Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh bắc ninh - Pdf 37

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh
Bắc Ninh

Lê Trung Thu

Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Du lịch học; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Phạm Hùng
Năm bảo vệ: 2012

Abstract: Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh. Qua khảo sát thực tế về
hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh từ đó đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh
Bắc Ninh. Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa tỉnh
Bắc Ninh.
Keywords: Du lịch; Du lịch văn hóa; Bắc Ninh.
Content:


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………………………………….
1.
Lý do chọn đề tài…………………………………………………...
7
2.

Lịch sử nghiên cứu vấn đề…………………………………………

8

3.


1.1.

Tài nguyên du lịch…………………………………………………

12

1.1.1

Tài nguyên du lịch tự nhiên…..........................................................

12

1.1.2.

Tài nguyên du lịch nhân văn……………………………………...

18

1.1.2.1

Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể………………………………...

18

1.1.2.2. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể…………………………….

23

1.2.


Điều kiện cơ chế, chính sách phát triển về phát triển du lịch.......

33

1.4.

Đánh giá chung …………………………………………………….

38

1.4.1.

Thuận lợi…………………………..………………………………..

38

1.4.2

Khó khăn……………………..……………………………………..

40

TIỂU KẾT CHƢƠNG 1…………………………………...…………………… .41

3


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC
NINH……………………………………………………………………………......42
2.1.


48

2.1.2.3. Mức độ chi tiêu……………………………………………………...

49

2.1.2.4. Thời gian lưu trú……………………………………………………

50

2.1.3.

50

Phân tích nhu cầu của khách…………………………………..

2.1.3.1. Du lịch tín ngưỡng tâm linh………………………………………..

50

2.1.3.2. Tham quan…………………………………………………………..

52

2.1.3.3. Nghỉ dưỡng………………………………………………………….

53

2.1.3.4. Thưởng thức nghệ thuật……………………………………………

vụ du lịch văn hóa, du lịch hành hương và du lịch tâm linh tại
Bắc Ninh…………………………………………………………….

77

2.3.

Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh…….

78

2.3.1.

Hệ thống lưu trú …………………..…………………………….

79

2.3.2.

Hệ thống các dịch vụ khác (vui chơi giải trí, mua sắm…)……...

81

2.4.

Nhân lực phục vụ cho du lịch văn hóa tỉnh………………………

81

4

90

2.7.1.

Tác động tích cực……………………………………......................

90

2.7.2.

Tác động tiêu cực…………………………………………………

93

2.8.

Đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch văn hóa………….

102

2.8.1

Ưu điểm……………………………………………………………..

102

2.8.2

Tồn tại, hạn chế……………………………………………………..



3.2.

Những giải pháp phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh…….

110

3.2.1.

Giải pháp cho thị trường du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh…………

110

3.2.1.1. Thị trường khách du lịch quốc tế………………………………….

111

3.2.1.2. Thị trường khách du lịch nội địa…………………………………

133

3.2.2.

Giải pháp về xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa và sản phẩm du
lịch đặc thù…………………………………………………………

114

Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa….



3.2.5.2. Các cơ sở, đơn vị du lịch…………………………………………..

126

3.2.5.3. Chính quyền địa phương…………………………………………...

127

3.2.6.

Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hóa………

128

3.2.7.

Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa và tài nguyên du lịch văn
hóa…………………………………………………………………...

130

3.2.7.1. Giải pháp vĩ mô…..…………………………………………………

130

3.2.7.2. Giải pháp vi mô…………………………………….……………..

131


là du khách quốc tế.
Bắc Ninh là một vùng đất có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, có tài nguyên du
lịch nhân văn phong phú. Với mật độ các di tích lịch sử dày đặc, các làng nghề truyền
thống, di sản văn hóa thế giới – quan họ… du lịch văn hóa Bắc Ninh đã tạo nên nhiều sản
phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn du khách. Bên cạnh đó, sự thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở vật
chất, công tác tổ chức quản lý được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư đã tạo nên sự phát
triển mạnh mẽ của du lịch văn hóa Bắc Ninh, khiến đó trở thành thế mạnh du lịch của tỉnh
nhà. Tuy vậy, căn cứ vào thực trạng tình hình thực tế việc khai thác sản phẩm du lịch đã cho
thấy việc đầu tư phát triển du lịch văn hóa tại Bắc Ninh chưa đúng mức, còn nhỏ lẻ, chưa có
tính đồng bộ cao, các sản phẩm còn đơn điệu, nghèo nàn chưa tương xứng với tiềm năng
vốn có để làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch dẫn đến việc chưa thu hút được
lượng lớn khách du lịch đến với Bắc Ninh.
Căn cứ vào thực trạng và tính cấp bách của vấn đề, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh” nhằm tìm ra những định hướng và giải pháp
để nâng cao hiệu quả khai thác sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh trong thời gian tới.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Từ rất sớm, đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Hà Bắc
nói riêng và văn hóa Bắc Ninh nói chung với rất nhiều góc nhìn và nhằm mục đích khác
nhau. Về phương diện lý luận liên quan trực tiếp đến văn hóa truyền thống Bắc Ninh xưa
(Hà Bắc) có các nhà nghiên cứu tiêu biểu.
Tuy nhiên các công trình đó chỉ tập trung vào vấn đề sưu tầm và bảo tồn các giá trị
văn hóa hoặc có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó của văn hóa để phục vụ phát
triển du lịch còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa của tỉnh Bắc Ninh nhằm bảo
1.

4


tồn và phục vụ phát triển du lịch thì chưa có một công trình nào được công bố. Chính vì lẽ
đó, tác giả đã chọn đề tài của mình theo hướng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ở Bắc

- Hệ thống hóa giá trị tài nguyên du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh.
- Qua khảo sát thực tế về hoạt động du lịch văn hóa của tỉnh từ đó đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu của du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch văn hóa tỉnh
Bắc Ninh.

5


Chƣơng 1: ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
VĂN HÓA TỈNH BẮC NINH
1.1. Tài nguyên du lịch
1.1.1. Tài nguyên du lịch
Vị trí địa lý: Bắc Ninh là một tỉnh cửa ngõ phía Bắc của thủ đô Hà Nội, trung tâm xứ
Kinh Bắc cổ xưa, mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi có truyền thống khoa bảng và nền văn
hóa lâu đời.
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và là một trong 8 tỉnh thuộc vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh
của cả nước, tạo cho Bắc Ninh nhiều lợi thế về phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Là cửa ngõ phía Đông Bắc và là cầu nối giữa Hà Nội và các tỉnh trung du miền núi
phía Bắc và trên hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long
và có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.
Với vị trí địa kinh tế thuận lợi sẽ là yếu tố phát triển quan trọng và là một trong những
tiềm lực to lớn cần được phát huy một cách triệt để nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
và thúc đẩy quá trình đô thị hoá của tỉnh Bắc Ninh. Xét trên khía cạnh cấu trúc hệ thống đô
thị và các điểm dân cư của tỉnh thì các đô thị Bắc Ninh sẽ dễ trở thành một hệ thống hoà
nhập trong vùng ảnh hưởng của thủ đô Hà Nội và có vị trí tương tác nhất định với hệ thống
đô thị chung toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Điều kiện tự nhiên:
Địa hình: Địa hình đồi núi ở Bắc Ninh mặc dù chiếm tỷ lệ rất nhỏ và không tạo nên

Bắc Ninh.
Sông Đuống có tổng chiều dài 65km, trong đó đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh
dài 42km.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn có một số con sông nhỏ chảy qua như sông
Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cẩm Giàng, sông Dâu, sông Đông Côi…và nhiều ngòi
lạch.
Sông ngòi ở Bắc Ninh có vai trò là nguồn cung cấp nước và tiêu úng cho sản xuất
nông nghiệp còn là tuyến giao thông đường thủy quan trọng của địa phương và các tỉnh lân
cận.
Bên cạnh đó, các sông này, đặc biệt là sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống là
sông chảy qua những làng mạc trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời. Hay nói cách khác,
làng mạc, các khu quần cư của người Việt trên địa bàn Bắc Ninh đã hình thành dọc bờ các
con sông này, cư dân nơi đây dựa vào sông và gắn bó với sông không chỉ qua các hoạt động
phát triển kinh tế mà còn trong đời sống tinh thần. Các di tích lịch sử văn hóa có giá trị ở
Bắc Ninh hình thành cùng làng mạc dọc sông; các truyền thuyết dân gian, những làn điệu
dân ca trữ tình hình thành nơi đây…tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về làng quê Việt,
là nguồn tài nguyên có giá trị khai thác hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách
trong và ngoài nước như sản phẩm du lịch làng quê, sản phẩm du lịch sông nước.
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Bắc Ninh không nhiều do đặc điểm tự nhiên của
tỉnh là địa hình đơn điệu, không có biển, không có rừng. Các điều kiện tự nhiên ở đây có giá
trị gắn kết với các giá trị văn hóa để tạo nên sức hấp dẫn riêng đối với du khách, ít có khả
năng khai thác một cách độc lập để hình thành nên các sản phẩm du lịch riêng.
Ngoài tài nguyên du lịch sông nước dựa vào hệ thống sông ngòi đã đề cập ở trên,
trên địa bàn tỉnh còn có cụm đồi thấp thuộc huyện Gia Bình có điều kiện thuận lợi để đầu tư
khu vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần.
Hệ động, thực vật: Nếu như Việt Nam được biết đến như là một trung tâm đa dạng
sinh học của thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú thì Bắc Ninh cũng đóng góp
nhiều hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng. Tuy là một tỉnh có diện tích nhỏ của cả nước
song Bắc Ninh cũng có một hệ sinh thái rừng, với tổng diện tích khoảng hơn 660 ha, phân
bố chủ yếu ở các huyện Quế Võ, Tiên Du. Tổng trữ lượng gỗ khoảng hơn 3.200m3, bao gồm

Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Trước kia tranh được bán ra chủ yếu
phục vụ cho dịp Tết Nguyên Đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết
năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.
1.1.2.2. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể của tỉnh Bắc Ninh
Di sản văn hóa phi vật thể “dân ca Quan họ Bắc Ninh”: Dân ca quan họ Bắc Ninh
là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, nguồn gốc ở vùng văn hóa
Bắc Ninh. Loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu. Quan họ là
thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một
bài quan họ đều có một giai điệu riêng. Cho đến nay, có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký
âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã
được khám phá. Kho ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan
họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc
Giang.
Ngày 30 tháng 09 năm 2009, tại kỳ họp thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước
UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 02 tháng 10 năm
2009), Dân ca Quan họ Bắc Ninh cùng với Ca trù được công nhận là di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp sau Nhã
nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên.
Lễ hội truyền thống tiêu biểu: Lễ hội truyền thống là đối tượng du lịch văn hóa tiêu
biểu của tỉnh Bắc Ninh. Tính đến nay, trong số hơn 600 lễ hội lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh có khoảng hơn 40 lễ hội quan trọng, được duy trì tổ chức hàng năm.
Nhiều di tích lịch sử văn hóa trên đia bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó phần lớn là các
đình, đền là nơi thờ các vị danh nhân tiền bối có công với đất nước, với địa phương, các vị
trạng nguyên khoa bảng đã làm rạng danh quê hương, đất nước, tạo dựng truyền thống học
tập cho quê hương ngày nay. Các lễ hội tổ chức tại các đền, đình này hàng năm cũng là dịp
để tưởng nhớ và tôn vinh các vị danh nhân này. Các đối tượng này nếu khai thác tốt sẽ trở
thành những sản phẩm du lịch giáo dục lịch sử và truyền thống hấp dẫn, có hiệu quả cao.
Các làng nghề thủ công truyền thống: Bắc Ninh từ xa xưa đã nổi tiếng là nơi có
nhiều nghề thủ công với hơn 60 làng nghề khác nhau như làng nghề làm tranh, làm giấy rèn,
đúc đồng, khảm trai, chạm khắc, dệt, sơn mài… Các nghề này không những làm giàu cho

nói đến các món ăn đặc sản nổi tiếng như: bánh phu thê Đình Bảng, bánh khúc làng Diềm
hay gà Đông Cảo hoặc món gà Hồ ngon nổi tiếng mà khi nói đến văn hóa ẩm thực Bắc Ninh
nhất thiết phải đề cập đến không gian của làng quê Kinh Bắc với phong tục cổ của người
Việt. Trong mỗi bữa tiệc liên hoan hay những hội hè, đình đám đều không thể thiếu những
liền anh liền chị, trong chiếc áo mớ ba mớ bảy ngân nga làn điệu quan họ “Miếng trầu là
đầu câu chuyện”. Làn điệu mời trầu của anh hai, chị ba quan họ đón chào bạn ngay khi bạn
tham gia các buổi tiệc tại đây. Ngoài ra, trong các lễ hội văn hóa dày đặc của miền quê Kinh
Bắc không thể thiếu được các món ăn truyền thống để phục vụ người tham dự như một món
quà thể hiện sự hiếu khách khi bạn đến với vùng quê giàu truyền thống này.
1.2. Điều kiện về hạ tầng xã hội
Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước. Đối
với ngành du lịch, cơ sở hạ tầng là yếu tố cơ sở nhằm khai thác hiệu quả các tiềm năng du
lịch, nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch. Trong kết cấu cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan
trọng nhất là mạng lưới phương tiện giao thông vận tải, hệ thống cung cấp điện năng, cấp
thoát nước và thông tin liên lạc trong đó có mạng lưới giao thông được đặt lên hàng đầu.
1.2.1. Giao thông
Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi. Trong những năm gần
đây, hệ thống giao thông của tỉnh phát triển mạnh, đặc biệt là hệ thống giao thông đường bộ
và đường thủy nội địa. Hệ thống giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho thông
thương và việc tiếp cận của khách du lịch từ các cảng biển, sân bay quốc tế Nội Bài và các
cửa khẩu đường bộ ở các tỉnh bạn.
Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản
sau:
Về mạng lƣới: Được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý
về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thôn trong
toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia. Liên hệ với đường sắt và đường
sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và bến bãi ven sông.
Về tình trạng kỹ thuật đƣờng bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các tuyến đường
địa phương nhìn chung chưa tốt, nền đường, mặt đường hẹp. Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu


đường cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh hiện đại và thuận lợi cho du khách đến Bắc Ninh bằng
đường không.
1.2.2. Hệ thống điện
Bắc Ninh có hệ thống điện lưới từ tỉnh về đến huyện, xã và từng thôn xóm được xây
dựng đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên trước đây
mạng lưới điện không đồng bộ, chất lượng kém, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế,
xã hội, trong đó có du lịch. Thời gian qua, ngành điện của tỉnh đã đầu tư 400 tỷ đồng để xây
dựng cải tạo hệ thống điện. Đến nay toàn tỉnh có 173,4km đường dây 110KV, 465,3km
đường dây 35KV, 65,2km đường dây 6 – 10 – 22KV và 2.117km đường dây 0,8KV. Nhìn
chung hệ thống điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân.
1.2.3. Hệ thống cấp, thoát nước
Cấp nƣớc: Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trước đây khá phong phú
với trữ lượng đạt hơn 235 ngàn mét khối một ngày đêm. Bên cạnh đó, với mạng lưới sông
ngòi dày đặc, Bắc Ninh có trữ lượng nước mặt lớn với hàm lượng khoáng chất đảm bảo khai
thác cấp nước sinh hoạt. Tuy nhiên thời gian gần đây do việc khai thác nước ngầm phục vụ
công nghiệp và đô thị còn thiếu kiểm soát nên ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng nước ngầm,
đặc biệt vào mùa khô.
Thoát nƣớc: Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt.
1.2.4. Hệ thống thông tin liên lạc

10


Cùng chung đặc điểm như phần lớn các địa phương khách trên cả nước, Bắc Ninh có
dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo liên lạc thông suốt. Không những
thế, hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh vẫn tiếp tục được hiện đại hóa, đã đầu tư thêm 1
tổng đài, 17 trạm truyền dẫn cáp quang đến tất cả các huyện thị, 99 điểm bưu điện văn hóa
xã và 149 điểm bưu điện văn hóa thôn, rút ngắn bán kính phục vụ xuống dưới 1km/điểm
phục vụ, thấp hơn mức bình quân cả nước. Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh đầu tiên

nhiên;
- Đây là vùng đất phát triển lâu đời nên phần lớn diện tích đất có sự tập trung dân cư với
mật độ cao, quỹ đất dành cho phát triển các dịch vụ công ích và công trình dịch vụ du lịch
không còn nhiều, ở một số điểm tài nguyên có giá trị thì rất hạn chế về không gian để mở
rộng dịch vụ.
- Các tài nguyên nhân văn (trừ thưởng thức quan họ và nghiên cứu tìm hiểu các di tích lịch
sử) chủ yếu phù hợp với khách nội địa, ít phù hợp nhu cầu của khách quốc tế;
- Nằm trên trục đường nối trung tâm gửi khách lớn nhất miền Bắc với kỳ quan thiên nhiên
thế giới hấp dẫn du khách nhất Việt Nam nhưng lại quá gần trung tâm thành phố đã có sự
phát triển về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nên khó khai thác dịch vụ lưu trú.

11


Từ những nhận định hạn chế này, tỉnh Bắc Ninh cần nghiên cứu và áp dụng những
giải pháp phù hợp, đầu tư hợp lý thì mới khai thác có hiệu quả những nguồn lực của tỉnh và
khắc phục được những hạn chế nêu trên.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1
Bắc Ninh - mảnh đất cổ kính, một làng quê văn hiến với những con người siêng
năng, cần cù, chịu khó, thủy chung trong cuộc sống, tinh tế lịch lãm trong ứng xử, thông
minh tài ba trong học hành. Những con người ấy đang hàng ngày, hàng giờ miệt mài cống
hiến dựng xây kiến thiết cho quê hương ngày một thêm giàu đẹp. Bên cạnh đó, với tấm lòng
yêu say các sinh hoạt văn hóa truyền thống, họ đã góp phần tạo ra cho mảnh đất nơi đây một
kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng mà không phải bất cứ làng quê nào cũng có được. Sự
phong phú, đa dạng đó còn được thiết lập qua cả một chiều dài lịch sử và sẽ ngày càng phát
triển hơn nữa bởi vì những con người nơi đây luôn biết giữ gìn, hòa mình vào các tài
nguyên văn hóa đó. Trải qua bao năm tháng, Bắc Ninh vẫn luôn tự hào là mảnh đất chứa
đựng nhiều dấu ấn văn hóa nhất. Chính những dấu ấn văn hóa đó là những điều kiện tiên
quyết cho việc phát triển du lịch văn hóa tỉnh Bắc Ninh.
Bên cạnh đó, những điều kiện về kinh tế xã hội, những cơ chế chính sách của Đảng,

Xem bảng 2.2: Khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh (2001 – 2011), ta có thể thấy số
lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh trong những năm vừa qua (2001 – 2011) có sự
tăng trung bình hàng năm 20,7%. Bảng thống kê cũng cho thấy thị trường khách quốc tế
trọng điểm đến với Bắc Ninh là Bắc Mỹ, Đông Nam Á. Trong đó chủ yếu là các nước Mỹ,
Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan. Mục đích chính của họ là tham quan và tìm hiểu di tích lịch sử, nghiên
cứu giá trị văn hóa tại các di tích tiêu biểu, nổi tiếng như đền Đô, chùa Dâu, tranh Đông Hồ…
Chiếm thành phần chủ đạo trong số lượng khách du lịch quốc tế tới Bắc Ninh phải
kể đến nguồn khách đến từ trong khu vực Đông Nam Á, thường chiếm 60% trong tổng số
khách quốc tế đến Bắc Ninh. Có được điều này là do nền văn hóa của thị trường khách
Đông Nam Á có nhiều điểm tương đồng với văn hóa Việt Nam nên có sức hút hơn cả.
Mặc dù vậy sự tăng trưởng trên diễn ra khá đồng đều song không có sự đột biến và
tăng mạnh. Trung bình hằng năm lượng khách quốc tế đến với Bắc Ninh tăng thêm khoảng
1000 lượt khách và chiếm một tỷ lệ khá thấp trong tổng lượt khách du lịch tới Bắc Ninh.
Cũng lý do giống với khách du lịch nội địa, tỷ lệ khách du lịch quốc tế vãng lai đến
Bắc Ninh cũng đạt 70% cho đến 50% trong thời kỳ 2001 – 2011. Điều này đã phần nào nói
lên mục đích du lịch của khách quốc tế đến với Bắc Ninh chủ yếu là tham quan, tìm hiểu di
tích lịch sử, nghiên cứu giá trị văn hóa tại các di tích tiêu biểu trên địa bàn (chiếm 45 – 46%
lượng khách phân theo mục đích chuyến đi). Vài năm gần đây đối tượng khách này đang có
xu hướng tìm hiểu và thưởng thức di sản dân ca Quan họ.
Trên đây là những con số đáng khích lệ đối với tỉnh song nó cũng đặt ra cho tỉnh bài
toán về thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách quốc tế. Đây là cơ hội để Bắc Ninh có thể
giới thiệu tới bạn bè trong nước cũng như quốc tế hiểu rõ hơn về mảnh đất giàu truyền

13


thống văn hóa của mình. Tác giả cũng hi vọng luận văn sẽ cung cấp phần nào lời giải đáp
cho bài toán khó này.
2.1.1.2. Khách nội địa
Khách du lịch nội địa vẫn là lượng khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng năm

tăng trưởng. Điều này đã chứng tỏ Bắc Ninh đã phần nào giới thiệu thành công nền văn hóa
của tỉnh mình tới bạn bè quốc tế thông qua du lịch. Tuy nhiên, trong thời gian tới, tỉnh sẽ
phải cố gắng nhiều hơn để kích cầu lượng khách quốc tế tới tham quan Bắc Ninh nhiều hơn.
2.1.2.3. Mức độ chi tiêu
Theo kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch do Tổng cục Thống kê và Tổng cục
du lịch tiến hành năm 2005 tại một số điểm danh lam thắng cảnh và khách sạn trên địa bàn
Bắc Ninh, bình quân chi tiêu của khách du lịch:
- Khách du lịch quốc tế là 1,05 triệu VND/ngày/người trong đó khách quốc tế chi 300.000
VND cho dịch vụ lưu trú, 250.000 VND cho ăn uống. 150.000 VND cho vận chuyển đi lại,
120.000 VND cho hoạt động tham quan…
- Khách du lịch nội địa chi 304.000 VND/ngày/người trong đó chi trung bình 178.000 VND
cho dịch vụ lưu trú, 100.000 VND cho dịch vụ ăn uống, còn lại là cho các hoạt động khác.
Mặc dù vậy theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thì
năm 2011 mức chi tiêu bình quân của khách du lịch quốc tế đạt 80 USD (khoảng 1,6 triệu

14


đồng) và của khách du lịch nội địa đạt 25 USD (khoảng 550.000 đồng), cao hơn con số
thống kê năm 2005 của Tổng cục Thống kê. Rõ ràng đây là mức chi tiêu khá cao so với các
địa phương khác trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận.
2.1.2.4. Thời gian lưu trú
Số lượng ngày khách quốc tế và khách nội địa lưu trú tại các khách sạn ở Bắc Ninh
tương đối ngắn, trung bình chỉ khoảng 0,9 – 1,4 ngày… Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do
Bắc Ninh tương đối gần với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh nên điều kiện đi lại cũng
không khó khăn. Do đó khách đi từ Hà Nội thường chỉ đến tham quan các điểm di tích sau
đó quay trở về Hà Nội hoặc đến các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh để nghỉ chứ không
nghỉ tại Bắc Ninh. Một mặt khác là cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du lịch của tỉnh chưa
cao, ít có các dịch vụ giải trí bổ sung trong khi đó Bắc Ninh lại tiếp giáp với các khu du lịch
nổi tiếng của cả nước như Hà Nội, Hạ Long, điều này cũng tạo ra những bất lợi cho tỉnh.

tham quan đồng thời vừa nghỉ ngơi, thư giãn. Loại hình này chủ yếu dành cho những người làm
những công việc căng thẳng hay những người chữa bệnh. Nói chung, khi khách du lịch lựa chọn
hình thức này tức là họ mong muốn được nghỉ ngơi nhiều hơn trong khi đi du lịch và thời gian đi
du lịch theo mục đích này cũng tương đối dài. Nắm bắt được tâm lý này, ngành du lịch đã định
hướng trong việc đầu tư cho loại hình này thông qua việc xây dựng các khu resort, các khu dưỡng

15


bệnh. Những địa điểm được lựa chọn cho loại hình này phải là những nơi yên tĩnh, không khí
trong lành và có phong cảnh đẹp.
Hi vọng với việc đầu tư, đẩy mạnh du lịch phát triển hơn nữa để chuẩn bị cho năm du lịch
quốc gia 2013 về văn hóa đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh sẽ trở thành một điểm hấp dẫn đối với
loại hình du lịch nói trên.
2.1.3.4. Thưởng thức nghệ thuật
Thưởng thức nghệ thuật trong những năm gần đây đã trở thành một loại hình du lịch quen
thuộc. Mục đích của loại hình này là thưởng thức các sản phẩm du lịch mang tính nghệ thuật cao,
thiên về các sản phẩm tinh thần nhiều hơn. Nói cách khác, thưởng thức nghệ thuật chính là loại
hình du lịch được cấu thành từ văn hóa. Tuy nhiên, đây chỉ là một hoạt động đan xen với các loại
hình du lịch khác. Nhưng để loại hình du lịch này hoạt động và phát triển thì
không phải bất cứ tỉnh nào cũng làm được, nó còn phụ thuộc vào nguồn tài nguyên du lịch nhân
văn của chính tỉnh đó.
Tuy nhiên Bắc Ninh được xem là một tỉnh trong những tỉnh may mắn khi có lợi thế trong
loại hình du lịch này. Năm 2009, Bắc Ninh vinh dự đón nhận bằng công nhận Quan họ là di sản
văn hóa phi vật thể thế giới bởi UNESCO. Điều này không chỉ đem lại tự hào cho tỉnh mà cho
toàn đất nước. Từ đó, khách du lịch trong và ngoài nước biết đến Bắc Ninh nhiều hơn và nhu cầu
thưởng thức di sản văn hóa thế giới tăng cao. Loại hình thưởng thức nghệ thuật cũng nhanh chóng
trở thành một trong những hoạt động du lịch trọng tâm của tỉnh cũng như đối với cả vùng đồng
bằng sông Hồng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy loại hình này vẫn chưa thu hút được đông đảo khách
tham quan, đặc biệt là khách nội địa. Họ chỉ tham gia vào loại hình này khi kết hợp cùng với mục

Thực trạng hoạt động đầu tƣ khai thác quan họ phục vụ du lịch: Đã có nhiều nhà đầu tư
xây dựng và phát triển nhiều dự án dựa vào tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng này của
Bắc Ninh để phát triển du lịch, thu hút nhiều hơn nữa khách du lịch tới Bắc Ninh.
Thực trạng công tác quản lý của tỉnh trong việc khai thác quan họ phục vụ du
lịch: Sau khi quan họ được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, các cấp
quản lý đã chú trọng hơn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của di sản, tỉnh Bắc Ninh
tiếp tục đẩy mạnh các hình thức tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về những giá trị đặc sắc
và độc đáo của dân ca quan họ Bắc Ninh dưois nhiều hình thức, khơi dậy niềm tự hào dân
tộc, nâng cao ý thức tự tôn, trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể, các cộng đồng dân cư về
bảo tồn và phát huy giá trị dân ca Quan họ Bắc Ninh.
Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động khai thác: Bên cạnh những hoạt động,
những dự án đầu tư có trọng điểm, có sức thu hút và quảng bá quan họ của du lịch Bắc
Ninh, vẫn còn tồn tại những vấn đề bất cập xoay quanh việc phát triển du lịch Bắc Ninh dựa
trên việc khai thác các giai trị văn hóa quan họ. Điều đó dần làm mất đi vẻ đẹp của Quan họ,
của người dân Kinh Bắc. Tháng Giêng, bạn bè hóa hức hẹn nhau đi hội Lim. Hội Lim đã đi
nhiều, nhưng sao vẫn chưa thỏa. Rõ là Hội Lim giờ đây quy mô lớn, tổ chức hoành tráng
nhưng lại thiếu đi cái đằm thắm, chất tâm tình và cái duyên Quan họ - những cái tự nhiên
riêng có của quan họ, khiến cho “Ai xui nên nỗi nhớ nhau đi tìm…” mỗi khi xuân về, tháng
giêng đến. Nhiều người trở về từ hội Lim thất vọng vì “tưởng quan họ thế nào”… Quả thực,
nếu chỉ nghe hát quan họ qua những chiếc loa kích âm, trong không khí lễ hội ồn ào và qua
sự trình diễn của những diễn viên quan họ trẻ tuổi, thì thật khó có thể tưởng tượng được tại
sao quan họ lại ngấm vào máu bao nhiêu thế hệ ở Bắc Ninh, khiến người ta say mê đến thế!
Bên cạnh đó, dân ca quan họ Bắc Ninh vốn hình thành và phát triển gắn liền với không gian
văn hóa làng xã, thì nay quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa khiến không gian văn hóa
truyền thống đang bị thu hẹp dần. Chưa kể tới việc, dân ca quan họ - vốn được xem như một
thú chơi nghệ thuật thuần nhất phi thương mại, rất hiếm trên thế giới – nay bị sân khấu hóa
và thương mại hóa. Một bộ phận không nhỏ những người hát quan họ hiện nay (nhất là các
bạn trẻ) đã gần như rời xa các lề lối và kĩ thuật thanh nhạc cổ điển, lạm dụng nhạc đệm điện
tử và các thiết bị loa đài… dẫn tới việc những nét tinh túcuar quan họ đang bị biến dạng.
Người ta có thể thấy Quan họ Bắc Ninh đang “phủ sóng” Hà Nội bởi chỉ sau một cú

Các hình thức tổ chức trong làng nghề du lịch ngày càng phong phú và đa dạng.
Trong một số làng nghề có sự phát triển đa dạng phong phú về các hộ nghề, các hộ kiêm và
hộ chuyên ngành tham gia làm nghề. Một số các hộ đã tập hợp nhau lại để hình thành các
hợp tác xã thủ công nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân hay các công ty trách nhiệm hữu hạn.
Việc xuất khẩu mạnh các mặt hàng thủ công truyền thống đã góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ở khu vực nông thôn, từ đó phát triển hơn đời sống kinh tế - xã hội địa
phương, ngành, vùng. Ngoài ra việc khôi phục, bảo tồn, phát triển các làng nghề du lịch đã
có tác động quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội mà còn góp phần đối với sự phát
triển của ngành du lịch. Hiện nay bên cạnh các hình thức du lịch khác nhau của Bắc Ninh:
du lịch văn hóa – lễ hội, tham quan các di tích lịch sử, du lịch sinh thái,… du lịch làng nghề
đã và đang thu hút được sự quan tâm của du khách trong nước và quốc tế. Du lịch làng nghề
làm phong phú các sản phẩm du lịch, các tour du lịch. Những sản phẩm làng nghề có tính
đơn lẻ, độc đáo, có sự kết tinh của văn hóa của văn hóa Kinh Bắc thực sự hấp dẫn khách du
lịch đén với làng nghề.
Về cơ chế, chính sách, các cấp quản lý của tỉnh Bắc Ninh đang có định hướng gìn
giữ, bảo tồn và khai thác các làng nghề truyền thống lâu đời, đồng thời xây dựng và phát
triển các làng nghề mới, đồng thời cũng đề ra mục tiêu hỗ trợ xây dựng và phát triển “mỗi
làng – mỗi nghề” nhằm tăng nguồn thu nhập cho các làng, nâng cao mức sống của nhân dân,
đa dạng hóa sản phẩm cũng như các tour du lịch làng nghề.
Du lịch làng nghề phát triển bước đầu đã giúp các làng nghề khôi phục, phát triển
được các hoạt động văn hóa dân gian, xây dựng được môi trường du lịch văn hóa, cải thiện
hơn các cơ sở hạ tầng kết hợp với bảo vệ môi trường du lịch sinh thái,đẩy mạnh công tác
dạy nghề cho lớp trẻ nhằm duy trì, gìn giữ kỹ năng truyền thống, bản sắc văn hóa của làng
nghề.
Các làng nghề truyền thống đã có ý thức khai thác sự hấp dẫn, độc đáo của sản phẩm
làng nghề để thu hút khách du lịch tới làng nghề tham quan, mua sắm.
Các làng nghề khai thác du lịch cũng bước đầu có ý thức tạo dựng cơ sở hạ tầng ban
đầu tối thiểu cần thiết cho hoạt động du lịch như hệ thống cửa hàng mua sắm.
Một số làng nghề cũng đã bắt đầu quan tâm tới việc xúc tiến, quảng bá cho làng
nghề nhằm chào bán các sản phẩm, thu hút khách du lịch.

sát cũng cố, nâng cấp các làng nghề hiện trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, các huyện, thị để xây
dựng các tuyến du lịch gắn với làng nghề và hình thành một số điểm trưng bày và bán sản
phẩm chất lượng cao của các làng nghề, nghề thủ công trong tỉnh như: hàng thủ công mỹ
nghệ và hàng đặc sản địa phương.
2.2.3. Khai thác các giá trị của lễ hội truyền thống phục vụ du lịch
Chẳng hẹn cũng lên, vùng Kinh Bắc với hàng trăm lễ hội lớn nhỏ đã thu hút hàng
triệu lượt khách ghé thăm mỗi dịp xuân về. Không lạ đến mức phải ngỡ ngàng, vậy mà tiếng
trống hội vẫn giục giã dòng người bước chân về trẩy hội. Thời nào cũng vậy, các làng xã
cũng đều quan tâm xây dựng cho mình những thiết chế văn hóa cộng đồng (đình, đền ,
chùa) và hàng năm theo mùa vụ “xuân thu nhị kỳ” đã diễn ra các sinh hoạt lễ hội truyền
thống. Song mỗi làng xã, có lịch sử tồn tại và phát triển riêng, nên có những tục lệ riêng và
hoạt động lễ hội mang màu sắc riêng. Vì vậy trong dân gian có câu: “Tróng làng nào làng ấy
đánh, Thánh làng nào làng ấy thờ” là phản ánh màu sắc riêng của văn hóa lễ hội. Với sự
phong phú của hệ thống lễ hội tại Bắc Ninh, với sự trải dài cả về không gian và thời gian
của các lễ hội, sức hấp dẫn với du khách quốc tế do chứa đựng những nét văn hóa đặc sắc,
lễ hội dân gian truyền thống của Bắc Ninh là một “tài nguyên” vô giá đối với sự phát triển
du lịch của tỉnh và của cả nước. Theo thống kê của cơ quan văn hóa tỉnh Bắc Ninh, đến nay
toàn tỉnh có 547 lễ hội, trong đó có 49 hội chùa, 484 hội đình và 14 hội đền.
Công tác quản lý việc khai thác lẽ hội phục vụ du lịch: lễ hội Bắc Ninh vẫn còn
tồn tại hạn chế nhất định. Một số địa phương có lễ hội lớn chưa khoa học trong công tác quy
hoạch không gian lễ hội, việc quản lý khu vực dịch vụ trong lễ hội còn chưa thật sự chặt
chẽ, văn minh dẫn đến phổ biến tình trạng đốt vàng mã, dịch vụ khấn thuê, đội lễ, đổi tiền
lẻ, hay tình trạng giọt dầu để tràn lan, vương vãi … gây phản cảm, mất mỹ quan và giảm ý
nghĩa tâm linh của lễ hội khiến du khách không hài lòng.
Một số lễ hội ngày càng bị mất giá trị nguyên gốc, bị sân khấu hóa, bổ sung, xen kẽ
những yếu tố hiện đại, lai căng không phù hợp.
Một số lẽ hội mang tính chất tâm linh, thần bí, có sự tham gia quá ồn ào ảnh hưởng
đến không gian, tính chất lễ hội nên không nhận được sự hưởng ứng của cộng đồng dân cư
địa phương. Thậm chí, có lễ hội được tổ chức tràn lan, bị thương mại hóa, gây bức xúc
trong dư luận.

lút hành nghề. Hiện tượng này gây ra cái nhìn phản cảm đối với những chốn linh thiêng như
thế này.
Bên cạnh đó, bắc Ninh cũng có nhiều di tích lịch sử có giá trị truyền thống như văn
miếu Bắc Ninh, thành cổ Bắc Ninh, những quần thể di tích xung quanh chùa… Tuy nhiên
nhìn tổng thể thì công tác gắn kết giữa bảo tồn di tích với khai thác tiềm năng du lịch di tích
lịch sử văn hóa, giáo dục còn bị lãng quên. Sản phẩm và chất lượng dịch vụ du lịch chưa
đuwocj đầu tư đủ phục vụ du khách dừng chân. Tại khu di tích vẫn chưa hề có đội ngũ
hướng dẫn viên, thuyết minh viên về kiến trúc cảnh quan, về lịch sử.
Những di tích, danh thắng có sự kết hợp hài hòa giữa phát triển du lịch và có ý nghĩa
sống động về giáo dục truyền thống văn hóa, truyền thống lịch sử cách mạng lại không được
chú trọng khai thác hết tiềm năng.
2.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch văn hóa của tỉnh
Cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch là toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào
việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch. Nó
lập thành một hệ thống trong cơ cấu chung của cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch. Cơ sở
vật chất kỹ thuật trong du lịch bao gồm: Hệ thống các cơ sở lưu trú, ăn uống, cơ sở vui chơi
giải trí, mạng lưới cửa hàng thương nghiệp, cơ sở y tế, văn hóa, cơ sở thể thao và phục vụ
các dịch vụ bổ sung khác. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong du lịch đóng vai trò hết sức quan
trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của

20


khách hàng. Vì vậy, sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và
hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.
2.3.1 Hệ thống lưu trú
Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách và nhu cầu xã hội
ngày càng tăng nên các khách sạn, nhà nghỉ được xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu
cầu của khách du lịch. Ngành du lịch Bắc Ninh cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách
sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch. Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các

(Xem bảng 2.10: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2001 – 2011))
Với một tỉnh có tiềm năm du lịch văn hóa lớn như Bắc Ninh nếu như trong tương lai
không có định hướng và chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có
chất lượng cao thì sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường khách, đến sản phẩm du lịch khi
du khách đến với Bắc Ninh vì phát triển du lịch thì vấn đề nhân lực được đưa lên vị trí quan
trọng.
2.5. Tổ chức, quản lí và quy hoạch du lịch văn hóa
2.5.1. Hiện trạng đầu tư phát triển khu, điểm du lịch
Khu du lịch: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh đến năm 2010 xác
định 3 dự án ưu tiên đầu tư gồm: khu du lịch văn hóa quan họ Cổ Mễ (Bắc Ninh); khu du

21


lịch văn hóa Đền Đầm (Từ Sơn) và khu du lịch văn hóa Phật Tích (Tiên Du). Dự kiến trong
thời gian tới sẽ quy hoạch thêm 3 khu du lịch: Thiên Thai (huyện Gia Bình); Như Nguyệt
(huyện Yên Phong); Hàm Long – Núi Dạm (Thành phố Bắc Ninh) để xác định quỹ đất phát
triển du lịch và làm động lực phát triển các tuyến du lịch khép kín, liên hoàn trên
Điểm du lịch: Theo quy hoạch phát triển du lịch tỉnh đến năm 2011 có một số điểm di tích
lịch sử, văn hóa, xác định là chủ đạo trong khai thác phát triển du lịch. Hiện tại, có Văn
Miếu Bắc Ninh, chùa Dâu, Lăng Kinh Dương Vương, chùa Phật Tích, đền Đô là một trong
những điểm du lịch đã được lập quy hoạch, lập dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng theo hướng
phục vụ mục đích du lịch. Còn những điểm du lịch còn lại hiện đang trong quá trình lập dự
án đầu tư để trùng tu tôn tạo là chính.
2.5.2. Các dự án đầu tư khác liên quan đến du lịch
Dự án đầu tƣ xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và công trình chính công viên Lý
Bát Đế: Công trình này thuộc phường Đình Bảng – Thị xã Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh. UBND
tỉnh Bắc Ninh có công văn số 1224/UBND-XDCB của UBND tỉnh ngày 12 tháng 7 năm
2010 đồng ý cho công ty cổ phần đầu tư KINGSLAND lập dự án đầu tư xây dựng hệ thống
hạ tầng kỹ thuật khu công viên Lý Bát Đế trong quy hoạch đô thị xanh của thị xã Từ Sơn,

việc phát triển kinh tế trong đó có tác động đến những yếu tố sau:

22


Nâng cao thu nhập người dân
Thay đổi cơ cấu nghề nghiệp
Kích thích các ngành nghề khác
Tăng cường đầu tư cở sở hạ tầng
Văn hóa phát triển: trong mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch, không chỉ riêng du
lịch lấy nguyên liệu để tạo ra sản phẩm là văn hóa mà thông qua hoạt động du lịch cũng góp
phần thúc đẩy việc bảo tồn và phát triển văn hóa.
Giao lưu làm cho văn hóa trở nên đa dạng và phong phú
Bảo tồn văn hóa
Giáo dục:
Nâng cao dân trí
Bồi dưỡng nhân lực
2.7.2.Tác động tiêu cực
Sức chứa của các điểm du lịch: Sức chứa là yếu tố chứng minh sự sẵn sàng đón khách
trong du lịch của các khía cạnh như: hạ tầng, sinh thái, tâm lý, kinh tế, xã hội và quản lý.
Về hạ tầng du lịch
Về tâm lý sẵn sàng đón tiếp khách
Môi trƣờng tự nhiên: Khi đánh giá những tác động qua lại giữa môi trường và hoạt
động du lịch, cần xem xét đến những tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên bao gồm:
Tác động đến môi trường nước
Tác động đến hệ động thực vật
Thay đổi lối sống
Biến dạng văn hóa
Mâu thuẫn quyền lợi
Kinh tế:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status