Lời giới thiệu
Lịch sử phát triển các nớc trên thế giới đã chứng minh rất rõ:
Vốn đầu t và hiệu quả vốn đầu t là một trong những yếu tố quan trọng
nhất tác đọng đến sự phát triển nõi chung và tăng trởng kinh tế nói
riêng của mỗi quốc gia. Vốn đầu t bao gồm: vốn trong nớc, vốn thu
hút từ nớc ngoài chủ yếu dới hình thức vốn ODA, đầu t trực tiếp, các
khoản tín dụng nhập khẩu. Đối với những nớc nghèo, thu nhập thấp,
khả năng tích luỹ vốn từ trong nớc hạn chế thì nguồn vốn nớc ngoài
có ý nghĩa quan trọng.
Ngoài tính chất u đãi của vốn ODA, một trong những đặc điểm
khác nhau giữa ba loạinguồn vốn trên là: ODA chỉ là sự chuyển nh-
ợng vốn mang tính chất trợ giúp từ các nớc phát triển sang các nớc
đang phát triển. Đặc điểm này cho thấy nguồn ODA là một nhân tố
quan trọng tạo nên các cơ hội phát triển cho các nớc nghèo và kém
phát triển.
Tuy nhiên, ODA về thực chất cũng là một khoản nợ nớc ngoài
mà các nớc nhận tài trợ cần phải trả. Vì thế, việc quản lý và sử dụng
ODA sao cho có hiệu quả phù hợp với các mục tiêu và định hớng phát
triển của đất nớc là một yêu cầu khách quan.
Chính vì vậy, trong thời gian thực tập tại Vụ Tổng Hợp - Bộ Kế
Hoạch và Đầu t, em đã lựa chọn đề tài: "Các giải pháp nhằm tăng c-
ờng khả năng quản lý các dự án ODA" với mục đích đóng góp
những hiểu biết của mình vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện việc
quản lý các dự án ODA. Tuy nhiên, do hiểu biết còn nhiều hạn chế
nên luận văn không thể tránh khỏi có những sai sót. Vì vậy, em mong
có đợc những nhận xét, đánh giá của các thầy, cô nhằm hoàn thiện đề
tài này.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà nội ngày... tháng ....năm.....
Sinh viên
Võ Đình Toàn
1. Khái niệm.
Theo cách hiểu chung nhất: Vốn ODA hay còn gọi là vốn hỗ trợ phát
triển chính thức là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc vay vơí điều kiện u
đãi (vê lãi suất, thời gian ấn hạn và trẩ nợ) của Chính phủ của các nớc phát
triển, các cơ quan chính thức thuộc tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ.
ở Việt nam: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một hình
thức hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các tổ chức Chính phủ, các tổ chức
quốc tế (UNDP, ADB, WB, IMF...). Các tổ chức phi chính phủ (NGO
s
) gọi
chung là các đối tác viện trợ hay các nhà tài trợ nớc ngoài. ODA đợc thực hiện
thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ cho Chính phủ Việt Nam các
hoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay u đãi về lãi suất và thời hạn thanh
toán.
Trên thế giới, ODA đã đợc thực hiện từ nhiều thập kỷ gần đây, bắt đầu từ
kế hoạch MacSall của Mỹ cung cấp viện trợ cho Tây âu sau chiến tranh thế giới
thứ 2. Tiếp đó là hội nghị Colombo năm 1955 hình thành những ý tởng và
nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển. Sau khi thành lập, Tổ chức Hợp tác
kinh tế và phát triển (OECD) năm 1961 và Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC), các
nhà tài trợ đã lập lại thành một cộng đồng nhằm phối hợp với các hoạt động
chung về hỗ trợ phát triển. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đông -
Tây, thế giới tồn tại ba nguốn ODA chủ yếu:
- Liên Xô và Đông âu.
- Các nớc thuộc tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển.
- Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ.
Về thực chất, ODA là sự chuyên giao một phần GNP từ các nớc phát
triển sang các nớc đang phát triển. Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kêu gọi các n-
ớc phát triển dành 1% GDP để cung cấp ODA cho các nớc đang phát triển và
chậm phát triển.
Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phân
4
Chính phủ nớc
ngoài
Chính phủ Việt
Nam
NGO
s
hoặc các tổ
chức quốc tế
NGO
s
hoặc các tổ
chức quốc tế
NGO
s
hoặc các tổ
chức quốc tế
- Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam.
2. Các loại hình ODA.
2.1. Xét theo mục đích ODA gồm các hình thức chủ yếu sau:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán:
Thơng là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ nhng đôi khi là
hiện vật hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ và hàng hoá chuyển trong nớc qua
hình thức này đợc chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách.
- Hỗ trợ ch ơng trình (còn gọi là viện trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt đợc
một hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lợng ODA cho một
mục đích tổng quát với thời hạn nhất định để thực hiện nhiều nội dung khác
nhau của một chơng trình.
Hỗ trợ dự án:
Là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm hỗ trợ cơ
khoảng 5-10 năm trở lên.
Thông thờng các nớc tiếp nhận ODA để đầu t vào các dự án kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống,
tạo môi trờng hạ tầng cơ sở để tiếp tục thu hút vốn đầu t.
3. Vai trò của ODA trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của các nớc
đang phát triển.
Đối với tất cả các quốc gia tiến hành công nghiệp hoá đất nớc thì vốn là
một yếu tố một điều kiện tiền đề không thể thiếu. Nhất là trong điều kiện hiện
nay, với những thành tựu mới của khoa học và công nghệ cho phép các nớc tiến
hành công nghiệp hoá có thể rút ngắn lịch sử phát triển kinh tế khắc phục tình
trạng tụt hậu và vận dụng đợc tối đa của lợi thế đi sau.
Nhng để làm đợc những điều đó thì nhu cầu về nguồn vốn là vô cùng lớn
trong khi đó ở giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá thì tất cả các nớc đều
dựa vào nguồn vốn bên ngoài mà chủ yếu là ODA và FDI.
Trong đó ODA là nguồn vốn của các Chính phủ, các quốc gia phát triển ,
các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ hoạt động với mục tiêu trợ
giúp cho chiến lợc phát triển của các nớc đang và chậm phát triển. Do vậy
nguồn vốn này có những u đãi nhất định, do những u đãi này màcác nớc đang
và chậm phát triển trong giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá đất nớc
thờng coi ODA nh là một giải pháp cứu cánh để vừa khắc phục tình trạng thiếu
vốn đầu t tron gnớc vừa tạo cơ sở vật chất ban đầu nhằm tạo dựng một môi tr-
ờng đầu t thuận lợi để kêu gọi nguồn vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI, đồng
thời tạo điều kiện thúc đẩy đầu t trong nớc phát triển. Nh vậy, có thể nói nguồn
vốn ODA có vai trò quan trọng trong chiến lợc phát triển kinh tế của các nớc
đang và chậm phát triển, điều đó thể hiện rõ nét ở khía cạnh sau:
Thứ nhất: ODA có vai trò bổ sung cho nguồn vốn trong nớc. Đối với các
nớc đang phát triển các khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA là nguồn
tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho quá trình phát triển.
6
Chẳng hạn trong thời kỳ đầu của các nớc NIC
Kể từ khi cộng đồng tài trợ quốc tế nối lại sự giúp đỡ của mình cho Việt Nam,
mức giải ngân ODA hàng năm đã tăng một cách vững chắc từ mức 272 triệu
USD vào năm 1994 ( khoảng 26% chi tiêu xây dựng cơ bản của chính phủ) lên
khoảng 1.120 triệu USD vào năm 1998 (xấp xỉ 80%).
Trên thực tế do tính chất u đãi của vốn ODA mà các quốc gia sử dụng nó
thờng e ngại về gánh nặng nợ nần nhng thực tế thì đó là nỗi lo sợ của với các n-
7
ớc quản lý và sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả. Gánh nặng nợ nần sẽ đợc
giảm rất nhiều nếu biết quản lý để đem lại hiệu quả sử dụng ODA cao.
Thứ hai: ODA dới dạng viện trợ không hoàn lại giúp các nớc nhận viện
trợ tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn
nhân lực. Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nớc nhận tài trợ
là công nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên
tiến. Đông thời bằng nguồn vốn ODA các nhà tài trợ còn u tiên đầu t cho phát
triển nguồn nhân lực vì việc phát triển của một quốc gia có quan hệ mật thiết
với việc phát triển nguồn nhân lực.
Thứ ba: ODA giúp các nớc đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế. Đối
với các nớc đang phát triển khó khăn kinh tế là điều kiện khôn tránh khỏi.
Trong đó nợ nớc ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia
tăng là tình trạng phổ biến. Để giải quyết vấn đề này các quốc gia cần phải cố
gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp vơí ngan hàng thế giới, quỹ
tiền tệ quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành chính sách điều chỉnh cơ
cấu. Chính sách này dự đinh chuyển chính sách kinh tế Nhà nớc đóng vai trò
trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát triển theo định hớng
phát triển kinh tế khu vực t nhân. Nhng muốn thực hiện đợc việc điều chỉnh này
cần phải có một lợng vốn cho vay mà các chính phủ lại phải dựa vào nguồn vốn
ODA.
Thứ t: Hỗ trợ phát triển chính thức tăng khả năng thu hút vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài và tạo điều kiện mở rộng đầu t phát triển trong nớc ở các nớc
đang và chậm phát triển. Nh chúng ta đã biết để có thể thu hút đợc các nhà đầu
rất lớn đặc biệt là một trong những quốc gia đứng đầu trong danh sách những
nhà tài trợ cho Việt Nam.
b. Các tổ chức quốc tế.
- Ngân hàng phát triển Châu á: ADB.
Đợc thành lập năm 1966 do 31 chính phủ thành viên nhằm xúc tiến quá
trình giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội trong khu vực Châu á - Thái Bình D-
ơng. Trong hơn 33 năm qua các thành viên đã tăng lên rất nhiều ADB chú trọng
đến nhu cầu của các nớc nhỏ và các nớc kém phát triển và u tiên đặc biệt đến
chơng trình và dự án khu vực, tiểu vùng và quốc gia.
- Các tổ chức tài chính quốc tế khác: WB, IMF, UNDP...
* Đối với Việt Nam theo số liệu 91- 2000. Các nhà tài trợ chính đó là
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng thế giới(WB), Ngân
hàng phát triển Châu á (ADB) đã thiết lập các hoạt động của mình ở Việt Nam
trong 6-8 năm qua và đã nổi lên nh 3 nhà tài trợ lớn nhất về nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức ODA ở Việt Nam. Xu hớng gần đây nếu nghiên cứu kỹ danh
9
mục các chơng trình sự án ODA của tổ chức này về mặt định lợng, chiều hớng
chung là tơng đối khả quan với các mức tăng về giai rngân và mức giảm về lợng
tích tụ của các cam kết cha đợc giải ngân.
Khi xem xét tổng mức của ba tổ chức này có thể quan sát thấy rằng các
cam kết hàng năm đạt mức cao nhất năm 1997 và từ thời điểm đó đến nay có
chiều hớng suy giảm. Mức giải ngân, tuy nhiên đã tăng một cách vững chắc từ
năm 1995 trở đi. Trong năm 1999 mức giải ngân tăng gấp 12 lần so với năm
1997, mặc dù vậy tốc độ tăng nay (theo tỷ lệ %) đã giảm dần từ năm 1996.
Không thấy có khuynh hớng chung rõ nét nào đối với tỷ lệ giải ngân của ba tổ
chức này. Phần cam kết cha giải ngân liên tục tăng trong các năm 1994. Vì thế
bức tranh chung là mức giải ngân đang đợc cải thiện và nếu chiều hớng hiện
nay vẫn nh vậy thì giai đoạn đầu của hoạt động ODA của ba tổ chức này, đặc tr-
ng bởi số lợng dự án tăng và thực hiện dự án chậm, sẽ đợc hoàn thiện trong một
số giai đoạn ổn định hơn. Nếu tách từng tổ chức một để xem xét thì bức tranh
so với dự kiến.
Ngân hàng phát triển Châu á: (ADB) có 25 dự án đang thực hiện ở Việt
Nam trong đó có 21 dự án đầu t đã có hiệu lực với tổng nợ ròng là 1,7 tỷ USD
đã giải ngân đợc 30%. Trong khi cam kết hàng nm giảm từ mức cao nhất vào
năm 1997, một phần chậm trễ trong việc xử lý các khoản vay dự kiến, thì mức
giải ngân và trao hợp đồng trong năm 1999 lại đứng ở mức cao nhất kể từ khi
ADB cung cấp các khoản vay ở Việt Nam. Tỷ lệ giải ngân đang đợc cải thiện,
nhng vẫn thấp hơn mức trung bình trong khu vực và ADB vẫn lo lắng về tình
hình thực hiện này, bản chất của các vấn đề về thực hiện các chơng trình dự án
dờng nh đã chuyển biến với sự hoàn chỉnh về danh mục sự án. Các chậm trễ
trong việc tuyển chọn và đa t vấn ào hoạt động, trao hợp đồng và giải ngân đang
trở thành vấn đề lo ngại nhất. ADB sẽ lấy thực hiện dự án làm yếu tố quết định
các khoản vay trong tơng lai.
Bảng số liệu các dự án đầu t của Nhật Bản, WB, ADB - tình hình giải ngân
1994-1999 (triệu USD/ niên lịch
1994 1995 1996 1997 1998 1999
JBIC
Cam kết hàng năm 510 619 649 673 648 773
Giải ngân hàng năm 0 37 38 109 292 4526
Phần cam kết cha giải ngân 510 1091 1703 2267 2623 2940
Tỉ lệ giải ngân (%) 0,1 3,2 2,3 5,2 11,8 13,9
11
WB
Cam kết hàng năm 228 314 508 389 392 318
Giải ngân hàng năm 65 17 129 181 220 189
Phần cam kết cha giải ngân 228 164 460 840 1047 1219
Tỉ lệ giải ngân (%) 28 11 28 22 21 15
ADB
Cam kết hàng năm 61 233 217 360 284 220
Giải ngân hàng năm 3 48 29 149 128 191
cấp ODA cho các nớc đang phát triển song khả năng này rất ít thành hiện thực
(theo các số liệu mới nhất thì tỉ lệ này hiện nay chỉ đạt mức trung bình vào
khoảng 0,7%). Thực tế cho thấy các nớc có khối lợng ODA lớn nhất nh Mỹ,
Nhật Bản... thì tỉ lệ này chỉ đạt trên dới 0,3% trong nhiều năm qua. Tuy có một
số nớc nh Thuỵ Điển, Nauy, Phần Lan, Đan Mạch... đã có tỷ lệ ODA hơn 1%
song khối lơng ODA tuyệt đối của các nớc này không lớn. Thêm vào đó tình
hình phục hồi kinh tế chậm ở các nớc phát triển cũng là một trở ngại gia tăang
ODA.
Ngoài ra các nớc phát triển đang phải đối đầu với hàng loạt vấn đề xã hội
trong nớc và chịu sức ép của d luận đòi giảm viện trợ cho nớc ngoài để tập
chung giải quyết các vấn đè trong nớc.
II. Quy trình quản lý dự án ODA.
Theo quy định chung về quản lý và sử dụng, một dự án ODA thờng bao
gồm các bớc sau:
- Xác định dự án.
- Chuẩn bị đầu t.
- Thực hiện đầu t.
- Nghiệm thu và đánh giá.
Sơ đồ quy trình quản lý dự án ODA.
1. Xác định dự án và đánh giá ban đầu.
2. Chuẩn bị và thiết kế dự án.
13
Xác định
mục tiêu
chiến lược
quốc gia
Xem xét
đãnh giá
những đề
báo cáo
nghiên cứu
khả thi
Tuyển
chọn kí
kết với
nhà rhầu
thực hiện
dự án
Đàm phán
về bản ghi
nhớ
Triển
khai dự
án
Theo dõi dự
án vè tài
chính hiện
vật trong
quá trình
thực hiện
Nhà thầu
chuẩn bị
báo cáo
hoàn thành
dự án
Đánh giá
sau hoàn
thành đối
với một số
- Nghiên cứu khả thi
- Dự thảo văn kiện thiết kế dự án
Văn kiện thiết kế dự án bao gồm kế hoạch chi tiết về chi phí, nguồn lực
và kế hoạch thực hiện. Tuy nhiên, phê chuẩn tài chính mới có thể thay cho phe
chuẩn đa ra trớc đây khi dự án lúc đó còn trong giai đoạn chuẩn bị và thiết kế.
3. Thực hiện đầu t và theo dõi dự án.
Bớc đầu tiên của giai đoạn này là thảo luận để đi đến ký kết bản ghi nhớ
(MOU) thể hiện sự nhất trí giữa hai Chính phủ. MOU bao gồm các điều khoản
tiêu chuẩn, các phụ lục tham chiếu, trong đó mô tả dự án và định số trách nhiệm
của hai Chính phủ. Dự án sẽ chính thức đợc triển khai sau khi MOU đợc ký kết
và các nhà thầu đủ tiêu chuẩn đợc tuyển chọn. Nhiệm vụ đầu tiên của nhà thầu
chính thực hiện là chuẩn bị văn kiện thực hiện dự án (PID).Quá trình này cho
phép nhà thầu xác định những điều chỉnh cần thiết cho dự án từ kinh nghiệm
ban đầu khi triển khai dự án. Dự án sẽ đợc theo dõi trong quá trình thực hiện.
Qua công tác theo dõi các nhà tài trợ song phơng biết đợc tình hình thực hiện sự
án có tốt không, nhà thầu thực hiện so với hợp đồng ra sao, liệu có đạt đợc các
mục tiêu đặt ra?
4. Hoàn thành và đánh giá dự án.
Giai đoạn này bao gồm: Việc chuẩn bị báo cáo hoàn thành dự án (PCR)
đối với tất cả các dự án và tiến hành đánh giá sau dự án đối với một số dự án đ-
ợc lựa chọn. Nhà thầu thực hiện cần chuẩn bị PCR trớc khi kết thúc dự án. PCR
mô tả thiết kế dự án từ khi xây dựng dự án giai đoạn chuẩn bị đến khi bổ sung
trong giai đoạn thực hiện. Sự chấp thuận báo cáo này của nhà tài trợ song phơng
đánh dấu thời điểm kết thúc dự án.
15
Sau khi dự án kết thúc có thể phải tiến hành đánh giá sau dự án, mô tả
lịch sử của dự án, những thành công của dự án, những thiếu sót và xác định
những bài học đúc kết trong khâu thiết kế và thực hiện dự án phân tích độc lập
của nhà tài trợ song phơng cùng các văn kiện dự án khác có thể rút ra những bài
học và đa vào cơ sở dữ liệu về bài học kinh nghiệm của nhà tài trợ, tạo cơ sở để
Nh vậy trong thời kỳ trên mức giải ngân hàng năm bình quân đạt 1.110
triệu USD, bằng 74% mức giải ngân bình quân năm của kế hoạch 1996- 2000
(1.500 triệu USD/ năm). Xu thế giải ngân trong thời gian qua tiến bộ điều này
đợc các nhà tài trợ khẳng định.
Nhìn chung lại tình hình giải ngân vốn ODA trong năm 1998 tơng đối tốt
đó là do về cơ bản các dự án ODA đã đợc bố trí đủ nguồn vốn đối ứng đồng
thời Chính phủ không điều chỉnh tiến độ xây dựng cơ bản đối với các dự án
ODA đã đợc cam kết với các nhà tài trợ. Cho đến nay nhiều nhà tài trợ đã xây
dựng hoặc cập nhật chiến lợc quốc gia về hợp tác phát triển với Việt Nam, đây
là cơ sở quan trọng để tăng cờng đối ngoại giữa Chính phủ Việt Nam với các
nhà tài trợ. Trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã tiến hành các cuộc đối
thoại về hợp tác phát triển với một số nhà tài trợ nh ngân hàng thế giới (chiến l-
ợc hỗ trợ quốc gia của WB cho Việt Nam 1999 - 2002), Nhật Bản (trao đổi ý
17
kiến cấp cao về quan hệ kinh tế và hợp tác phát triển)... Tại các cuộc trao đổi ý
kiến nói trên, các nhà tài trợ đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam duy trì đã
tăng trởng trong bối cảnh tình hình trong và ngoài nớc có nhiều khó khăn khẳng
định tiếp tục cam kết hỗ trợ quá trình phát triển của đất nớc với những điều
chỉnh cần thiết cho thích ứng với tình hình mới trong đó sẽ chú trọng nhiều hơn
đến nông nghiệp và ntông thôn, hỗ trợ giải quyết những vấn đề xã hội trong quá
trình đẩy mạnh cổ phần hoá, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đẩy mạnh
những nỗ lực xoá đói giảm nghèo...
Cộng đồng tài trợ quốc tế cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng cờng chất lợng
đầu vào của các cthơng trình, dự án ODA, đó là công tác chuẩn bị thẩm định và
phê duyệt dự án cần đợc tổ chức chặt chẽ và chất lợng cao hơn trên cơ sở phát
triển quan hệ đối tác. Đồng thời các nhà tài trợ bày tỏ mong muốn có sự phối
hợp và điều phối ODA tốt hơn nữa giữa các cơ quan Chính Phủ, giữa Chính Phủ
và các nhà tài trợ cũng nh giữa các nhà tài trợ.
* Tình hình cam kết và giải ngân của một số nhà tài trợ chủ yếu.
(1) Nhật Bản.
Giải ngân hàng năm 4,9 20,6 13,3 41,4 45,1 86,8
% giải ngân / cam kết 61 233 217 360 284 220
Mức cam kết tăng từ năm 1994 cao nhất vào năm 1997 (360 triệu USD)
và sau đó giảm dần vào các năm sau và mức giải ngân nhìn chung có xu hớng
tăng qua các năm và có đạt mức giải ngân cao nhất vào năm 1999 (191 triệu
USD) còn phần trăm giải ngân so với cam kết nó chỉ giảm năm 1996 (13,3%)
nhìn chung nó cũng có xu hớng tăng lên qua các năm và tỷ lệ này đạt cao nhất
vào năm 1999 (86,8%).
(4) Tổng thể của 3 nớc này.
(triệu USD/ năm)
Năm 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Cam kết hàng năm 799 1166 1374 1422 1324 1311
Giải ngân hàng năm 68 62 196 358 641 761
% giải ngân / cam kết 8,5 5,3 14,2 25,2 48,4 58
19
Nhìn vào đây ta thấy các cam kết đạt mức cao nhất vào năm 1997 (1422
Triệu USD) và từ thời điểm đó đến nay có nhiều chiều hớng suy giảm. Mức giải
ngân tuy đã tăng một cách vững chắc từ năm 1995 trở đi. Tron gnăm 1999 mức
giải ngân gấp 12 lần so với năm 1995 và gấp trên 2 lần năm 1997 và tỷ lệ giải
ngân so với cam kết cũng tăng đều từ năm 1995 trở đi con số này cho thấy nhìn
tổng tỷ lệ thì tốt.
Những số liệu ở phần trên cho thấy nguồn viện trợ nớc ngoài khá phong
phú và đa dạng song công tác quản lý và sử dụng còn rất nhiều hạn chế.
- Mặc dù trong các năm qua Đảng và Nhà nớc đã rất chú trọng quan tâm
đến vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ, đã ban hành
nhiều quyết định liên quan đến lĩnh vực này song cũng có lúc quy chế ra không
kịp thời. Việc vận hành cơ chế quản lý và sử dụng các nguồn viện trợ còn nhiều
điểm chồng chéo, chậm, thủ tục rờm rà.
- Chính sách quản lý các nguồn viện trợ không thống nhất. Lẽ ra Bộ KH
& ĐT là cơ quan đầu mối cho cơ quan đầu mối trong đàm phán thu hút, Bộ tài
hiệu quả, có nơi lãng phí, tiêu cực.
2. Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA.
Kế hoạch hoá ODA là kế hoạch hoá một nguồn vốn ngân sách chủ yếu
dùng để đầu t phát triển quốc gia. Theo các quy định hiện hành một dự án ODA
đợc kế hoạch hoá ở cả ba phơng diện: nhu cầu vốn, đầu t xây dựng và quản lý
dự án.
2.1 Kế hoạch hoá nguồn vốn ODA.
Xét về khía cạnh nhu cầu vốn công tác kế hoạch hoá vốn ODA cấp quốc
gia do Bộ KH và ĐT chỉ đạo và đợc tiến hành nh sau:
- Dựa trên chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, quy hoach đầu t của cả nớc
các kế hoạch hàng năm và 5 năm của Chính phủ, Bộ KH và ĐT dự thảo một quy
hoạch tổng thể về định hớng khai thác và sử dụng ODA để trình Thủ tớng Chính
phủ phê duyệt.
- Các ngành, các địa phơng xác định nhu cầu vốn trên cơ sở kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội thuộc phạm vi phụ trách và phù hợp với quy hoạch định
hớng ODA.
- Bộ KH và ĐT phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị danh mục
các chơng trình và dự án đầu t bằng vốn ODA phân theo các nhà tài trợ để trình
Thủ tớng phê duyệt.
- Sau khi đợc phê duyệt, danh mục này sẽ đợc Bộ KH và ĐT, Bộ ngoại
giao gửi đến các nhà tài trợ để vận động nguồn vốn ODA.
2.2 Kế hoạch hoá Đầu t Xây dựng.
- Kế hoạch chuẩn bị đầu t bao hàm các công việc lập dự án thẩm định dự
án và ra quyết định đầu t.
21
Sau khi đợc bên nớc ngoài cam kết tài trợ dự án ODA đợc ghi vào kế
hoạch chuẩn bị đầu t.
- Kế hoạch chuẩn bị thực hiện dự án bao gồm các hoạt động: kế hoạchảo
sát thiết kế mỹ thuật, lập tổng dự toán, giải phóng mặt bằng, tổ chức đấu thầu.
Một dự án chỉ đợc ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện khi báo cáo
đầu t của ngân sách Nhà nớc, có chia ra vốn trong nớc vốn nớc ngoài và phân
cho các kế hoạch.
+ Vốn cho công tác thiết kế.
+ Vốn chuẩn bị đầu t.
+ Vốn chuẩn bị dự án.
+ Vốn thực hiện dự án, phân bổ theo cơ cấu đầu t, danh mục và mức vốn
đầu t, vốnbảo đảm trong nớc cho các dự án sử dụng ODA, danh mục và mức
vốn thuộc nhóm: A, B.
Tuy nhiên, trong thực tế phần thì do phơng thức mới của kế hoạch hoá
ODA, phần thì do chu trình dự án của các nhà tài trợ khác với quy định trong n-
ớc nên cần có những hạn chế cần giải quyết:
- Nghị định 20/ CP đã đã quy định các ngành và lĩnh vực đợc u ttiên đầu
t phát triển bằng vốn ODA, nhng bớc tiếp theo là sắp xếp thứ tự u tiên giữa
ngành, các tiểu ngành và giữa các vùng cha đợc thực hiện. Vì vậy các dự án
ODA nói chung và nhất là khi đa vào thực hiện vẫn còn diễn ra một cách tnả
mạn cha đợc tuyển chọn một cách có hệ thống trên cơ sở các quan điểm và tiêu
chuẩn cụ thể.
Đối với một số nhà tài trợ hiệp định tài trợ chỉ đợc ký kết sau khi có kết
quả đấu thầu, trong khi đó theo quy định trong nớc phải có hiệp định tài trợmới
đợc ghi vào kế hoạch chuẩn bị dự án. Trên thực tế có những dự án cha đợc ký
hiệp định đã cần đến vốn bảo đảm trong nớc để giải phóng mặt bằng.
- Việc không đồng nhất của năm tài trợ cũng gây khó khăn cho việc kế
hoạch hoá tài chính dự án.
3. Khuôn khổ pháp lý.
Khuôn khổ pháp lý của quản lý và điều phối ODA ra đời phù hợp với xu
thế chuyển nền kinh tế từ Cơ chế tập chung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị tr-
ờng có sự quản lý vĩ mô của Nhà nớc bằng kế hoạch, chính sách và đòn bẩy
kinh tế. Những t tởng chủ đạo chi phối khuôn khổ pháp lý của quản lý và điều
phối ODA là.
ODA là nguồn ngân sách quan trọng của Nhà nớc.
để Chính phủ phê duyệt.
+ Bộ Kế hoạch và đầu t chủ trì tổ chức các hoạt động vận đọng ODA
chuẩn bị nội dung đàm phán và tiến hành đàm phán với các nhà tài trợ.
+ Phác thảo các thủ tục tiến hành các dự ná ODA thông qua các giai
đoạn từ xác định, xây dựng, đàm phán, thẩm định đến thực hiện dự án và kết
thúc đa dự án vào sử dụng. Đặc biệt định số trách nhiệm của cơ quan chủ quản
và chủ dự án trong những khâu hình thành va theo dõi một dự án ODA.
Để thực hiện hiệp định nói trên, Uỷ ban kế hoạch Nhà nớc (Bộ Kế hoạch
và đầu t) đã ban hành (thông t số 07/ UB/ KTĐN ngày 18/7/1994 hớng dẫn thi
hành.
24
- Viện trợ không hoàn lại là một nguồn thu của ngân sách Nhà nớc, phải
đợc hạch toán và quản lý theo Luật ngân sách Nhà nớc.
- Viện trợ không hoàn lại đợc sử dụng dới hình thức ngân sách Nhà nớc
cấp phát hoặc cho vay lại.
- Mọi khảon viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc hiện vật mà phía Việt
Nam đợc nhận và sử dụng đều phải làm thủ tục xác nhận viện trợ. Giấy xác
nhận hàng, tiền viện trợ là căn cứ để hoàn tất các thủ tục nhận hàng, nhận tiền
và hạch toán và ngân sách các cấp.
- Bộ tài chính thống nhất quản lý tài chính Nhà nớc đối với mọi nguồn
viện trợ không hoàn lại, từ khâu tham gia ý kiến về mặt tài chính trong việc xác
định chủ trơng sử dụng viện trợ, thẩm định dự án, phân bổ nguòn vốn cho các
sự án, đến nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý tài chính, thực hiện việc xác nhận
viện trợ và hạch toán vào ngân sách, hớng dẫn và kiểm tra việc chấp hành các
chế độ quản lý tài chính, quyết toán của cá dự án, hớng dẫn và kiểm tra các đơn
vị thực hiện việc bàn giao tài sản, vật t, tiền vốn của các dự án sau khi kết thúc.
+ Bộ phận tài chính, kế toán của các Bộ, ngành có trách nhiệm giúp Thủ
trởng Bộ, ngành quản lý tài chính đối với các chơng trình, dự án viện trợ không
hoàn lại do Bộ, ngành Trung ơng tiếp nhận và thực hiện.
+ Sở tài chính vật giá các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng có trách