BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐINH HỒNG KHOA
QUAN HỆ ẤN ĐỘ – CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á TRONG BỐI
CẢNH CHÍNH SÁCH “HƯỚNG ĐÔNG”
GIAI ĐOẠN 1991 – 2000
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
ĐINH HỒNG KHOA
QUAN HỆ ẤN ĐỘ – CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á TRONG BỐI
CẢNH CHÍNH SÁCH “HƯỚNG ĐÔNG”
GIAI ĐOẠN 1991 – 2000
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới
Mã số: 60 22 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN CẢNH HUỆ
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 9
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................................... 9
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ......................................................................................................... 10
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................. 12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 12
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................................ 13
6. Đóng góp của luận văn............................................................................................................... 13
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................................... 14
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH “HƯỚNG ĐÔNG” CỦA ẤN ĐỘ
..................................................................................................................................... 15
1.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ ............. 15
1.1.1 Nhân tố bên ngoài ................................................................................................................ 15
1.1.1.1 Chiến tranh lạnh chấm dứt, trật tự hai cực tan rã mở đầu những xu hướng quốc tế mới
.................................................................................................................................................. 15
1.1.1.2 Tình hình không ổn định ở khu vực Nam Á .................................................................. 19
1.1.1.3 Sự nổi lên về kinh tế của khu vực châu Á – Thái Bình Dương ..................................... 22
1.1.1.4 Do tác động của chiến tranh Vùng Vịnh (năm 1990 – 1991) ....................................... 25
1.1.2 Nhân tố bên trong ................................................................................................................. 26
1.1.2.1 Sự yếu kém của nền kinh tế ........................................................................................... 26
1.1.2.2 Sự khủng hoảng về chính trị – xã hội ........................................................................... 28
1.1.2.3 Thành công bước đầu của sự điều chỉnh ...................................................................... 29
1.2 Sự hình thành và quá trình triển khai chính sách “hướng Đông” ............................................ 31
1.2.1 Sự hình thành........................................................................................................................ 31
1.2.2 Quá trình triển khai .............................................................................................................. 33
CHƯƠNG 2: QUAN HỆ ẤN ĐỘ - CÁC NƯỚC ĐÔNG BẮC Á TRONG BỐI
CẢNH CHÍNH SÁCH “HƯỚNG ĐÔNG” ............................................................. 39
2.1 Khái quát quan hệ Ấn Độ - Các nước Đông Bắc Á trước năm 1991 ....................................... 39
2.1.1 Quan hệ Ấn Độ - Trung Quốc .............................................................................................. 39
3.2.1.2 Quan hệ Ấn Độ – Nhật Bản .......................................................................................... 96
3.2.1.3 Quan hệ Ấn Độ – Hàn Quốc ....................................................................................... 103
3.2.2 Triển vọng trong những năm tới ........................................................................................ 106
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 112
PHỤC LỤC 1 ........................................................................................................... 119
PHỤ LỤC 2 .............................................................................................................. 122
PHỤ LỤC 3 .............................................................................................................. 128
PHỤ LỤC 4 .............................................................................................................. 143
PHỤ LỤC 5 .............................................................................................................. 147
PHỤ LỤC 6 .............................................................................................................. 154
BẢNG QUI ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA:
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
APEC:
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – TBD
ARF:
Diễn đàn an ninh khu vực châu Á
ASEAN:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT:
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
GDP:
Tổng sản phẩm quốc nội
HĐBA:
Hội đồng bảo an
IMF:
Quỹ tiền tệ quốc tế
KH&CN:
Khoa học và công nghệ
LHQ:
Liên hiệp quốc
MRTP:
Luật độc quyền và hạn chế thương mại
Tư bản chủ nghĩa
USD:
Đô la Mỹ
WB:
Ngân hàng thế giới
WTO:
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc để lại những hậu quả nặng nề, nhưng cũng đã
mở ra một thời cơ mới cho các nước thuộc địa và phụ thuộc. Nếu như trước đây, hầu hết các
nước châu Á đều là thuộc địa thì sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đã lần lượt giành được
độc lập. Sau khi giành được độc lập, các nước châu Á đã tiến hành khôi phục, hàn gắn vết
thương chiến tranh và bước vào con đường xây dựng đất nước. Sự lựa chọn con đường phát
triển của mỗi nước lại phụ thuộc vào hai vấn đề: Vấn đề thứ nhất là hoàn cảnh cụ thể của
những biến động từ tình hình thế giới, làm cho nhiều nước phải điều chỉnh các chính sách,
chiến lược. Đây là nhân tố quan trọng dẫn đến sự ra đời chính sách “hướng Đông” của Ấn
Độ.
Chính sách “hướng Đông”, là cơ sở quan trọng thúc đẩy quan hệ giữa Ấn Độ với các
nước Đông Á. Trong các nước Đông Á, Đông Bắc Á là khu vực có ảnh hưởng lớn đối với
tình hình kinh tế, chính trị, an ninh ở khu vực và thế giới. Do đó, quan hệ Ấn Độ với các
nước Đông Bắc Á không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của họ, mà còn tác động đến sự hòa
bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như thế giới. Bởi các mối quan hệ này nằm
trong tổng thể các mối quan hệ quốc tế, nhất là các nước nói trên có vai trò quan trọng trên
trường quốc tế.
Do tầm quan trọng đó, việc tiến hành nghiên cứu quan hệ “Quan hệ Ấn Độ - các nước
Đông Bắc Á trong bối cảnh chính sách “hướng Đông” giai đoạn 1991 – 2000” một cách
có hệ thống và toàn diện là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa sâu sắc, góp phần phụ vụ
cho công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu lịch sử thế giới hiện đại của sinh viên và
học sinh.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, chúng tôi thấy rằng vấn đề “Quan hệ Ấn
Độ - các nước Đông Bắc Á trong bối cảnh chính sách “hướng Đông” giai đoạn 1991 –
2000” là đề tài đầy lý thú và đem lại những kết quả hữu ích. Vì vậy, chúng tôi đã mạnh dạn
chọn vấn đề này làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, quan hệ giữa các nước lớn trên thế giới thường được đề cập
nhiều đến trong các công trình nghiên cứu về quan hệ quốc tế. Vì vậy, “Quan hệ Ấn Độ các nước Đông Bắc Á trong bối cảnh chính sách “hướng Đông” giai đoạn 1991 – 2000”
cũng được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu, đề cập đến với nhiều
góc độ, phạm vi phân tích, đánh giá khác nhau.
Ở Việt Nam:
Năm 2002, Trần Thị Lý có công trình nghiên cứu “Sự điều chỉnh chính sách của cộng
hòa Ấn Độ từ năm 1991 đến năm 2000”. Tác giả đã tập trung phân tích những nguyên nhân
Qua vài nét tổng quan về tình hình nghiên cứu trên cho thấy vấn đề “Quan hệ Ấn Độ –
Các nước Đông Bắc Á trong bối cảnh chính sách hướng Đông giai đoạn 1991 – 2000” đã
được đề cập nghiên cứu nhưng chưa nhiều, chưa hệ thống nên cần tiếp tục nghiên cứu, bổ
sung và hoàn thiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp các nguồn tài liệu một cách có hệ thống, luận văn cố gắng khôi
phục lại bức tranh quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á trên lĩnh vực chính trị – ngoại
giao và kinh tế giai đoạn 1991 – 2000.
Qua quá trình khôi phục lại bức tranh quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á, tác giả
cố gắng đưa ra những nhận xét, đánh giá những bước thăng trầm trong quan hệ đó.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phân tích những nhân tố tác động đến sự hình thành chính sách “hướng
Đông” của Ấn Độ, cũng như giai đoạn phát triển của chính sách đó.
Thứ hai, hệ thống hóa và khái quát hóa các nguồn tài liệu nhằm khôi phục lại những
diễn biến của quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á trên lĩnh vực chính trị ngoại giao và
kinh tế giai đoạn 1991 – 2000.
Thứ ba, tổng kết những thành tựu và hạn chế của quan hệ Ấn Độ – các nước Đông
Bắc Á. Qua đó, tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá về mối quan hệ đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á trên
hai vấn đề: chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ và quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á
trong bối cảnh chính sách “hướng Đông”; trong đó, luận văn xem xét mối quan hệ này trên
quan điểm và lợi ích của Ấn Độ.
Phạm vi nghiên cứu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp liên ngành như phương pháp nghiên cứu
quan hệ quốc tế nhằm tìm hiểu các sự kiện, các vấn đề quốc tế; phương pháp khu vực học
nghiên cứu mối quan hệ giữa Ấn Độ với khu vực Đông Bắc Á; và sử dụng những kiến thức
của địa – chính trị, địa – văn hóa, địa – kinh tế nhằm hiểu rõ nguồn gốc của các vấn đề quốc
tế liên quan đến quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách hệ thống, tương đối đầy đủ về quan hệ giữa Ấn Độ - các
nước Đông Bắc Á từ năm 1991 đến năm 2000 trên lĩnh vực chính trị – ngoại giao và kinh tế,
góp phần lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu quan hệ quốc tế. Ngoài ra, luận văn còn hệ
thống hóa và bổ sung tư liệu, số liệu mới về quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á giai
đoạn 1991 – 2000, trên lĩnh vực chính trị ngoại giao và kinh tế.
Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy
và học tập về lịch sử thế giới hiện đại, quan hệ quốc tế mà cụ thể là quan hệ Ấn Độ với các
nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc giai đoạn từ 1991 – 2000 trên lĩnh vực chính trị –
ngoại giao và kinh tế.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung chính của luận văn
được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về chính sách “hướng Đông” của Ấn Độ
Chương 2: Quan hệ Ấn Độ - các nước Đông Bắc Á trong bối cảnh chính sách “hướng
Đông”
Chương 3: Nhận định, đánh giá quan hệ Ấn Độ – các nước Đông Bắc Á
giai đoạn 1991 – 2000
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH “HƯỚNG ĐÔNG” CỦA ẤN ĐỘ
tốp các nước dẫn đầu thế giới. Do đó, Mỹ có thể đơn phương hành động khi cần thiết, phớt
lờ những yêu cầu chính đáng của cộng đồng quốc tế nhằm phân tán, chia cắt đối thủ và cột
chặt các nước đồng minh; can thiệp một cách bất hợp pháp vào công việc nội bộ của các
nước mà Mỹ cho là không nghe lời và đi theo Mỹ.
Tuy Mỹ là cực duy nhất còn lại, nhưng tình hình thế giới không phải là thế giới một
cực. Liên minh châu Âu, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ đều ủng hộ thế giới đa cực, trong đó họ
là một cực và đều phản đối trật tự thế giới một cực do Mỹ lãnh đạo.
Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế trở nên năng động, linh
hoạt nhưng cũng phức tạp hơn. Trước đây, các mối quan hệ quốc tế bị chi phối bởi sự khác
nhau giữa hai ý thức hệ khác nhau và đối lập nhau. Song khi trật tự cũ đã mất đi trong khi
trật tự thế giới mới còn đang trong quá trình hình thành, sự tập hợp lực lượng trong quan hệ
quốc tế diễn ra đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự tương đồng về lợi ích dân tộc từng
lúc, từng nơi. Quan hệ quốc tế có lợi ích đan xen nhau giữa các quốc gia trở nên phức tạp.
Trong bối cảnh đó, cuộc cách mạng KH&CN phát triển với tốc độ cao đã tác động sâu
rộng đến mọi mặt của đời sống quốc tế. Cuộc cách mạng tin học đã thúc đẩy quá trình toàn
cầu hóa và khu vực hóa, làm tăng nhu cầu hợp tác quốc tế, đối thoại khai thác và cùng đối
phó với những vấn đề nảy sinh từ quá trình này. Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trở
thành xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh ở các khu vực cũng như
trên phạm vi toàn cầu. Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và dần dần trở thành
nhân tố chính chi phối quan hệ quốc tế. Để tồn tại và phát triển, các quốc gia trên thế giới
đều đặt ưu tiên hàng đầu cho phát triển kinh tế, coi đó là nhân tố quyết định sức mạnh tổng
hợp của quốc gia, đồng thời phải nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung trong
cuộc chạy đua toàn cầu. Toàn cầu hóa mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng hàm chứa không ít
thách thức đối với các quốc gia nhất là các nước đang phát triển.
Trước những tác động của môi trường quốc tế, đòi hỏi các nước phải điều chỉnh chính
sách đối ngoại của mình theo chiều hướng tập trung cho yêu cầu phát triển kinh tế, đa dạng
hóa quan hệ quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh nhằm mục đích tạo cho mình vị thế có lợi
hơn. Sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh, Thủ tướng Ấn Độ
Chiến tranh lạnh kết thúc, sự tan rã của trật tự thế giới hai cực đã khiến cho Phong trào
Không liên kết không còn có vai trò quan trọng như thời kỳ trước nữa. Vị thế của Ấn Độ với
tư cách là một trong những nước lãnh đạo của Phong trào Không liên kết do đó cũng bị suy
giảm trên trường quốc tế. Nhân tố tiếp theo cũng làm suy giảm vai trò quốc tế của Ấn Độ,
đó là: sự ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa phân biệt chủng
tộc, giải trừ quân bị… đã không còn nhiều ý nghĩa trong một thế giới mà yếu tố kinh tế trở
thành xu hướng chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh.
Có thể nói rằng, cùng với Phong trào Không liên kết, Ấn Độ không còn giữ được vai
trò quốc tế như trước đây nữa. Đây chính là một yếu tố quan trọng khiến Ấn Độ phải có
những thay đổi về chính sách đối nội cũng như đối ngoại để phát triển đất nước và xác lập
cho mình một vị trí quốc tế xứng đáng trong một trật tự quốc tế mới đang hình thành.
Thứ hai, sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu làm cho Ấn Độ mất đi một chỗ dựa vững
chắc
Mặc dù là một nước Không liên kết nhưng Ấn Độ và Liên Xô lại có những điểm tương
đồng về những vấn đề quan trọng của khu vực và quốc tế như: chống chủ nghĩa đế quốc,
ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, bảo vệ hòa bình trên thế giới… Quan hệ giữa Ấn Độ
và Liên Xô càng gắn bó mật thiết hơn sau khi quan hệ Xô – Trung căng thẳng và sau cuộc
chiến tranh biên giới Trung - Ấn năm 1962, bằng chứng là Hiệp ước Hòa bình Hữu nghị và
Hợp tác được hai bên ký vào năm 1971.
Trên cơ sở những gắn bó mật thiết về chính trị đó, lợi ích về kinh tế cũng được hai bên
quan tâm. Liên Xô với ưu thế là cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới, đã có những giúp
đỡ rất lớn trong công cuộc công nghiệp hóa của Ấn Độ. Trong những năm 50 đến những
năm 70 của thế kỉ XX, quá trình công nghiệp hóa của Ấn Độ đã đạt được những thành tựu
vượt bật.
Các nhà máy chủ chốt trong nền công nghiệp của nước Cộng hòa non trẻ này
phần lớn được xây dựng với sự hợp tác và giúp đỡ của Liên Xô. Các nhà máy, các
xí nghiệp của Ấn Độ do Liên Xô giúp đỡ xây dựng đã sản xuất ra 80% tổng sản
lượng thiết bị luyện kim, 60% thiết bị điện, 35% sản lượng thép, 70% sản lượng
được xem là nhân tố quan trọng hàng đầu chi phối các mối quan hệ và hợp tác giữa các
nước trong khu vực Nam Á với nhau.
Quan hệ Ấn Độ – Pakistan luôn bị chi phối bởi những bất đồng, tranh chấp về lãnh thổ,
tôn giáo… trong đó, vấn đề Kashmir được xem là “ngòi nổ” chính. Kashmir có tầm chiến
lược quan trọng đối với cả Ấn Độ lẫn Pakistan, Kashmir nằm ở vị trí tiếp giáp với Tân
Cương (Trung Quốc), Ápganixtan và nước Cộng hòa Trung Á Tajikistan. Nếu kiểm soát
được khu vực này thì có thể kiểm soát được một địa bàn chiến lược rộng lớn từ cửa ngõ
phía Bắc sang phía Tây Á và Trung Đông. Từ đầu thập kỷ 90, Ấn Độ đã có những bước đi
tích cực để cải thiện mối quan hệ với Pakistan. Ngày 17/10/1991 Thủ tướng Narasimha Rao
đã có cuộc gặp gỡ với Thủ tướng Nawas Sharif tại Harave. Ngoài cuộc gặp trên, Thủ tướng
N.Rao còn có hai cuộc gặp nữa để cải thiện quan hệ giữa hai nước. Cuộc gặp thứ nhất là tại
Hội nghị Thượng đỉnh của SAARC tại Colombo và cuộc thứ hai là tại Diễn đàn kinh tế thế
giới tổ chức ở Davos vào tháng 2/1992, nhưng kết quả thu được không đáng là bao. Cả hai
cùng tìm kiếm một giải pháp để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, thông qua đối thoại trên
cơ sở thảo luận toàn bộ những vấn đề trong mối quan hệ giữa hai nước, tình hình khu vực.
Ngay khi hai vị thủ tướng có những lời tuyên bố tốt đẹp, mặt trận giải phóng Jammu
và Kashmir dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Hồi giáo Amanulah đã tuyên bố ý định vượt qua
đường kiểm soát hiện tại giữa Ấn Độ và Pakistan. Tình hình trên làm cho mối quan hệ giữa
hai nước một lần nữa bước vào trạng thái căng thẳng. Mặc dù vào tháng 8/1992 Thủ tướng
N.Rao đã có cuộc gặp gỡ với người đồng nhiệm Thủ tướng N.Sharif nhưng tình trạng căng
thẳng vẫn không được giải quyết. Một sự kiện quan trọng làm cho mối quan hệ giữa Ấn Độ
và Pakistan tiếp tục căng thẳng đó là, vào tháng 12/1992 – với sự kiện những tín đồ Ấn Độ
giáo quá khích đã phá hủy thánh đường Hồi giáo Babri ở thị trấn Ayodhya, quan hệ hai
nước hoàn toàn bị đóng băng. Trong suốt giai đoạn từ 1994 đến cuối năm 1995, Pakistan đã
kiên quyết từ chối những lời đề nghị của Ấn Độ về việc làm giảm tình hình căng thẳng giữa
hai bên:
Năm 1995, Ấn Độ đưa ra đề nghị duy trì hòa bình và hữu nghị dọc biên giới, giảm
số quân của hai bên xuống mức cần thiết, thông báo trước cho nhau những cuộc
trong các lĩnh vực vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường. Trên cơ sở những thiện chí đó,
theo lời mời của Thủ tướng Nawaz Sharif, từ ngày 20 và đến ngày 21/2/1999 Thủ tướng
Vajpayee đã có chuyến viếng thăm thành phố Lahore bằng xe buýt nhân dịp khai trương
tuyến đường giao thông mới này. Trong chuyến viếng thăm này, hai bên đã ký hai văn kiện
quan trọng đó là Tuyên bố Lahore và Bản ghi nhớ để chia sẽ quan điểm về vấn đề hòa bình,
phồn vinh giữa hai dân tộc, và cụ thể hóa những biện pháp để xây dựng lòng tin trong lĩnh
vực vũ khí hạt nhân và vũ khí thông thường nhằm ngăn chặn xung đột. Ngoài ra, hai bên còn
nhất trí nổ lực hiện thực hóa tầm nhìn năm 2000 và đẩy mạnh hợp tác trong SAARC.
Sau cuộc hành trình ngoại giao ấn tượng bằng xe buýt của Thủ tướng Vajpayee đã xóa
tan đi những nghi kỵ lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ giữa hai nước láng giềng Nam Á này lên
một tầm cao mới: “Đây là chuyến thăm đầu tiên của Thủ tướng Ấn Độ sang Pakistan kể từ
sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến nay cũng như từ nhiều năm trước đó” [10, tr. 160].
Hay lời nhận định của Tổng thống Ấn Độ Narayanan: “Đây sẽ là một cơ hội để hai nước
hợp tác và cải thiện mối quan hệ” [10, tr. 160]. Không những thế, chuyến ngoại giao đặc biệt
ấy cũng được dư luận thế giới đánh giá rất cao: “Mỹ hy vọng rằng những thảo luận rộng rãi
mới giữa hai nước sẽ cải thiện mối quan hệ và giảm bớt nguy cơ chiến tranh. Còn Anh thì
cho rằng nó sẽ giảm bớt nguy cơ xung đột ngẫu nhiên giữa hai nước” [10, tr. 160].
Trong khi những thay đổi đã giúp cho hai bên xích lại gần nhau trong quá trình bình
thường hóa, tháng 10/1999 cuộc đảo chính do tướng Musharaff tiến hành đã làm gián đoạn
việc cải thiện quan hệ giữa hai nước. Vì vậy, mối quan hệ giữa hai nước đến 9/2000 vẫn
không có gì tiến triển so với trước.
Cùng với việc phát triển quan hệ song phương, từ thập kỉ 80 thế kỉ XX Ấn Độ đã quan
tâm hơn đến việc thúc đẩy hợp tác khu vực. Bởi vì, trong thời gian này, kinh tế thế giới lâm
vào suy thoái, khủng hoảng ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế các nước ở Nam Á. Bên cạnh
đó, trên thế giới cũng có một số mô hình hợp tác khu vực tương đối thành công như EU,
ASEAN… Các nước Nam Á sau hơn 30 độc lập vẫn trong tình trạng kém phát triển và lạc
hậu
Từ ý tưởng ban đầu của Tổng thống Bangladesh Ziar Rahman về việc thành lập Tổ
Sự đa dạng cũng thể hiện sự khác nhau về chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế
rất lớn. Khu vực có những nước công nghiệp hàng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, Canada,
Australia; có những nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng
Kông đến những nước có trình độ thấp hơn như các nước ASEAN và những nước nằm
trong số những quốc gia nghèo.
Châu Á – TBD là nơi có sự hiện diện của các nước lớn như Mỹ, Nga, Nhật, Trung
Quốc, và mối quan hệ của những nước này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình an ninh, chính
trị và kinh tế của khu vực. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các nước này từng đối đầu với
nhau. Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ giữa các nước này được cải thiện đáng kể
góp phần vào việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Bên cạnh những
cường quốc trên, các quốc gia còn lại cũng giữ vai trò tích cực trong các vấn đề an ninh,
chính trị cũng như kinh tế của khu vực. ASEAN là một điển hình, ASEAN được thành lập
từ 1967 đến cuối thập niên 90 đã mở rộng gồm 10 nước, trở thành một nhân tố tương đối
quan trọng về giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. ASEAN giữ vai trò quan
trọng trong việc thành lập Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) năm 1994 và sự ra đời của Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á – TBD (APEC) năm 1989.
Chiến tranh lạnh kết thúc, châu Á – TBD là một khu vực phát triển năng động, nơi tập
trung các nền kinh tế nhanh nhất thế giới và duy trì được tốc độ phát triển cao liên tục trong
nhiều năm. Sức mạnh kinh tế lớn của Mỹ, Nhật, sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới
(NICs) ở châu Á, những thành tựu đáng kinh ngạc của Trung Quốc trong quá trình cải cách
và mở cửa và triển vọng phát triển mạnh mẽ của nhiều nước Đông Nam Á. Tất cả những
yếu tố đó, khiến các nhà hoạch định chiến lược Ấn Độ coi trọng khu vực châu Á - TBD.
Mặc dù, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997 – 1998 ảnh hưởng đáng kể
đến tốc độ phát triển của các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…
nhưng sự phục hồi nhanh chóng của các nền kinh tế khu vực cho thấy tiềm năng phát triển
kinh tế của khu vực là rất lớn.
Sự sụp đổ của Liên Xô và cùng với nó là sự kết thúc Chiến tranh lạnh đã dẫn đến
những thay đổi căn bản đến cục diện an ninh khu vực châu Á - TBD. Thế đối đầu hai cực
giữa hai siêu cường và mối quan hệ tam giác chiến lược Xô – Trung – Mỹ ở châu Á - TBD
Khi nói đến sự nổi lên của vị trí chiến lược châu Á - TBD, các nhà nghiên cứu thường
nhắc đến nhân tố ASEAN. ASEAN với những thành tựu đạt được đã, đang và sẽ khẳng định
vị thế và vai trò quan trọng của mình đối với hòa bình, ổn định khu vực. Trong cục diện
mới, ASEAN đã chủ động hơn trong quan hệ với các nước lớn, có quan hệ hợp tác với
những cường quốc ở khu vực và thế giới như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc… giữ được thế
độc lập trong chính sách ngoại giao, không bị sự chi phối của bất kỳ cường quốc nào.
Ngược lại các nước lớn tỏ ra rất chú trọng đến ASEAN khi xử lý các vấn đề khu vực. Trên
bình diện song phương, các vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Về
hợp tác đa phương, ASEAN cũng chú trọng đối thoại với các nước khác trong khu vực châu
Á - TBD thông qua cơ chế ASEAN + 1, ASEAN + 3, Diễn đàn an ninh khu vực ARF… Các
hình thức hợp tác này không những góp phần nâng cao quan hệ chính trị, an ninh mà còn
thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế giữa các nước ASEAN với các đối tác bên ngoài. Các
nước lớn nhỏ ở khu vực châu Á - TBD kể cả Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ cùng
quy tụ lại để tham gia thảo luận về các vấn đề an ninh khu vực. Diễn đàn cũng là nơi xây
dựng lòng tin, tăng cường hiểu biết lẫn nhau và tạo ra cơ hội đàm phán giải quyết những bất
đồng giữa các nước trong khu vực về vấn đề an ninh.
Tóm lại, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc với xu thế toàn cầu hóa ngày càng phát
triển, trước hết là trong lĩnh vực kinh tế với sự hỗ trợ mạnh mẽ của cuộc cách mạng
KH&CN. Tình hình thế giới về cơ bản đã thay đổi nhanh chóng, xu thế đối thoại thay cho
đối đầu và xu thế phát triển kinh tế làm trọng tâm đã tạo nên động lực mới trên con đường
phát triển của khu vực châu Á - TBD. Thế giới biết đến khu vực châu Á - TBD như một khu
vực phát triển năng động nhất thế giới và có khả năng khu vực này sẽ thay thế Đại Tây
Dương như đúng dự đoán cách đây hơn 70 năm của Jawaharlal Nehru – nhà tư tưởng vĩ đại,
người sáng lập ra Cộng hòa Ấn Độ đã nói: “TBD có khả năng thay thế Đại Tây Dương với
tư cách là một trung tâm đầu não của thế giới. Tuy không phải là một quốc gia trực tiếp ở
TBD nhưng Ấn Độ sẽ phải có những ảnh hưởng quan trọng ở đó” [54, tr. 62]. Do đó, các
quốc gia trong đó có Ấn Độ phải điều chỉnh lại chính sách đối ngoại đối với khu vực châu Á
- TBD. Một yếu tố khác góp phần làm cho Ấn Độ chú ý đến khu vực châu Á - TBD, hoạt