MỤC LỤC
LỜI NÓI MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Sau một thời gian tìm hiểu về công ty TNHH LAPTOP 4G em nhận thấy
trong quá trình kinh doanh công ty vẫn còn kinh doanh theo phương thức truyền
thống,chưa phát huy được điểm mạnh của công ty và công ty bán hàng theo hình
thức là khách hàng có nhu cầu phải đến tận nơi của cửa hàng để lựa chọn chưa có
đội ngũ chăm sóc khách hàng,những hình ảnh quảng cáo banners bang jon còn hạn
chế.
Chính vì thế, với mong muốn đưa ra những đề xuất như xây dựng một
website riêng cho công ty áp dụng marketing thương mại điện tử đưa ra các chiến
lược kinh doanh để giúp công ty hoạt động tốt cũng như việc áp dụng kiến thức lý
thuyết của mình vào thực tiễn, em quyết định chọn tên đề tài là: “Nghiên cứu một
số mô hình thương mại điện tử và ứng dụng cho công ty TNHH LAPTOP 4G
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Đê tai nhăm nghiên c
̀ ̀
̀
ứu tông quan vê th
̉
̀ ương mai điên t
̣
̣ ử,và một số mô hình
thương mại điện tử nắm được một số mô hình thương mại điện tử,nắm được
ngôn ngữ lập trình và đặc biệt là ứng dụng một số mô hình thương mại điện tử
Chương 2: Phân tích thiết kế hệ thống.
Chương 3: Chương trình thực nghiệm ( y dựng một website bán máy tính,giới
thiệu hàng hóa..)
2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1.Khái niệm thương mại điện tử.
Thương mại điện tử (còn gọi là thị trường điện tử, thị trường ảo, E
Commerce hay E Business) là quy trình mua bán ảo thông qua việc truyền dữ liệu
giữa các máy tính trong chính sách phân phối của tiếp thị. Tại đây một mối quan hệ
thương mại hay dịch vụ trực tiếp giữa người cung cấp và khách hàng được tiến
hành thông qua Internet.
1.1.1.Hiểu theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện
tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử,là qua
Internet và các mạng liên thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), "Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh
toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản
phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet".
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu ÁThái
Bình Dương (APEC), "Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành
thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số".
1.1.2.Hiểu theo nghĩa rộng.
động mua bán hàng hoá; dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng
chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương
mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp
với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như
hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung
cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc
sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới (như siêu thị ảo)
Theo quan điểm thứ hai nêu trên, "thương mại" (commerce) trong "thương
mại điện tử" không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông
thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, do đó việc áp dụng thương
mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế.
Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng
dụng,
trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng.
1.2 Những đặc trưng của TMDT.
Các điểm đặc biệt của thương mại điện tử so với các kênh phân phối truyền
thống là tính linh hoạt cao độ về mặt cung ứng và giảm thiểu lớn phí tổn vận tải
với các đối tác kinh doanh. Các phí tổn khác thí dụ như phí tổn điện thoại và đi lại
để thu nhập khác hàng hay phí tổn trình bày giới thiệu cũng được giảm xuống. Mặc
dầu vậy, tại các dịch vụ vật chất cụ thể, khoảng cách không gian vẫn còn phải
được khắc phục và vì thế đòi hỏi một khả năng tiếp vận phù hợp nhất định.
Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước
4
Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để
tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý
Trong thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch
giống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là
5
nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực…Là những người tạo môi
trường cho các giao dịch thuơng mại điện tử.
Nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực có nhiệm vụ chuyển
đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham gia giao dịch thương mại điện tử, đồng
thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của các thông tin trong giao dịch thương mại điện
tử. Đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường.
Thông qua thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hình
thành. Ví dụ: Các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng máy tính hình thành trên các
trung gian ảo làm các dịch vụ môi giới, trọng tài cho giới kinh doanh và tiêu dùng,
các siêu thị ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy
tính.
Theo một số chuyên gia về kinh doanh trên mạng, chính những tính năng để
sử dụng và hình thức vui mắt, dễ hiểu của các trang Web dành cho Thương mại
điện tử là những yếu tố quyết định trong việc thu hút khách hàng.
Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! American online hay Alta Vista..
đóng vai trò như các trang Web gốc khác với vô số thông tin. Các trang Web này đã
trở thành các “khu chợ” khổng lồ trên internet. Với mỗi lần nhấn chuột,khách hàng
có khả năng truy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào
thăm rồi mua hàng là rất cao.
Tính tiện lợi và dễ sử dụng luôn được khách hàng quan tâm. Tuy
nhiên,trong thời gian tới khi các công ty kinh doanh trên mạng cạnh tranh khốc liệt
hơn và cố gắng thu hút khách hàng nhất thì sự phát triển cũng sẽ không kém so với
doanh riêng lẻ nhất định, thí dụ như cung cấp: nhiều doanh nghiệp có thể từ các
ngành khác nhau tham gia như là người mua và liên hệ với một nhóm nhà cung cấp.
Ngược lại, thị trường dọc mô phỏng nhiều quy trình kinh doanh khác nhau của một
ngành duy nhất hay một nhóm người dùng duy nhất.
Ngày nay công nghệ thực hiện một thị trường điện tử đã rẻ đi rất
nhiều.Thêm vào đó là xu hướng kết nối nhiều thông tin chào hàng khác nhau thông
qua các giao diện lập trình ứng dụng để thành lập một thị trường chung có mật độ
chào hàng cao. Ngoài ra các thị trường độc lập trước đây còn được tích hợp ngày
càng nhiều bằng các giải pháp phần mềm cho một cổng Web toàn diện.
Căn cứ vào tính chất của thị trường và khách hàng, người ta thường đề cập
đế 2 loại hình Thương mại điện tửc hinh.
B2B (Business To Business): thương mại điện tử B2B chỉ bao gồm các
giao dịch thương mại trên Internet mà trong đó, đối tượng khách hàng của loại
hình này là các doanh nghiệp mua
hàng.
B2C (Business To Customer): Thương mại điện tử B2C là chỉ bao
gồm các giao dịch thương mại trên Internet giữa doanh nghiệp với khách hàng,
mà trong đó, đối tượng khách hàng của loại hình này là các cá nhân mua hàng.
Loại hình này áp dụng cho bất kỳ doanh nghiệp hay tổ chức nào bán các sản
phẩm hoặc dịch vụ của họ cho khách hàng qua Internet, phục vụ cho nhu cầu sử
dụng của cá nhân
Vậy điểm khác biệt giữa Thương mại điện tử B2B và B2C là gì?
Điều thứ nhất là sự khác nhau về khách hàng:
7
thuật mã hóa hiện đại, và một cơ chế an ninh hữu hiệu (nhất là đối với các hệ
thống có liên quan tới an ninh quốc gia). Ngoài ra, còn có nhu cầu ngày càng tăng vì
giữ gìn bí mật riêng tư.
Thương mại điện tử chỉ có thể thực hiện thực tế và có hiệu quả khi đã tồn
tại một hệ thống thanh toán tài chính ở mức độ phát triển đủ cao, cho phép tiến
8
hành thanh toán tự động (trong đó "thẻ thông minh") có vai trò đặc biệt quan trọng
trong kinh doanh bán lẻ; khi chưa có hệ thống này, thì thương mại điện tử chỉ giới
hạn trong khâu trao đổi tin tức, còn việc buôn bán hàng hóa và dịch vụ vẫn phải kết
thúc bằng trả tiền trực tiếp hoặc qua các phương tiện thanh toán truyền thông; hiệu
quả sẽ thấp, rất có thể không đủ bù đắp chi phí trang bị phương tiện thương mại
điện tử.
Mỗi một quốc gia, thương mại điện tử chỉ có thể tiến hành khi tính pháp lý
của nó được thừa nhận (biểu hiện cụ thể bằng sự thừa nhận pháp lý giá trị của các
giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, chữ ký số hóa, các thanh toán điện tử, các dữ liệu
có xuất xứ từ các cơ quan nhà nước, sở hữu trí tuệ hàm chứa trong thông tin trên
Website, bí mật đời tư, và bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin chống tội phạm
xâm nhập), và có các cơ quan xác thực hoặc chứng nhận chữ ký điện tử, v.v...;
Ngoài ra, còn đòi hỏi mọi doanh nghiệp, hàng hóa và dịch vụ đều đã được mã hóa
thống nhất; một hệ thống thuế thích hợp để xử lý các dữ liệu và các dịch vụ mua
bán qua mạng; nói cách khác, đòi hỏi phải có một môi trường. kinh tế đã tiêu chuẩn
hóa ở mức cao, với các khía cạnh của thương mại điện tử được phản ánh đầy đủ
trong quan hệ nội luật. Trên bình diện quốc tế, vấn đề môi trường pháp lý còn phức
tạp hơn nữa, vì các trao đổi là xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có sự hài hòa giữa các
hệ thống pháp luật và hệ thống chính trị khác nhau.
Tác động văn hóa xã hội của thương mại điện tử xuất hiện khi sử dụng
Joomla là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở CMS. Joomla! được viết
bằng ngôn ngữ PHP và kết nối tới cơ sở dữ liệu MySQL. Bài hôm nay chúng ta sẽ
tìm hiểu cơ bản về các khái niệm trong joomla, tạo tiền đề cho một chuổi bài
viết hướng dẫn về joomla sau này.
Front End:
Là các trang Web mà mọi người sẽ được thấy khi truy cập vào Web Site của
bạn. Phần này ngoài việc hiển thị nội dung của trang Web còn là nơi mọi người có
thể đăng ký thành viên và tham gia quản lý, viết bài đăng trên trang Web.
Backend:
Là phần quản lý Web Site dành cho các Quản trị, chủ nhân của Web Site.
Phần này bạn nào học thiết kế web cũng phải biết qua, nó cho phép cấu hình các
thông số về hoạt động, nội dung, hình thức và quản lý các thành phần, bộ phận
được tích hợp thêm cho Joomla! Phần backend được truyậ thông
qua
đường dẫn:
http://your_domain/administrator.
10