Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh Thái Bình - Pdf 18

1
Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh
Thái Bình

Phạm Thị Bích Thủy

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Du lịch học
Chuyên ngành: Du lịch; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng
Năm bảo vệ: 2011

Abstract. Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch văn hóa như: tài nguyên du lịch nhân
văn, điểm đén du lịch văn hóa, thị trường, nguồn khách .... để từ đó xây dựng sản
phẩm văn hóa thành sản phẩm du lịch, tổ chức thực hiện và quản lý nhằm mục đích
phát triển du lịch và bảo tồn văn hóa. Đánh giá thực trạng khai thác sản phẩm du lịch
văn hóa của tỉnh Thái Bình. Nêu ra những đề xuất góp phần phát triển du lịch văn hóa
và bảo tồn di sản văn hóa tỉnh Thái Bình.

Keywords. Du lịch; Du lịch văn hóa; Thái Bình ; Phát triển du lịch

Content.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch văn hóa đã và đang trở thành xu hướng phổ
biến của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực, đặc biệt là với những nước đang phát
triển khi mà nền tảng, quy mô, nguồn lực không lớn, chưa có đủ thế mạnh trong việc
xây dựng những điểm du lịch đắt tiền, những trung tâm giải trí tầm cỡ và hiện đại. Đối
với nước ta, du lịch văn hóa cũng được xác định là một trong những loại hình du lịch

Bình.
- Nêu ra những đề xuất góp phần phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn di sản
văn hóa tỉnh Thái Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là:
○ Các di sản văn hóa, tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn
tỉnh Thái Bình (di tích lịch sử, công trình kiến trúc nghệ thuật, di tích cách mạng, lễ
hội dân gian…).
3
○ Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Thái Bình trong vai trò là cơ quan chủ
quản để thực hiện, quản lý các hoạt động du lịch văn hóa, xúc tiến, quảng bá và phát
triển loại hình du lịch văn hóa ở tỉnh.
○ Các điều kiện thuận lợi và khó khăn trong mục đích đưa di sản văn hóa
thành một trong những nguồn tài nguyên du lịch ở Thái Bình, phát triển du lịch văn
hóa trở thành một loại hình du lịch chủ đạo của tỉnh.
○ Các kinh nghiệm trong việc bảo tồn, phục hồi, khai thác tài nguyên văn hóa
vào mục đích kinh doanh du lịch.
- Phạm vi nghiên cứu:
○ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thực tế hoạt động khai thác sản phẩm
du lịch văn hóa trên địa bàn các huyện, thành phố của tỉnh Thái Bình.
○ Phạm vi về thời gian: số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm năm 2000 đến
nay, các định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa của tỉnh và các giải pháp
được đưa ra cho thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp sau để thực hiện nghiên cứu:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu
- Phương pháp thông kê, phân loại, so sánh
- Phương pháp khảo sát thực địa
5. Bố cục luận văn
Luận văn gồm 116 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham

(Human Ecology).
Dù tiếp cận dưới góc độ nào thì du lịch văn hóa cũng là một lĩnh vực hoạt
động của du lịch, lấy việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn là mục đích để tạo ra
sản phẩm đáp ứng nhu cầu thưởng thức những giá trị văn hóa của du khách.
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
Du lịch văn hóa sử dụng văn hóa như là nguồn lực, hay nói cách khác, văn hóa
là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch, là “nguyên liệu” để hình thành nên hoạt động
du lịch. Không có tài nguyên du lịch văn hóa thì không có loại hình du lịch văn hóa.
Các tài nguyên này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tuyến du lịch,
các điểm du lịch và khơi gợi trí tò mò của du khách.
Tài nguyên du lịch văn hóa gồm 2 loại cơ bản: tài nguyên vật thể và tài
nguyên phi vật thể. Tài nguyên văn hóa vật thể là những sáng tạo của con người tồn
tại, hiện hữu trong không gian mà có thể cảm nhận bằng các giác quan như thị giác,
xúc giác. Chẳng hạn, đó là những di tích lịch sử văn hóa, những mặt hàng thủ công,
các công cụ trong sinh hoạt, sản xuất, các món ăn dân tộc… Tài nguyên văn hóa phi
5
vật thể như lễ hội, các loại hình nghệ thuật, cách ứng xử, giao tiếp… lại được cảm
nhận một cách gián tiếp và “vô hình” hơn.
Tài nguyên du lịch nhân văn có những tính chất chung là: Đa dạng (làm phong
phú sản phẩm du lịch), Hấp dẫn (thu hút du khách), Độc đáo (là nét riêng có, đặc
trưng), Không dịch chuyển (ngay cả khi có các sản phẩm mô phỏng cũng không thay
thế được), và Dễ tổn thất. Trong khi tài nguyên du lịch tự nhiên tạm coi là vô hạn (tất
nhiên, vô hạn tương đối) thì tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội lại là hữu hạn (cần
bảo vệ để khai thác lâu dài). Tài nguyên du lịch nhân văn còn mang những đặc điểm
chung như có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên, tài nguyên tự nhiên, với các
điều kiện kinh tế - xã hội, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, quy luật văn
hóa… Vì vậy, mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương thường hiện hữu tài nguyên du
lịch nhân văn mang tính đặc sắc, độc đáo riêng để hấp dẫn du khách. Tính chất của tài
nguyên du lịch nhân văn là tạo nên sự hứng thú đối với du khách về nhu cầu tìm hiểu
lịch sử, tìm về cội nguồn, góp phần làm nảy sinh, thúc đẩy động cơ đi du lịch nói

bungalow…
- Mạng lưới cửa hàng chuyên nghiệp: bao gồm mạng lưới cửa hàng thuộc các
trung tâm du lịch và mạng lưới thương nghiệp địa phương.
- Cơ sở thể thao: gồm công trình thể thao, phòng thể thao, trung tâm thể
thao…
- Cơ sở y tế: gồm phòng y tế, trung tâm chữa bệnh… nhằm phục vụ du lịch
chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch.
- Các công trình phục vụ hoạt động thông tin văn hóa như trung tâm văn hóa,
rạp chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm…
- Ngoài ra còn có các công trình bổ trợ khác.
Như vậy, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch văn hóa chính là cơ sở vật chất
của các điểm du lịch văn hóa, di sản văn hóa, doanh nghiệp kinh doanh về du lịch văn
hóa…
1.1.5. Sản phẩm du lịch văn hóa
Sản phẩm văn hóa được sinh ra trước sản phẩm du lịch. Ở đâu có con người, ở
đó có văn hóa, có sản phẩm văn hóa.
“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang
tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những
nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề
nghiệp theo thông lệ quốc tế; đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản
địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối với các cá nhân, tổ chức
7
và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch”. Sản phẩm du lịch
trước hết là sản phẩm văn hóa và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
1.1.6. Khách du lịch văn hóa
“Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến”.
Từ định nghĩa về khách du lịch nói chung có thể hiểu rằng khách du lịch văn
hóa là người từ nơi khác đến với mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị vật chất,
tinh thần, hữu hình hay vô hình của các di sản văn hóa của một cộng đồng xã hội nhất

văn hóa, tuyến du lịch văn hóa…
- Đối với cơ sở, đơn vị kinh doanh du lịch:
Thực hiện các hoạt động của đơn vị, tuân thủ các quy định của nhà nước và
hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương đó.
1.1.8. Bảo tồn di sản văn hóa trong du lịch
Giữa văn hóa và du lịch luôn luôn có mối quan hệ biện chứng và trực tiếp. Sự
phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo tồn các
di sản văn hóa bằng nguồn thu từ hoạt động du lịch. Nhưng sự bùng nổ số lượng khách
tham quan, sự phát triển các dịch vụ thiếu kiểm soát, sự buôn bán trái phép đồ cổ, sự
mai một văn hóa truyền thống do giao lưu, tiếp xúc… đang là mối nguy cơ đối với các
di sản này.
Các nhà nghiên cứu đã xây dựng quy trình bảo tồn di sản. Và trong kinh doanh
du lịch, việc bảo tồn di sản cần phải được xác định là trách nhiệm của các bên tham gia
vào hoạt động du lịch; đó là: Chính quyền địa phương, Doanh nghiệp kinh doanh du
lịch, du khách và người dân địa phương.
1.2. Những bài học kinh nghiệm trong nghiên cứu, phát triển du lịch văn hóa
1.2.1. Bài học kinh nghiệm nước ngoài
Du lịch văn hóa, ngày nay đang trở thành xu hướng phát triển của nhiều quốc gia
trên thế giới. Loại hình du lịch này được coi là mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng xã
hội theo định hướng phát triển bền vững đồng thời làm hồi sinh các di sản và sống lại
nhiều phong tục, truyền thống tốt đẹp cổ xưa. Việc tìm hiểu cách thức tổ chức du lịch văn
hóa của những địa phương, quốc gia trên thế giới sẽ là bài học quý cho việc tiến hành,
triển khai du lịch ở nước ta. Như khai thác du lịch văn hóa và việc giữ gìn văn hóa dân
gian của người dân các bộ lạc vùng Iqaluit - Canada; hay việc chấn hưng văn hóa truyền
thống và bảo tồn kiến trúc ở cố đô Luang Prabang ở Lào; hoặc việc phát triển mô hình
làng văn hóa dân tộc ở Hàn Quốc… sẽ là những kinh nghiệm quý báu cho những quốc gia
đang phát triển lấy du lịch văn hóa làm thế mạnh như Việt Nam.
9
1.2.2. Bài học kinh nghiệm trong nước
Ở Việt Nam cũng có những địa phương thực hiện thành công việc đưa văn hóa

làm nên bản sắc riêng; song đó vẫn là những kinh nghiệm quý báu, những định
10
hướng có giá trị khoa học và thực tiễn cho Thái Bình trong quá trình phát triển.
Đây cũng là chương viết hình thành cơ sở lý luận, soi sáng những nội dung nối tiếp
ở những chương sau của đề tài.

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA
TỈNH THÁI BÌNH

2.1. Khái quát về Thái Bình
Thái Bình nằm ở phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách thủ đô Hà
Nội hơn 100km, là tỉnh đồng bằng ven biển, Thái Bình có diện tích 1545km
2
, với dân
số trên 1.785.000 người. Mảnh đất này được coi là địa linh nhân kiệt. Trải qua bề dày
lịch sử, người dân Thái Bình đã tạo dựng hàng ngàn di sản văn hóa. Thái Bình hiện
còn 2176 di tích văn hóa, bao gồm: 601 ngôi đình, 738 ngôi chùa, 538 miếu thờ, 22
văn chỉ, 26 lăng mộ, 173 từ đường nhà thờ họ, 7 nhà lưu niệm, 59 phủ điện và quán,
12 địa danh lịch sử. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội cùng nguồn tài nguyên
nhân văn phong phú đã trở thành nguồn lực tốt cho phát triển du lịch tỉnh Thái Bình, đặc
biệt là loại hình du lịch văn hóa.
2.2. Tài nguyên du lịch văn hóa
2.2.1. Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể
2.2.1.1. Di tích lịch sử
- Di tích cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng: Một trong những di tích lịch sử
tiêu biểu của thời kỳ lịch sử này là đền Tiên La (Hưng Hà) thờ nữ tướng Vũ Thị Thục.
- Di tích về Lý Nam Đế và nhà nước Vạn Xuân: Đình Tử Các - miếu Đồn
(Thái Thụy), miếu Hai Thôn (Vũ Thư), đình và đền Cổ Trai (Hưng Hà)…
- Di tích nhà Đinh: Các di tích phản ánh về thời kỳ này tiêu biểu là đình Lạc
Đạo (thành phố Thái Bình), từ đường Bùi Quang Dũng (Vũ Thư), miếu Ba Thôn (Thái

2.2.2. Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể
2.2.2.1 Lễ hội dân gian
Lễ hội truyền thống đã có và hiện còn ở Thái Bình đáng được xem là tiêu biểu
về số lượng, đa dạng về loại hình. Lễ hội truyền thống Thái Bình được phân bố với
mật độ cao vào những tháng nông nhàn, tập trung nhiều vào tháng Tư và tháng Chín.
Hội làng Thái Bình có nội dung khá phong phú, có đủ mọi loại hình (lễ hội
nông nghiệp, lễ hội tôn giáo, lễ hội lịch sử, lễ hội làng nghề…) và ở loại hình nào cũng
có thể tìm được những hội đặc sắc, hấp dẫn. Về cơ bản, lễ hội ở Thái Bình có bốn nội
12
dung: tái hiện cuộc sống nông nghiệp, ttôn vinh các anh hùng dân tộc, tái hiện phong
tục, tín ngưỡng, hội thi tài.
2.2.2.2. Nghệ thuật biểu diễn truyền thống
Nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Thái Bình vừa phong phú vừa đặc sắc,
mang đậm yếu tố lịch sử và trữ tình, tiêu biểu:
- Nghệ thuật chèo: Thái Bình nổi tiếng với ba vùng chèo là chèo Hà Xá (Hưng
Hà), chèo Khuốc (Đông Hưng) và chèo Sáo Đền (Vũ Thư). Đây là những dòng chèo
đặc trưng của địa phương.
- Múa rối nước: Có 7 phường hội cổ truyền ở các làng Nguyễn, Tăng, Tuộc, Đống,
Kỳ Hội, Bắc Lạng, Tây Trong, Tây Ngoài của huyện Đông Hưng; mà nay nổi tiếng hơn cả là
làng Nguyên Xá.
- Các điệu múa dân gian mang sắc thái phồn thực, bản địa như: múa ông Đùng
bà Đà, múa Đánh Bệt, múa Bát Dật, múa Giáo Cờ Giáo Quạt, múa Sênh Tiền, múa
Trống – Trắc…
2.2.2.3. Nghề và làng nghề truyền thống
Thái Bình là đông dân cư, nên bên cạnh nghề nông truyền thống, người dân
nơi đây từ lâu đã học hỏi và làm thêm các nghề thủ công để đảm bảo cuộc sống. Bởi
vậy, Thái Bình được biết đến là tỉnh có số lượng làng nghề lớn so với các tỉnh đồng
bằng. Theo thống kê mới nhất, Thái Bình có 210 làng nghề, tập trung nhiều ở các
huyện Vũ Thư, Hưng Hà, Kiến Xương, Tiền Hải, trong đó có nhiều làng nghề có tiềm
năng phát triển du lịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status