Tiểu luận môn: Triết học
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngày nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nhân tố con người và
việc phát huy vai trò năng động chủ quan của con người là điều kiện tiên quyết
để phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định “giáo dục là
quốc sách hàng đầu”. Giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay đang có những
vấn đề bức xúc trước đòi hỏi của sự phát triển và hội nhập. Một trong những
vấn đề bức xúc đó là việc tìm tòi và vận dụng một triết lý thích hợp cho nền
giáo dục mới, vừa phát huy được kinh nghiệm truyền thống của dân tộc, vừa
mang tính hiện đại để sánh vai với các cường quốc trên thế giới. Nền giáo dục
phong kiến Việt Nam đã có hàng ngàn năm theo Nho học. Mặc dù, quan điểm
giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo có những hạn chế nhất định, song
vẫn có mặt tích cực. Do vậy, nghiên cứu quan niệm của Nho giáo về vấn đề
đào tạo con người là cần thiết vì một số nội dung cơ bản của Nho giáo về vấn
đề đào tạo con người Chúng ta có thể kế thừa trong sự nghiệp “trồng người” ở
Việt Nam hiện nay - Một trong số những vấn đề nên được quan tâm nghiên
cứu đó là triết lý giáo dục của Khổng Tử và vận dụng một số quan điểm giáo
dục của ông vào công tác giáo dục ở nước ta hiện nay. Trong bài tiểu luận nhỏ
này xin phép được trình bày quan điểm giáo dục của Khổng tử và một số đề
xuất về việc áp dụng vào công tác giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
Tiểu luận môn: Triết học
A. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Nếu phương Đông là chiếc nôi lớn của Văn minh nhân loại thì Ấn Độ và
Trung Quốc là những trung tâm văn hoá triết học cổ xưa rực rỡ, phong phú
nhất của nền văn minh ấy. Một trong những tu tưởng triết học phương Đông
thời đó mà ý nghĩa của nó vẫn còn nguyên giá trị cho dến tận ngày nay về luân
lý, đạo đức, chính trị - xã hội đó là những tư tưởng triết học của Nho gia.
thế giới còn có một lực lượng siêu nhân khác, đó là quỷ thần cũng chi phối
hoạt động của con người và xã hội. Muốn sống phù hợp với đạo trời, với quỷ
thần thì phải có: nhân, lễ, nghĩa, trung, tín, đó mới là người quân tử.
Nội dung tư tưởng giáo dục của Khổng Tử được xác định rất rõ. Trong
suốt cuộc đời làm thầy của mình, bên cạnh việc dạy chữ, bao giờ Khổng Tử
cũng chú trọng vào việc dạy người. Tư tưởng nội dung của học thuyết mà
Khổng Tử áp dụng vào giáo dục mang tính nhập thế và tích cực. Khổng Tử đã
nhận định tính chất của giáo dục là cải tạo nhân tính cho nên ông cho rằng giáo
dục có ý nghĩa rất quan trọng. Đối với Khổng Tử nhân tính hòa lẫn giữa thiện
và ác. Theo ông, thiện ác của nhân loại đều do phần giáo dục quyết định, ông
khẳng định rằng: "con người bằng nỗ lực chủ quan của mình cũng có thể làm
thay đổi cái Thiên tính ban đầu". Ông quan niệm rằng tính người vốn gần nhau
nhưng do tập quán nên xa nhau (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã). Do đó,
"muốn cho nhân loại gần nhau thì phải chú ý đến giáo dục, vì giáo dục có thể
hóa được ác thành thiện, cho nên cũng gọi là giáo hóa". "Phải có giáo dục để
tu sữa cái đạo làm người (Tu đạo chi vị giáo), "Đại học chi đạo tại minh minh
đức" (Cái đạo làm người lớn ở chỗ làm rạng cái đức sáng). "Tu đạo" và "Minh
đức" đấy là mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính theo
Khổng Nho". Với Khổng Tử, con người lúc sinh ra, cái tính trời phú cho là
giống nhau nhưng trong quá trình tiếp xúc, học tập... nó làm cho họ khác nhau,
có kẻ trí người ngu. Sau này Hồ Chí Minh cũng có nhận xét tương tự: "Ngủ thì
ai cũng như lương thiện, tỉnh ra mới biết kẻ dữ hiền, hiền dữ đâu phải là tính
sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên" (Nhật ký trong tù). Vậy nên, sự hình
thành nhân cách con người mới, không thể không nhấn mạnh vai trò của giáo
dục.
Về phương pháp giáo dục: Khổng Tử quá nửa đời người làm nghề dạy
học, cho nên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong phương pháp giáo dục nói
chung, dạy học nói riêng, trong đó có một số phương pháp cơ bản sau:
Trong thời kỳ đổi mới Đảng và Nhà nước ta nhận thức rất rõ vai trò của
giáo dục tại hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2 khóa 8 Nhà nước ta đã ban
hành Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ đến năm 2010. Nhờ đó, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được
những thành tựu rất quan trọng về phát triển quy mô, số lượng, cơ bản chuyển
Tiểu luận môn: Triết học
từ một nền giáo dục với thiểu số người đi học, sang một nền giáo dục đại
chúng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, giáo dục Việt Nam đang bộc lộ
những bất cập, hạn chế và yếu kém. Đó là, chất lượng giáo dục còn thấp, chưa
đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước, hiệu quả giáo dục chưa cao, nội dung
chương trình giáo dAục xa rời thực tiễn, các phương pháp dạy và học, kiểm
tra, đánh giá còn lạc hậu và chậm đổi mới. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý
trong ngành cũng chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng lẫn chất lượng
Muốn đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam, quan trọng
hơn cả là phải đổi mới về tư duy, nhận thức về giáo dục đào tạo. Cần nhận
thức rõ: đổi mới phải theo hướng xây dựng một nền giáo dục mở và một xã hội
học tập, thực hiện học suốt đời gắn với phát triển giáo dục điện tử. Điều cơ bản
là phải chuyển từ việc dạy học và đào tạo theo kiểu học thuộc một chiều,
truyền đạt là chính hiện nay sang dạy và giúp học sinh, sinh viên chủ động,
tích cực sáng tạo, tập trung phát triển các năng lực: "Bàn về đổi mới giáo dục
không thể không bàn đến cách nhìn về thời đại phát triển, đòi hỏi chúng ta phải
thay đổi tư duy, đòi hỏi không chỉ cải cách một vài biện pháp. Đây hằn hoi là
chúng ta đang tư duy về một nền giáo dục có vấn đề, vì hệ thống giáo dục của
chúng ta được thiết kế theo nguyên tắc quan trọng nhất là đầu vào, thế thì đến
thời đại chúng ta hội nhập, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước đòi hỏi sản phẩm giáo dục không chỉ biết chữ mà còn phải có định hướng
nghề nghiệp để sản phẩm ra là dùng được, có chất lượng".
đề gì mà khi học thì học viên được rèn luyện năng lực tư duy cao cấp, được
học cách học tốt nhất. Ngoài ra, bằng cách khêu gợi sự tò mò, bằng cách tạo sự
hấp dẫn của tri thức và bằng tấm gương học tập của mình, giảng viên cố gắng
tạo nên niềm say mê học tập cho học viên.
+ Thứ hai, cần phát huy vai trò chủ thể học sinh, đánh thức tiềm năng
nghĩ và sáng tạo ở học sinh. Dạy cho học sinh biết cách tiếp cận chứ không
phải là rót kiến thức đơn thuần. Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ
động của người học; tính CHỦ ĐỘNG CỦA NGƯỜI HỌC là tiêu chí về phẩm
Tiểu luận môn: Triết học
chất quan trọng cần tập trung phát huy khi dạy và học. Trong những năm gần
đây các nhà sư phạm trên thế giới và ở nước ta thường bàn đến các quan điểm
sư phạm. các cách tiếp cận trong việc dạy và học. Cách tiếp cận lấy người học
làm trung tâm hoặc hướng vào người học được nhiều người tán thưởng. Vì
thực chất ,khi nói đến quan điểm lấy người học làm trung tâm nguyên tắc quan
trọng nhất là phát huy tính chủ động của người học;
+ Thứ ba, để quá trình dạy – học đạt được kết quả tốt cần có phương
pháp dạy học phù hợp đối tượng, chú ý đến năng lực sở thích, khí chất riêng
của từng học trò để có những biện pháp tác động thích hợp;
+ Thứ tư, dạy kiến thức mới trên cơ sở tái hiện kiến thức cũ (ôn cố tri
tân) Phương pháp học này đối với bộ môn nào cũng có ý nghĩa to lớn - Cổ
nhân cũng đã từng dạy “Văn ôn võ luyện”. Đó phải là sự kết hợp tốt nhất của
cái mới từ cái cũ. Vì vậy dạy không chỉ dạy theo kiểu rót kiến thức cho học
sinh mà phải trên cơ sở những kiến thức đã học của học sinh để giúp các em
phát hiện cái mới thông qua các hoạt động tái hiện, tưởng tượng, liên tưởng,
sáng tạo, tái sáng tạo…Chính vì vậy giáo viên phải chú ý rèn luyện sự tích luỹ
kiến thức cho các em từ kiến thức đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, coi
trọng phương pháp rèn luyện theo mẫu để từng bước giúp học sinh phá mẫu.
thức từ thấp đến cao. Cần phát huy tính tích cực chủ động trong học tập. Nâng
cao năng lực tự học tự rèn luyện, kết hợp học đi đôi với hành;
+ Để dạt được hiệu quả tốt nhất trong học tập, người học phải có lòng
vui say học hay nói đúng hơn là phải yêu môn học. Khổng Tử cũng đã dạy: “
Tri chi giả bất như hiếu chi giả,hiếu chi giả bất như nhạo chi giả” (biết mà
học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học).
Tiểu luận môn: Triết học
C. KẾT LUẬN
Khổng Tử là nhà giáo dục vĩ đại, tư tưởng giáo dục của ông không
những có tác dụng to lớn đối với lịch sử mà cho đến ngày nay vẫn tỏa sáng.
Chính từ cuộc đời gương mẫu và đầy trách nhiệm với đời, với người của ông,
nhất là cách dạy chữ gắn với dạy người, Khổng Tử đã từng đào tạo được hàng
ngàn trò giỏi nổi tiếng trong lịch sử. Một đời Khổng Tử đề cao việc học và
chính ông cũng là tấm gương học tập không mệt mỏi. Ông là một người thầy
vĩ đại, một nhà sư phạm có đóng góp lớn lao không chỉ cho thời đại của ông
mà cho đến bây giờ những tư tưởng giáo dục của ông vẫn luôn được nghiên
cứu và vận dụng. Chúng ta tin rằng, không phải chỉ trong chế độ phong kiến
mà cả trong hiện tại và tương lai, những quan điểm tiến bộ trong quan điểm
của Khổng Tử vẫn được nghiên cứu, khẳng định và vận dụng cho sự nghiệp
giáo dục, đào tạo của nhân loại.