ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ HƢƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ HƢƠNG
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Phạm Hùng
Hà Nội, 2015
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 10
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 10
6. Bố cục luận văn ........................................................................................... 11
7. Đóng góp của luận văn ................................................................................ 12
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA
VÀ VIỆC NGHIÊN CỨU DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH BẮC GIANG. .. 13
1.1 Những vấn đề lý luận về du lịch văn hóa .............................................. 13
1.1.1 Du lịch văn hóa ...................................................................................... 13
1.1.2 Tài nguyên du lịch văn hoá .................................................................... 14
1.1.3 Điểm đến du lịch văn hóa ...................................................................... 16
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa .......................................... 17
1.1.5 Sản phẩm du lịch văn hóa ...................................................................... 18
1.1.6 Khách du lịch với mục đích văn hóa ...................................................... 21
1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa ........................................................... 22
1.1.8 Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong du lịch ................................. 24
1.2 Khái quát về điều kiện phát triển du lịch tỉnh Bắc Giang. ................. 27
1.2.1 Điều kiện bên trong ................................................................................ 27
1.2.2 Điều kiện bên ngoài ............................................................................... 44
1.3 Bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa. ......... 45
1.3.1 Bài học kinh nghiệm nước ngoài. .......................................................... 45
1.3.2 Bài học kinh nghiệm trong nước. ........................................................... 48
1.4 Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu du lịch văn hóa Bắc Giang. .. 51
1.4.1 Tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong hoạt động du lịch Bắc Giang..... 51
1
1.4.2 Những thuận lợi trong hoạt động du lịch văn hóa Bắc Giang. ............. 52
1.4.3 Những khó khăn trong hoạt động du lịch văn hóa Bắc Giang. ............. 53
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 54
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH
3.1.1 Định hướng phát triển theo ngành ......................................................... 92
3.1.2 Định hướng về phát triển sản phẩm du lịch đặc thù .................................... 94
3.1.3 Định hướng phát triển theo không gian, lãnh thổ ................................. 96
3.1.4 Những mặt mạnh và mặt yếu rút ra từ thực trạng du lịch văn hóa ..... 100
3.2 Những giải pháp cụ thể ......................................................................... 101
3.2.1 Giải pháp về thị trường khách du lịch ................................................. 101
3.2.2 Giải pháp về sản phẩm du lịch đặc thù ................................................ 105
3.2.3 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hóa ......... 107
3.2.4 Giải pháp về phát triển nhân lực du lịch văn hoá ............................... 109
3.2.5Giải pháp tổ chức, quản lý hoạt động du lịch văn hoá ......................... 112
3.2.6 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hoá ................ 117
3.2.7 Giải pháp bảo tồn di sản văn hoá và tài nguyên du lịch văn hoá ....... 119
Tiểu kết chƣơng 3 ........................................................................................ 122
KẾT LUẬN .................................................................................................. 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 126
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 131
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQL
Ban quản lý
CĐ
Cao đẳng
CHXHCN
Quyết định- Uỷ ban nhân dân
QH
Quốc hội
TN
Tự nhiên
UBND
Ủy ban nhân dân
UNESCO
(United Nations Educational, Secientific and
Cultural Organization) Tổ chức Giáo dục, Khoa
học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
UNWTO
(World Tourism Organization) Tổ chức Du lịch
thế giới
VHTT
Văn hóa Thể thao
4
Biểu đồ 2.2: Lƣợng khách du lịch đến Bắc Giang giai đoạn 2005-2015........ 60
Biểu đồ 2.3: Nguồn lao động trực tiếp trong du lịch tỉnh Bắc Giang phân theo
trình độ đào tạo năm 2014 ............................................................................... 75
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một nhu cầu thiết yếu của tất cả mọi ngƣời trong xã hội hiện
nay, khi mà tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt thì du lịch văn hoá
đƣợc xem nhƣ một sản phẩm đặc thù của các quốc gia, đặc biệt là các nƣớc
đang phát triển. Với nền tảng quy mô, nguồn lực không lớn, các nƣớc phát
triển chƣa có đủ nguồn lực để xây dựng những điểm du lịch đắt tiền, những
trung tâm du lịch tầm cỡ, hiện đại nhƣ những nƣớc phát triển mà thƣờng dựa
vào những tài nguyên tự nhiên và sự đa dạng của bản sắc văn hoá dân tộc,
coi đó là vốn để phát triển du lịch. Hơn nữa phần lớn hoạt động du lịch ở các
nƣớc đang phát triển gắn liền với địa phƣơng, cũng là nơi còn tồn tại cái đói
nghèo. Bởi thế, thu hút khách tham quan du lịch văn hoá tức là tạo ra dòng
chảy mới và cải thiện cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng. Đối với nƣớc ta,
du lịch văn hoá cũng đƣợc coi là một trong những loại hình du lịch đặc thù,
có thế mạnh và tiềm năng phát triển phong phú, thu hút khách du lịch trong
nƣớc và quốc tế.
Bắc Giang là một tỉnh Trung du và miền núi Bắc Bộ có tài nguyên du
lịch văn hoá đa đạng phong phú. Hiện nay du lịch văn hoá là một thế mạnh
của du lịch tỉnh nhà. Theo thống kê, Bắc Giang có 2.230 di tích lịch sử - văn
hoá, có gần 500 di tích đƣợc xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia, và hơn
1000 di tích cấp tỉnh. Các di tích lịch sử đƣợc phân bố ở khắp các huyện trong
tỉnh, tạo nên các sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn du khách.
Về địa lý nhân văn, Bắc Giang cũng có những điểm riêng. Bắc Giang
phẩm du lịch văn hoá của tỉnh trong thời gian tới, đƣa du lịch văn hoá thành
loại hình chủ đạo đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và xã hội cho Bắc Giang.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ở Việt Nam, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá. Trong
đó, mỗi tỉnh lại có các tác giả nghiên cứu sâu về những nét đặc trƣng của văn
hoá mình. Ví dụ nhƣ: “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Bắc Ninh”8
Luận văn thạc sỹ của Lê Trung Thu, tác giả đã nêu bật lên đƣợc nền văn hoá
lâu đời gắn với những tên tuổi khác nhau của các vị vua thời Lý, di sản phi
vật thế giới Quan họ Bắc Ninh, hàng trăm ngôi chùa và làng nghề nổi tiếng …
Hoặc luận văn “Nghiên cứu phát triển du lịch văn hoá tỉnh Thái Bình” của
Thạc sỹ Phạm Thị Bích Thuỷ. Tác giả đã tập trung nghiên cứu về những đặc
trƣng văn hoá của một tỉnh đồng bằng bắc bộ, có rất nhiều di sản văn hoá tuy
nhiên lại chƣa đƣợc khai thác tốt trong việc bảo tồn và phát triển du lịch.
Ở Bắc Giang, các công trình nghiên cứu về văn hóa Bắc Giang cũng
khá phong phú, ví dụ nhƣ: “Du lịch Bắc Giang tiềm năng và triển vọng”,
“Bắc Giang: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá Lý- Trần” của Sở Văn
hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang, thông qua các hội thảo nhƣ “ Liên kết
phát triển du lịch Thái Nguyên- Bắc Giang- Hải Dƣơng- Quảng Ninh”, “Hội
thảo xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh- sinh thái vùng
Tây Yên Tử”, “ Hội thảo phát triển du lịch tại Khe Rỗ”,… Các công trình
nghiên cứu, luận văn thạc sỹ về đề tài văn hóa phục vụ cho khách du lịch còn
khá khiêm tốn, chỉ đơn thuần là những luận văn dừng lại ở việc thống kê các
tài nguyên du lịch nói chung hoặc tập trung vào vấn đề sƣu tầm và bảo tồn
các giá trị văn hóa có chăng chỉ nghiên cứu một khía cạnh nào đó để phục vụ
cho việc phát triển du lịch, còn việc nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa
tỉnh Bắc Giang nhằm bảo tồn và phục vụ phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch
văn hóa thì chƣa có một công trình nào đƣợc công bố. Chính vì lẽ đó, tác giả
đã chọn đề tài của mình theo hƣớng nghiên cứu tổng thể các giá trị văn hóa ở
- Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ năm 2005 trở về đây,
các định hƣớng phát triển du lịch văn hoá của tỉnh và các giải pháp đƣợc đƣa
ra trong thời gian tới.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp sau để thực hiện nghiên cứu
- Phƣơng pháp khảo sát thực địa: đƣợc sử dụng trong việc đánh giá tiềm
năng và hiện trạng di tích. Tiếp cận thực tế bằng đo đạc, quay phim, chụp
ảnh… phối hợp với các cơ quan quản lý trong khu vực nghiên cứu.
10
- Phƣơng pháp thu thập và xử lý thông tin, số liệu: Luận văn sử dụng
phƣơng pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp
+ Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo
tạp chí, các trang web điện tử, các tài liệu, báo cáo các cơ quan quản lý du
lịch và chính quyền địa phƣơng. Dựa trên cơ sở đó đƣa ra những đánh giá và
những giải pháp để phát triển sản phẩm du lịch văn hóa Bắc Giang.
+ Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng việc khảo sát thực địa, phỏng vấn các
cán bộ chuyên trách du lịch Bắc Giang và một số ngƣời dân địa phƣơng ở nơi
có tài nguyên du lịch văn hóa.
- Phƣơng pháp bản đồ: là phƣơng pháp đánh giá tiềm năng và hiện
trạng di tích một cách hệ thống và tổng quát, trên cơ sở phân tích, đối chiếu
các thông số, hình ảnh… trên bản đồ địa hình, bản đồ cắt lớp…
- Phƣơng pháp phân tích- tổng hợp: phƣơng pháp phân tích một cách hệ
thống nhằm nhận biết rõ vai trò ảnh hƣởng của các yếu tố cấu thành nên sản
phẩm du lịch văn hóa để hệ thống hóa và tổng hợp thành các vấn đề tiêu biểu,
đặc trƣng của du lịch văn hóa vùng nghiên cứu. Từ đó đề xuất các nguyên tắc
và giải pháp phát triển du lịch văn hóa cho vùng nghiên cứu.
- Phƣơng pháp dự báo: là phƣơng pháp để đoán định các xu hƣớng sẽ
xảy ra trong tƣơng lai (bao gồm định tính và định lƣợng), để có các định
có nhiều định nghĩa và cách hiểu về nó.
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di
tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hƣởng tích cực bằng việc đóng góp nỗ
lực vào bảo tồn và tôn tạo đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, vì những lợi ích
văn hóa- kinh tế- xã hội” (ICOMOS)
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu hƣớng vào việc quy
hoạch, lập trình, thiết kế các tour lữ hành tham quan các công trình văn hóa
cổ kim”.1
“Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa trên cở sở khai thác các giá trị
di sản văn hóa dân tộc và đƣợc tổ chức một cách có văn hóa” 2.
Ở nhiều nƣớc, nhất là Đông Nam Á, về mặt lý thuyết ngƣời ta xếp loại
hình du lịch văn hóa (Cultural Tourism) vào loại hình du lịch sinh thái (Eco
Tourism) bởi cho rằng sinh thái học (Escology) bao gồm cả sinh thái học và
nhân văn học (Human Ecology).
Nhƣ vậy du lịch văn hóa là một loại hình du lịch lấy việc khai thác tài
nguyên văn hóa làm mục đích, khai thác các giá trị văn hóa vào phát triển và
1 Trần Thúy Anh, Nguyễn Thu Thủy, Nguyễn Thị Anh Hoa (2010), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, tr. 22.
2
Nguyễn Văn Bình (2005), Phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - một công cụ bảo vệ môi trƣờng tự
nhiên và môi trƣờng xã hội, Bảo vệ môi trƣờng du lịch, Tổng cục Du lịch, tr. 98.
13
bảo tồn một nguồn tài nguyên du lịch. du lịch văn hóa là một phƣơng tiện
truyền tải giá trị văn hóa của một địa phƣơng, một dân tộc, một quốc gia cho
du lịch khám phá, thƣởng ngoạn, giao lƣu và học tập. Nó góp phần đánh thức,
làm đậy lên những giá trị văn hóa. Thông qua du lịch, các tài sản văn hóa
đƣợc bảo vệ, tôn tạo và phục hồi những giá trị.
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Văn hóa vật thể là những sáng tạo của con
ngƣời, hiện hữu trong không gian và có thể cảm nhận bằng các giác quan, thị
giác, xúc giác. Chẳng hạn nhƣ di tích lịch sử văn hóa, hàng thủ công, dụng cụ
sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Còn văn hóa phi vật thể bao gồm
các lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp…, lại đƣợc cảm
nhận một cách gián tiếp và “vô hình”. Dƣới góc độ du lịch, ngƣời ta xếp các
yếu tố văn hóa vào tài nguyên du lịch văn hoá (phân biệt với tài nguyên tự
nhiên nhƣ biển, sóng, hồ, núi rừng, hang động…). Cùng với tài nguyên du
lịch văn hoá là một trong những điều kiện phát triển du lịch của mỗi quốc gia,
mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Giá trị của những di sản văn hóa cùng với những
thành tựu kinh tế, chính trị, xã hội …là đối tƣợng cho khách khám phá,
thƣởng thức. Bên cạnh đó nguồn tài nguyên này còn quyết định đến, quy mô,
thể loại, chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động du lịch của mỗi vùng, miền; là
một trong 8 yếu tố tạo nên sức hấp dẫn du lịch của một vùng du lịch (theo
quan niệm của Barbara Kirshenblatt).
Tuy nhiên không phải yếu tố văn hóa nào cũng trở thành tài nguyên du
lịch văn hoá. Chỉ có những tài nguyên có sức hấp dẫn với du khách và có thể
khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trƣờng mới
đƣợc gọi là tài nguyên du lịch văn hoá. Chỉ những sản phẩm văn hóa nào có
giá trị phục vụ du lịch mới đƣợc coi là tài nguyên du lịch văn hoá. Vì vậy tài
nguyên du lịch văn hoá thƣờng là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của
mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia.
Tài nguyên du lịch văn hoá có những tính chất chung là: Đa dạng (làm
phong phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút khách), Độc đáo (có nét riêng,
đặc trƣng), Không dịch chuyển (ngay cả có những sản phẩm dự phòng cũng
không thể thay thế đƣợc), và Dễ tổn thất. Trong khi tài nguyên du lịch tự
nhiên tạm coi là vô hạn (vô hạn tƣơng đối) thì tài nguyên du lịch văn hoá và
15
http://en.wikipedia.org/wiki/Tourist destination
16
hóa của điểm đến du lịch, hay di sản thiên nhiên, hay cảnh quan đẹp… Dần
dần theo thời gian, điểm đến trở nên nổi tiếng hơn. Khi đó có thể nói điểm
đến đang trong quá trình phát triển, cùng với việc mở rộng số lƣợng dân cƣ và
du khách tới thăm. Theo thời gian, điểm đến có thể thay đổi rất nhiều. Đƣơng
nhiên, sẽ tới một thời điểm cần có những quyết định đúng đắn để ngăn chặn
nguy cơ xuống cấp và duy trì đặc điểm cốt lõi của điểm đến, cũng nhƣ phải có
những chiến lƣợc để đối phó với những đổi thay sâu sắc, lâu dài đối với nó
Nhƣ vậy có thể hiểu điểm đến du lịch văn hóa là nơi tập trung vào một
loại tài nguyên nhân văn nào đó, phục vụ du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa;
và có nguồn thu từ du lịch. Điểm đến du lịch văn hóa cũng có vòng đời nhƣ
một điểm đến du lịch.
1.1.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa
Cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò đặc biệt đối với du lịch nói chung và
du lịch văn hóa nói riêng, là cơ sở để đảm bảo cho việc hoạt động du lịch một
cách hiệu quả.
Theo nghĩa rộng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đƣợc hiểu là toàn bộ
các phƣơng tiện vật chất kỹ thuật đƣợc huy động tham gia vào việc khai
thác tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa, thỏa
mãn các nhu cầu của du khách trong chuyến hành trình của họ. Theo cách
hiểu này, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bao gồm các cơ sở vật chất kỹ
thuật cuả bản thân ngành du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của một số
ngành kinh tế khách nhƣ mạng lƣới và phƣơng tiện giao thông vận tải, hệ
thống thông tin liên lạc, công trình cung cấp điện nƣớc tham gia phục vụ
du lịch…những cơ sở này đƣợc gọi chung là yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng xã
hội, giữ vai trò đảm bảo điều kiện chung cho việc phát triển du lịch. Điều
Sản phẩm văn hóa đƣợc sinh ra trƣớc sản phẩm du lịch. Văn hóa là do
con ngƣời tạo ra, vì thế mọi sản phẩm văn hóa đều thuộc về con ngƣời. Ở đâu
có con ngƣời thì ở đó có sản phẩm văn hóa.
18
“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra hàng hóa, hàng hóa
mang tính đặc thù cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để
phục vụ những nhu cầu của các đối tƣợng du khách khác nhau. Nó phải phù
hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế, đồng thời kế thừa
những giá trị văn hóa đặc trƣng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục
tiêu kinh tế- xã hội đối với các cá nhân, tổ chức và địa phƣơng nơi đang diễn
ra các hoạt động kinh doanh du lịch”. Sản phẩm du lịch trƣớc hết là sản phẩm
văn hóa. Hai loại sản phẩm này có mối quan hệ mật thiết vơi nhau, đƣợc thể
hiện nhƣ sau6:
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa sản phẩm văn hóa và sản phẩm du lịch
Sản phẩm văn hóa
Sản phẩm du lịch
Bề vững, tính bất biến cao
Thích ứng, tính khả biến cao
Mang nặng dấu ấn của cộng đồng Mang nặng dấu ấn của cá nhân, nhà
dân cƣ bản địa
tổ chức, khai thác
không gian không xác định
Sản phẩm mang nặng định tính, khó Định tính, định lƣợng, đƣợc thể hiện
xác định định lƣợng. Giá trị của sản qua thời gian hoạt động. Giá trị của
phẩm mang tính vô hình, thể hiện sản phẩm là hữu hình, biểu hiện
qua ấn tƣợng, cảm nhận…
thông qua những chỉ số kinh tế thu
đƣợc.
Trên thực tế, du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang bản chất và
nội dung văn hóa sâu sắc. Trên cơ sở văn hóa dân tộc, vùng miền, nguồn tài
nguyên nhân văn phong phú, hoạt động du lịch luôn đem đến cho du khách
những giá trị nhân văn đặc sắc, mang sắc thái bản địa. Sản phẩm văn hóa chỉ
trở thành sản phẩm du lịch khi nó tham gia vào quá trình của hoạt động kinh
doanh du lịch, phục vụ các nhu cầu khác của khách du lịch. Khi đó, nó đƣợc
gọi tên là sản phẩm du lịch văn hóa, tạo thành một hợp thành của các chƣơng
trình du lịch văn hóa để thỏa mãn nhu cầu của du khách tham gia loại hình du
lịch này. Có xuất xứ từ sản phẩm văn hóa, nhƣng sản phẩm du lịch văn hóa
mang nhiều đặc trƣng của sản phẩm du lịch. Chúng đã trở thành hàng hóa
phục vụ kinh doanh, đem lại lợi ích kinh tế. Tuy nhiên từ thực tế của hoạt
động kinh doanh du lịch cho thấy, tất cả các sản phẩm du lịch đều là sản phẩm
văn hóa nhƣng không phải sản phẩm văn hóa nào cũng trở thành sản phẩm du
lịch. Có những sản phẩm văn hóa không nên và không thể trở thành sản phẩm
du lịch.
Vậy sản phẩm du lịch văn hóa là sản phẩm du lịch khai thác những giá
trị văn hóa, sử dụng tài nguyên du lịch văn hóa trong hoạt động của mình,
khác biệt với sản phẩm du lịch tự nhiên. Sản phẩm du lịch văn hóa cũng khác
với sản phẩm văn hóa ở chỗ: sản phẩm văn hóa để cung ứng cho con ngƣời
nói chung, còn sản phẩm du lịch văn hóa chỉ cung cấp cho khách du lịch có
7
Nguyễn Quang Vinh (2007), Quy trình xây dựng sản phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, Hội thảo khoa
học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”, tr.91.
8
Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Du lịch, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.2
9
Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.20.
21
Từ đó có thể khái quát rằng khách du lịch với mục đích văn hóa, trƣớc
hết có đầy đủ những yếu tố của khách du lịch, là những du khách có mối quan
tâm tới đối tƣợng văn hóa, khai thác, thƣởng thức các sản phẩm văn hóa. Họ
là những ngƣời từ nơi khác đến với mục đích thẩm định các giá trị tại chỗ,
những giá trị vật chất, hữu hình hay vô hình của các tài nguyên văn hóa của
cộng đồng xã hội nhất định, giống nhƣ các lại hình du lịch khác, khách du lịch
đi với mục đích văn hóa có thể đi với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, phục hồi
tâm sinh lý; hay đi với mục đích tìm hiểu, học tập về văn hóa; hoặc đi du lịch
kết hợp với mục đích công vụ, hội nghị hội thảo. Với mỗi mục đích khác nhau
thì du khách có những nhu cầu, sở thích khác nhau tƣơng ứng.
1.1.7 Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa
Cùng với sự phát triển không ngừng của ngành du lịch, các di sản văn
hóa (bao gồm di sản vật thể và di sản phi vật thể) đều đã và đang trở thành
nguồn tài nguyên quan trọng, đƣợc ngành du lịch chú ý khai thác. Vì thế, cần
khẳng định rằng, hiệu quả to lớn mà du lịch đạt đƣợc trong nhiều năm qua
không thể tách rời việc khai thác những giá trị đặc sắc của kho tàng di sản văn
hóa cộng đồng.
Tổ chức, quản lý du lịch văn hóa và quản lý di sản đƣợc coi là điểu kiện