuộc vận động đã đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn
và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, nên đã tạo ra một không khí mới trong
công tác xây dựng Đảng. Sau mấy năm thực hiện cuộc vận động, công tác xây
dựng Đảng đã đạt được những kết quả quan trọng. Nhận thức chính trị của cán bộ,
đảng viên được nâng lên một bước, nhất là về đường lối, quan điểm của Đảng; về
vị trí then chốt của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; về sự kiên định đối với
nguyên tắc, Cương lĩnh và Điều lệ Đảng; ý thức đề phòng, ngăn ngừa sự suy thoái
về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên được nâng cao. Nêu cao hơn tinh thần
trách nhiệm, coi trọng việc mở rộng và phát huy dân chủ. Xử lý được nhiều việc
nổi cộm, tồn đọng, thực hiện một bước chỉnh đốn, kiện toàn tổ chức đảng các cấp;
thi hành kỷ luật và thay đổi một số cán bộ vi phạm, trong đó có cả cán bộ cao cấp,
góp phần tích cực vào việc lựa chọn nhân sự đúng tiêu chuẩn cho bầu cử đại biểu
Quốc hội khúa XI, XII và nhân sự cho Đại hội IX và X của Đảng. Mặc dù còn
nhiều hạn chế, nhưng những kết quả thu được là đáng ghi nhận, từ đó Đảng ta cũng
rút ra một số kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác xây dựng Đảng trong tình hình mới. Đặc biệt, trong giai đoạn mới của
cách mạng nước ta, trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status