tiểu luận cao học Trình bày lý thuyết về tuần hoàn và chu chuyển tư bản ý nghĩa thực tiễn rút ra khi nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - Pdf 37

1

A. Phần mở đầu
Phát triển và hội nhập là một trong những xu thế lớn của thời đại. Đối với
Việt Nam, nhất là trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, đa
nền kinh tế đi lên theo định hớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập cùng nền kinh tế
thị trờng thế giới là nhiệm vụ rất quan trọng. Đó không chỉ là thời cơ, điều
kiện cần thiết để sản phẩm hàng hoá của Việt Nam đợc có mặt nhiều hơn trên
thị trờng quốc tế mà còn là thử thách lớn về nhiều mặt đối với các doanh
nghiệp và doanh nhân Việt Nam.
Tại Đại hội VI ban chấp hành trung ơng Đảng đã quyết định một bớc
ngoặt vĩ đại đối với đất nớc đặc biệt là việc quyết định đa nền kinh tế chuyển
sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN.
Để khẳng định vai trò quan trọng của các doanh nghiệp trong phát triển kinh
tế, Nhà nớc ta đã và đang khuyến khích thành lập các doanh nghiệp theo hiến
pháp và pháp luật Việt Nam quy định. Nhng khi chuyển sang nền kinh tế thị
trờng các doanh nghiệp Việt Nam đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc sản
xuất, lu thông, tìm kiếm đối tác và thị trờng, đòi hỏi nhà nớc phải có sự hỗ trợ,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển. Sản xuất đóng vai trò quan trọng
trong hoạt động của doanh nghiệp, trong đó ba vấn đề: sản xuất cái gì? sản
xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? đặt ra các doanh nghiệp trong suốt quá trình
hoạt động sản xuất, vốn, hàng hoá hoạt động hiệu quả hay không là do quá
trình sản xuất, lu thông có tuần hoàn không. Vai trò sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp rất quan trọng, nó tạo ra một cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã
hội cho nên đòi hỏi nhà nớc phải có sự quản lý hợp lý tạo điều kiện tốt nhất để
doanh nghiệp cạnh tranh đợc trên thị trờng quốc tế. Khó khăn rất nhiều và đòi
hỏi phải có một cơ sở lý luận để dẫn đờng có tác động tích cực thúc đẩy sản
xuất phát triển, mở rộng. Đó cũng là lý do em chọn đề tài: Trình bày lý
thuyết về tuần hoàn và chu chuyển t bản. ý nghĩa thực tiễn rút ra khi
nghiên cứu lý thuyết này đối với việc quản lý các doanh nghiệp của nớc ta
khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN cho đề án Kinh tế

hơn lợng đầu t ban đầu. Theo Mác - Lênin thì: Tuần hoàn của t bản là sự biến
chuyển liên tiếp của t bản qua ba giai đoạn, trải qua ba hình thức, thực hiện ba
chức năng tơng ứng, để trở về hình thái ban đầu với lợng giá trị lớn hơn(1).
2. Ba hình thức tuần hoàn của t bản.
2.1. Tuần hoàn của t bản tiền tệ.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản tiền tệ:
T - H...SX... H - T
Giai đoạn đầu T - H tức là nhà t bản dùng t bản tiền tệ ứng ra ban đầu để
mua hàng hoá ở trên hai thị trờng đó là thị trờng sức lao động và thị trờng t
liệu sản xuất (đó là những nhân tố của sản xuất).
Slđ (sức lao động)
T-H
TLSX(t liệu sản xuất)
Nh vậy tiền của nhà t bản phải chia làm hai phần theo tỷ lệ thích hợp:
Một phần mua sức lao động, một phần mua t liệu sản xuất. Sau khi mua đợc
hàng hoá (Slđ - TLSX) thì t bản đã trút bỏ hình thái tiền tệ mà mang hình thức
hiện vật. Với hình thức hiện vật đó nó không thể tiếp tục lu thông đợc. Nhà t
bản phải đa hàng hoá vào trong quá trình sản xuất, để tạo ra hàng hoá cung
cấp cho thị trờng thì toàn bộ công nhân phải tham gia vào quá trình sản xuất
(1)

Kinh tế chính trị: NXB giáo dục - 1998, trang 102
3


4

để tạo ra sản phẩm. Kết quả là nhà t bản có đợc một số hàng hoá mới mà giá
trị của chúng lớn hơn giá trị của những nhân tố đã dùng để sản xuất ra số hàng
hoá đó. Hàng hoá này (H) có thể cạnh tranh đợc ở trên thị trờng, đáp ứng đợc


4


5

tuần hoàn đó mở đầu trở lại sự vận động. Mặt khác toàn bộ lu thông biểu hiện
ra dới hình thái ngợc lại với hình thái mà nó mang tròn tuần hoàn của t bản
tiền tệ.Nến không nói đến đại lợng giá trị thì hình thái của nó trong tuần hoàn
của t bản tiền tệ là: T - H - T (T - H . H - T); nếu nói đến đại dợng giá trị thì
hình thái của nó là: H - T - H tức là hình thái lu thông giản đơn của hàng hoá.
Tái sản xuất giản đơn.
Điểm xuất phát của lu thông giữa hai cực Sx....Sx là t bản - hàng hoá: H
= H + h = Sx + h. Trớc kia chức năng của t bản hàng hoá H - T là giai đoạn
thứ hai của lu thông bị gián đoạn và là giai đoạn kết thúc của tổng tuần hoàn.
Bây giờ nó là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn nhng lại là giai đoạn thứ nhất
của lu thông. Tuần hoàn thứ nhất kết thúc bằng T và cũng có thể trở lại mở
đầu tuần hoàn thứ hai với t cách là t bản - tiền tệ. Tính chất của tuần hoàn thay
đổi các cách giải quyết để biết đợc công thức mà ta đang xét đại biểu cho tái
sản xuất giản đơn hay mở rộng. Nếu xét tái giản đơn của t bản sản xuất, nếu
mọi tình hình khác không thay đổi và hàng hoá đợc mua vào và bán ra theo
đúng giá trị của chúng thì toàn bộ giá trị thặng d sẽ đi vào tiêu dùng cá nhân
của nhà t bản. Sau khi t bản - hàng hoá H đã chuyển hoá thành tiền, thì bộ
phận của tổng số tiền đại biểu cho giá trị - t bản vẫn tiếp lu thông trong tuần
hoàn của t bản công nghiệp; còn bộ phận kia, tức giá trị thặng d đã chuyển
hoá thành tiền, thì đi vào lu thông chung của hàng hoá.
Trong hành vi H- T giá trị t bản và giá trị thặng d nằm trong H, cả hai
đều có thể tồn tại tách riêng ra đợc, tức là tồn tại thành những số tiền riêng
biệt; trong cả hai trờng hợp T và t đều là hình thái chuyển hoá của cái giá trị
mà lúc đầu, ở H với t cách là giá cả hàng hoá, có một biểu hiện riêng của nó,

thành.
H - T, giai đoạn thứ hai của lu thông và giai đoạn cuối cùng của tuần
hoàn I ( T...T), lại là giai đoạn thứ hai của tuần hoàn của chúng ta, và là giai
đoạn thứ nhất của lu thông hàng hoá. Do đó về mặt lu thông mà nói thì H - T
cần đợc bổ sung bằng T - H. Nhng H - T không những đã xảy ra sau quá
trình làm tăng thêm giá trị mà còn là kết quả của nó, nhờ hành vi ấy sản phẩm
- hàng hoá H đã đợc thực hiện rồi. Nh vậy là quá trình làm cho t bản tăng
thêm giá trị, cũng nh việc thực hiện sản phẩm - hàng hoá đại biểu chio giá trị
t bản đã tăng thêm giá trị đều kết thúc bằng H - T.
Trong lu thông của thu nhập của nhà t bản, hàng hoá đã đợc sản xuất ra,
tức là h trên thực tế chỉ đợc dùng để đợc chuyển hoá thu nhập ấy trớc hết
thành tiền, rồi lại từ tiền thành một hàng hoá khác phục vụ cho tiêu dùng cá
nhân. Nhng ở đây chúng ta không nên bỏ qua một việc nhỏ này: h là một giá
trị hàng hoá không tốt gì cho nhà t bản cả, nó là hiện thân của lao động thặng
d, chính vì thế mà nó xuất hiện lúc ban đầu với t cách là một thành phần của
t bản - hàng hoá H. Bởi vậy chỉ có một sự tồn tại của thân nó, h này cũng đã
gắn liền với tuần hoàn của giá trị - t bản đang tiến hành quá trình của mình;
nếu tuần hoàn ấy bì đình chỉ hoặc xảy ra một sự rối loạn nào đó nói chung, thì
không phải chỉ việc tiêu dùng h, mà đồng thời cả việc tiêu thụ cái loạt hàng
hoá đem trao đổi với h, cũng đều bị thu hẹp lại hoặc đình chỉ hẳn, h - t - h chỉ
gia nhập lu thông của t bản chừng nào mà h còn là một phần giá trị của H.
6


7

Mối quan hệ giữa tuần hoàn của t bản với t cách là một bộ phận của lu
thông chung, và tuần hoàn của t bản với t cách là một trong những khâu của
một lu thông độc lập, cũng biểu lộ ra khi chúng ta tiếp tục xem xét lu thông
của T = T + t. Là t bản tiền tệ, T tiếp tục tuần hoàn của t bản; t bị tiêu dùng đi

đó ngay từ đầu, nó xuất hiện thành sự chuyển hoá của t bản sản xuất sản xuất
thành tiền thực hiện đợc nhờ việc bán sản phẩm hàng hoá. T biểu hiện thành
hình thái chuyển hoá của H, bản thân H này là sản phẩm hoạt động trớc đây
của Sx, vì thế toán bộ số tiền T thể hiện thành biểu hiện tiền tệ của một lao
động đã qua.
Slđ
Thứ hai, trong lu thông H - T - H
thay đổi vị trí hai lần:

Tlsx

7

cũng những đồng tiền ấy


8

Thoạt tiên nhà t bản thu chúng với t cách là ngời bán, rồi lại bỏ chúng ra
với t cách là ngời mua, việc chuyển hoá hàng hoá thành hình thái tiền chỉ là
dùng để chuyển hoá hàng hoá đó từ hình thái tiền trở lại hình thái hàng hoá.
Thứ ba, vô luận là t bản tiền tệ đợc dùng đơn thuần làm phơng tiện lu
thông, hay làm phơng tiện thanh toán thì hoạt động của nó cũng chỉ là thay
thế H bằng Slđ và Tlsx.
Muốn cho tuần hoàn đợc tiến hành bình thờng, thì H phải bán đúng theo
giá trị của nó và bán toàn bộ. Hơn nữa, H - T - H không những bao hàm việc
thay thế một hàng hoá này bằng một hàng hoá khác, mà còn bao hàm việc
thay thế hàng hoá ấy theo những tỷ lệ giá trị giống nhau. Chúng ta đã giả định
rằng ở đây tình hình diễn ra đúng nh vậy. Nhng trên thực tế, giá trị của t liệu
sản xuất thờng thay đổi; điểm cố hữu của nền sản xuất t bản chủ nghĩa là ở

trình ấy, nh là việc lặp lại quá trình ấy, do đó nh là bớc mở màn cho quá trình
tái sản xuất, và vì vậy mở màn cho việc lặp lại quá trình làm tăng thêm giá trị.
Một lần nữa T - Slđ là việc mua bán hàng hoá sức lao động dùng để sản
xuấta ra giá trị thặng d, còn T - Tlsx là một công việc không thể thiếu đợc về
mặt vật chất để đạt đợc mục đích đó. Sau khi T - H
Slđ
hoàn thành,thì T đợc chuyển hoá thành t bản sản xuất thành Sx
và tuần hoàn
TLSX
lại bắt đầu trở lại.
Do đó, hình thái đầy đủ của Sx... H - T - H... Sx là:
H
SX... H +
h

- T
+
- t

Slđ

-H

TLSx...Sx

-h

Việc chuyển hoá t bản - tiền tệ thành t bản sản xuất là việc mua hàng hoá
nhằm sản xuất ra hàng hoá. Chỉ khi nào sự tiêu dùng là tiêu dùng sản xuất nh
thế nào thì nó mới gia nhập vào tuần hoàn của bản thân t bản; điều kiện của sự

Vì các tỷ lệ theo đó quá trình sản xuất cos thể mở rộng ra không phải đợc
định đoạt một cách tuỳ tiện mà là do một nền kỹ thuật nhất định quy định, cho
nên giá trị thặng d đã thực hiện, tuy đợc dành để t bản hoá, nhng lắm lúc chỉ
nhờ sự lắp đi lắp lại của một số tuần hoàn, mới có thể đạt tới quy mô có thể
thực tế làm chức năng t bản phụ thêm, hay gia nhập vào tuần hoàn của giá trị
t bản đang hoàn thành quá trình của mình.
Nếu trong các giao dịch của nhà t bản nói trên, tiền làm chức năng phơng tiện thanh toán (thành thử ngời mua chỉ phải trả tiền cho hàng hoá sau
một kỳ hạn hoặc dài hoặc ngắn), thì sản phẩm thặng d dùng để biến thành t
bản không chuyển hoá thành tiền mà chuyển hoá thành trái vụ, thành chứng từ
về quyền sở hữu đối với một vật ngang giá mà có thể là ngời mua đã có trong
tay, hoặc hy vọng đã có. Cũng hệt nh tiền đem gửi thành các chứng khoán có
lãi... sản phẩm thặng d đó không gia nhập vào quá trình tái sản xuất của t bản
thực hiện tuần hoàn ấy, mặc dù nó có thể gia nhập tuần hoàn của những t bản
công nghiệp cá biệt khác. Toàn bộ tính chất của sản xuất t bản chủ nghĩa đợc
quy định bởi việc làm tăng thêm giá trị của giá trị ứng trớc do đó trớc hết đợc
quyết định bởi việc sản xuất ra giá trị thặng d càng nhiều càng tốt.
Trớc hết, khi xem xét tái sản xuất giản đơn, chúng ta đã giả định rằng
toàn bộ giá trị thặng d bị chi tiêu đi với t cách là thu nhập. Trên thực tế, trong
những điều kiện bình thờng, một bộ phận giá trị thặng d bao giờ cũng phải bị
tiêu với t cách là thu nhập, còn một bộ phận khác phải đợc t bản hoá, hơn nữa
số giá trị thặng d đợc sản xuất ra trong từng thời kỳ nhất định, khi thì bị chi
tiêu toàn bộ, khi thì đợc t bản hoá toàn bộ, điều đó không hoàn toàn quan
trọng. Xét trung bình và công thức chung có thể biểu hiện đợc sự vận động
trung bình mà thôi:

Sld.... Sx biểu thị một t bản sản xuất đợc tái sản
Sx.... H - T- H
Tlsx xuất trên quy mô mở rộng, với t cách là t bản
có một giá trị lớn hơn, và sau đó nó bắt đầu tuần hoàn thứ hai của nó, hoặc 10


cuộc vận động: việc làm tăng giá trị - t bản đợc thực hiện dới hình thái hàng
hoá hay dới hình thái tiền; vì vậy chúng biểu hiện giá trị - t bản thành T + t,
hoặc thành H +h.
Một khi T hoặc H cố định thành T +t hoặc H + h, tức là cố định lại dới
dạng quan hệ giữa giá trị - t bản với giá trị thặng d, con đẻ của giá trị - t bản,
thì mối quan hệ ấy biểu thị một lần dới hình thái tiền, lần kia dới hình thái
hàng hoá. Trong cả hai trờng hợp ấy, thuộc tính đặc trng của t bản, tức là thuộc

11


12

tính làm một giá trị đẻ ra giá trị. H bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng
sản xuất, và T bao giờ cũng chỉ là sản vật của chức năng sản xuất, và T bao
giờ cũng chỉ là hình thái của H đã trải qua một sự chuyển hoá trong tuần hoàn
của t bản công nghiệp. Vì thế, khi t bản - tiền tệ đã thực hiện làm trở lại chức
năng đặc thù của nó là t bản - tiền tệ, thì nó không còn biểu hiện mối quan hệ
t bản chứa đựng trong T = T+t nữa. Một khi T...T đã tiến hành xong rồi, và
một khi bắt đầu trở lại tuần hoàn, thì T không còn biểu hiện ra thành T nữa,
mà biểu hiện ra thành T, ngay cả trong trờng hợp ngời ta t bản hoá toàn bộ giá
trị thặng d chứa đựng trong T cũng vậy. Đối với tuần hoàn của t bản sản xuất,
số Sx đã lớn lên, khi bắt đầu trở lại tuần hoàn của nó, cũng chỉ xuất hiện với
t cách là Sx, giống nh Sx trong tái sản xuất giản đơn Sx... Sx nh vậy.
Slđ
Trong giai đoạn T - H
Tlsx , sự tăng thêm đại lợng giá trị chỉ
là do H biểu hiện ra, chứ không phải do Slđ và Tlsx biểu thị ra. Vì H là tổng
số của Slđ cộng với Tlsx, cho nên H cũng đã nói lên rằng tổng số của Slđ
cộng với Tlsx bao gồm ở trong nó lớn hơn Sx ban đầu.

thanh toán đã đợc nghiên cứu trong tuần hoàn Sx... Sx. Quỹ dự trữ là một bộ
phận cấu thành của t bản nằm trong giai đoạn chuẩn bị của sự tích luỹ của nó,
tức là một bộ phận cấu thành của giá trị thặng d cha chuyển hoá thành t bản
tích cực.
Quỹ tích luỹ bằng tiền vốn đã là sự tồn tại của t bản - tiền tệ tiềm năng,
do đó nó đã là sự chuyển hoá của tiền thành t bản - tiền tệ. Công thức chung
của tuần hoàn của t bản sản xuất.
Slđ
Sx...H - T. T - H

... Sx (Sx)
Tlsx

2.3. Tuần hoàn của t bản - hàng hoá.
Công thức chung của tuần hoàn của t bản hàng hoá là:
H - T - H...Sx... H
H không những là sản phẩm mà còn là tiền đề của hai tuần hoàn đã nói
ở trên, bởi vì cái là T - H của một t bản thì đã bao hàm H - T của một t bản
khác, ít ra là trong chừng mực bản thân một bộ phận t liệu sản xuất là sản
phẩm hàng hoá của những t bản cá biệt khác đang thực hiện tuần hoàn của
chúng.
Tuần hoàn của t bản - hàng hoá không phải bắt đầu đơn thuần bằng một
giá trị - t bản, mà bằng một giá trị - t bản đã đợc tăng lên và nằm dới hình thái
hàng hoá, do đó ngay từ đầu nó đã bao hàm tuần hoàn không những của giá trị
- t bản dới hình thái hàng hoá mà còn bao hàm cả tuần hoàn của cả giá trị
thặng d nữa. Trong mọi trờng hợp H thờng xuyên mở đầu tuần hoàn với t
cách là một t bản hàng hoá ngang với giá trị - t bản cộng với giá trị thặng d.
H với t cách là H xuất hiện trong tuần hoàn của một t bản công nghiệp cá

13

phối đặc thù về sản phẩm của một t bản - hàng hoá cá biệt, sự phân phối, một
mặt thành quỹ tiêu dùng cá nhân, và mặt khác thành quỹ tái sản xuất - đều
nằm trong tuần hoàn của t bản.
Trong T...T có khả năng mở rộng tuần hoàn theo đại lợng của các phần t
sẽ gia nhập tuần hoàn mới. Trong Sx...Sx, Sx có thể mở đầu tuần hoàn mới với

14


15

một giá trị nh cũ. Trong H...H, t bản dới hình thái hàng hoá là tiền đề của
sản xuất, và với t cách là tiền đề, hình thái đó lại quay trở lại cũng trong tuần
hoàn ấy. Cả ba tuần hoàn đều có điểm chung: t bản kết thúc quá trình tuần
hoàn của nó dới đúng cái hình thái mà nó mở đầu quá trình tuần hoàn đó, nhờ
thế nó lại mang hình thái ban đầu trong đó nó lại mở đầu một tuần hoàn giống
nh vậy. Hình thái của điểm xuất phát T, Sx, H đều đợc cho trớc đối với mỗi
tuần hoàn; hình thái lặp lại ở điểm kết thúc là hình thái bị gây nên, và do đó bị
quy định bởi một loạt những sự biến hoá hình thái cảu bản thân tuần hoàn. H
với t cách là điểm kết thúc một tuần hoàn của t bản công nghiệp cá biệt, chỉ
giả định là có hình thái Sx ở bên ngoài lu thông của t bản công nghiệp đã sản
sinh ra nó, T là điểm kết thúc của hình thái I, là hình thái chuyển hoá của H
(H - T) giả định là T nằm trong tay ngời mua, tồn tại ở ngoài tuần hoàn T...T
và chỉ do việc bán H mới bị cuốn vào trong tuần hoàn đó, trở thành hình thái
kết thúc của bản thân tuần hoàn ấy.

3. Quan điểm của Mác - Lênin về vấn đề chu chuyển của t bản.
Nếu nh nghiên cứu tuần hoàn của t bản, chúng ta nghiên cứu các hình
thức mà t bản trút ra và khoác vào qua ba giai đoạn vận động của nó, thì khi
nghiên cứu chu chuyển của t bản, chúng ta nghiên cứu tốc độ vận động của t

năng thôi còn sự lắp lại của quá trình trong hình thái II tức là quá trình tái sản
xuất, biểu hiện thành sự lắp lại hiện thực. Trong hình thái III giá tự - t bản mở
đầu quá trình với t cách là giá trị đã tăng thêm, là tất cả những của cải nằm dới
hình thái hàng hoá. Hình thái này là hình thái trọng yếu đối với sự vận động
của các t bản cá biệt nếu xem xét trong mối quan hệ với sự vận động của t bản
xã hội. Nhng hình thái này không thích hợp cho việc nghiên cứu sự chu
chuyển của một t bản bao giờ cũng đợc bắt đầu bằng việc ứng trớc giá trị t bản
dới hình thái tiền tệ hay dới hình thái hàng hoá, và bao giờ cũng đòi hỏi giá trị
- t bản đang lu thông phải quay trở lại hình thái mà nó đã đợc ứng ra.
Những nhà kinh tế học không phân biệt các hình thái tuần hoàn khác
nhau, đã không xét chúng riêng ra trong mối quan hệ của chúng đối với chu
chuyển của t bản. Có những nhà kinh tế học khác lại xuất phát từ những chi
phí dới hình thái yếu tố sản xuất, và xem xét sự vận động cho đến lúc quay trở
về, nhng họ tuyệt nhiên không hề nói đến hình thái quay trở về đó, không hề
tự hỏi xem chúng sẽ quay trở về dới hình thái hàng hoá hay hình thái tiền. Sau
khi toàn bộ giá trị t bản mà một nhà t bản cá biệt bỏ vào một ngành sản xuấta
nào đó hoàn thành tuần hoàn trong sự vận động của nó, thì nó lại trở lại hình
thái ban đầu của nó và lại có thể diễn lại cùng một quá trình nh thế. Muốn
cho giá trị đợc bảo tồn mãi mãi và tiếp tục tăng thêm giá trị với t cách là giá trị
t bản, thì nó phải lắp lại tuần hoàn ấy. Trong đời sống của t bản, mỗi tuần hoàn
cá biệt chỉ là một giai đoạn không ngừng đợc lắp đi lắp lại, nghĩa là một giai
đoạn cấu thành một định kỳ. Hình thái T...T t bản tiền tệ sẽ đi qua cái chuỗi
những chuyển hoá bao gồm quá trình tái sản xuất ra nó, hay quá trình tăng
thêm giá trị. Khi định kỳ Sx...Sx kết thúc, t bản mang hình thái những yếu tố
sản xuất nó là tiền đề của việc lặp lại tuần hoàn. Tuần hoàn của t bản khi đợc
coi là một quá trình định kỳ, chứ không phải một hành vi cá biệt thì đợc gọi là
vòng chu chuyển của t bản. Thời gian của vòng chu chuyển ấy đợc quyết
định bởi tổng số thời gian sản xuất và thời gian lu thông cộng lại. Tổng số thời
gian ấy là thời gian chu chuyển của t bản. Do đó, thời gian chu chuyển của t
16

Còn t bản lu động là một bộ phận t bản sản xuất mà giá trị của nó sau
một thời kỳ sản xuất, có thể hoàn lại hoàn toàn cho nhà t bản dới hình thức
tiền tệ, sau khi hàng hoá đã bán xong (5). Đó là bộ phận giá trị t bản dới hình
thức sức lao động và những t liệu sản xuất khác. Nguyên liệu, vật liệu phụ bị
tiêu dùng toàn bộ vào sản xuất và cũng chuyển toàn bộ gia trị vào sản phẩm
mới. Chia t bản ra thành t bản cố định và t bản lu động cũng là một sự phân
chia khoa học, cần thiết về mặt quản lý kinh tế.
(4)

, (5), (6): NXB Giáo dục: Kinh tế chính trị - 1998, trang 105, 106
17


18

T bản cố định chu chuyển chậm hơn t bản lu động. Trong khi t bản cố
định chu chuyển đợc vòng thì t bản lu động đã chu chuyển đợc nhiều vòng.
Ngay trong t bản cố định, thời gian chu chuyển của các yếu tố khác nhau cũng
không giống nhau, có thời gian hoạt động dài, ngắn khác nhau, nghĩa là hao
mòn khác nhau. Hao mòn hữu hình là do sử dụng và do tác động của thiên
nhiên làm cho những bộ phận t bản đó dần dần hao mòn đi đến chỗ hỏng,
không dùng đợc nữa. Còn hao mòn vô hình là nói về những trờng hợp máy
móc mới tốt hơn tối tân hơn xuất hiện (6). Để tránh hao mòn vô hình, nhà t
bản còn tìm cách nâng cao tỷ suất khấu hao t bản cố định.
Dựa trên hai hình thức hao mòn mà C.Mác phân chia chu chuyển của t
bản thành Chu chuyển chung của t bản ứng trớc là con số chu chuyển trung
bình của những thành phần khác nhau của t bản. Chu chuyển thực tế là thời
gian để tất cả các bộ phận của t bản ứng trớc đợc khôi phục toàn bộ về mặt giá
trị, cũng nh về mặt hiện vật(7). Chu chuyển thực tế do thời gian tồn tại của t
bản cố định đầu t quyết định và nó không ăn khớp với chu chuyển chung của

chặt chẽ, việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân còn yếu, nền kinh tế bị mất
cân đối nghiêm trọng. Công cuộc xây dựng nền kinh tế đòi hỏi đất nớc ta phải
có chính sách phát triển và khôi phục nền kinh tế, đa đất nớc đi lên thoát khỏi
sự lạc hậu của nền kinh tế sau những năm chiến tranh xâm lợc. Doanh nghiệp
Việt Nam lúc này còn quá nhỏ bé chủ yếu là các xí nghiệp dới sự che chở của
nhà nớc, nhà nớc bao cấp và chịu gần nh toàn bộ hậu quả mà doanh nghiệp
nhà nớc và xí nghiệp gặp phải. Hàng Việt Nam đợc sản xuất ra có khi không
đúng thời vụ, hàng cha về đến nông thôn thì đã hết. Nhà nớc lại không có
chính sách, biện pháp mở rộng sản xuất, không thu hút vốn đầu t nớc ngoài.
Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu là do nhà nớc cấp, doanh nghiệp không tồn
tại loại hình doanh nghiệp t nhân t bản, doanh nghiệp nhà nớc hoạt động rất
kém hiệu quả, năng suất cha cao, chất lợng thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật rất
hạn chế.
Đất nớc hoàn toàn giải phóng, cả nớc đi vào khôi phục xây dựng đất nớc.
Đảng và Nhà nớc ta xác định nhiệm vụ đầu tiên là phải phát triển kinh tế, đa
đất nớc đi lên. Tại Đại hội IV Đảng ta đã đề ra đờng lối xây dựng nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa: Đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN, xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đa nền kinh tế nớc ta từ sản xuất nhỏ lên
sản xuất lớn XHCN, u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên
cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công
nghiệp và nông nghiệp cả nớc thành một cơ cấu công - nông nghiệp, vừa xây
dựng kinh tế trung ơng, vừa phát triển kinh tế địa phơng trong một cơ cấu kinh
tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lợng sản xuất với xác lập và
hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng (8) . Đến đại
(8)

Báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ơng Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ IV. NXB Sự thật, Hà Nội,
1997, trang 67.
19


mình.
2. Sự vận dụng ở Việt Nam từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
(tháng 12 - 1986) đến nay.
Đại hội VI của Đảng là một mốc lịch sử quan trọng trên con đờng đổi
mới toàn diện và sâu sắc ở nớc ta; trong đó có sự đổi mới về các quan điểm
kinh tế. Đảng chỉ ra mục tiêu quan trọng là phát triển kinh tế trong đó khẳng

20


21

định vai trò của các doanh nghiệp trong nền kinh tế mới với cơ chế quản lý
mới đó là cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Cơ chế mới gắn sản xuất
với thị trờng thông qua tín hiệu giá cả đợc hình thành theo quan hệ cung cầu,
đi đôi với thực hiện chế độ tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp và mọi
đơn vị kinh tế trong môi trờng hợp tác và cạnh tranh bình đẳng. Nhà nớc quản
lý nền kinh tế thông qua hệ thống, thể chế rõ ràng, nghiêm chỉnh kết hợp đúng
đắn tính kế hoạch với việc sử dụng quan hệ hàng hoá tiền tệ, sử dụng hợp lý
các đòn bẩy kinh tế nh giá cả, chính sách tài chính, tín dụng...công tác kế
hoạch hoá đợc đổi mới theo hớng chuyển từ tính pháp lệnh sang tính hớng dẫn
là chính, từng bớc phân biệt quản lý Nhà nớc với quản lý sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp. Có thể nói cơ chế mới nhằm chuyển hoá nền kinh tế
Việt Nam còn mang nặng tính bao cấp, hiện vật, tự cấp tự túc, sang nền kinh
tế thị trờng, theo định hớng XHCN. Đây cũng là con đờng chủ yếu để nâng
cao hiệu quả của mỗi đơn vị sản xuất - kinh doanh, cũng nh của toàn bộ nền
kinh tế.
Việc chuyển sang kinh tế thị trờng đòi hỏi phải có sự đổi mới một cách
căn bản chức năng quản lý kinh tế của Nhà nớc. Từ chỗ trực tiếp làm kinh tế
can thiệp rất sâu vào quá trình sản xuất kinh doanh, Nhà nớc chuyển sang điều

chất lợng sản phẩm không cao, thiếu thị trờng tiêu thụ sản phẩm. Các doanh
nghiệp nhà nớc có vốn đầu t nớc ngoài chiếm khoảng 43 - 45% GDP, sản
phẩm của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm khoảng 25 - 28% GDP.
Chuyển đổi từ một nền kinh tế tự cung tự cấp, một nền kinh tế nghèo nàn
lạc hậu sang một nền kinh tế hoàn toàn mới đó là kinh tế thị trờng, trong đó
nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trờng với ba vấn đề: Sản xuất cái gì? sản
xuất bao nhiêu? và sản xuất cho ai? đều do thị trờng quyết định thông qua sự
chỉ dẫn của quan hệ cung cầu và giá cả? Một mặt do nớc ta không trải qua giai
đoạn chủ nghĩa t bản đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội cha có một cơ sở vật chất
kỹ thuật ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Mặt khác, tỏo chức lại nền kinh tế đa các thành phần kinh tế vào hoạt động có
hệ thống để mục đích đạt đợc hiệu quả sản xuất cao hơn, tăng thu nhập và đời
sống dân c. Song nền kinh tế thị trờng không phải là một hệ thống đợc tổ chức
một cách hoàn hảo, không có những khuyết tật. Vì vậy, để cho nền kinh tế này
hoạt động có hiệu quả ở nớc ta và để khắc phục, hạn chế những tiêu cực của
cơ chế thị trờng cần có sự can thiệp của nhà nớc vào nền kinh tế thị trờng.
Trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh, nhà nớc định hớng ngày
càng rõ ràng những chức năng quản lý nhà nớc, quản lý hành chính đối với
doanh nghiệp và đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ, chính xác
quyền lực của nhà nớc. Đó là con đờng để xoá bỏ những quy định không rõ
ràng, chồng chéo trong trách nhiệm, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nớc với
các tổ chức, đoàn thể quần chúng, và sự lãnh đạo tổ chức của Đảng, nhằm hạn
chế tối đa sự sơ hở, dẫn đến tham nhũng lãng phí, vi phạm lợi ích chính đáng
của nhà nớc và bản thân doanh nghiệp. Sự vận động của nền kinh tế thị trờng
có sự quản lý của nhà nớc là tuân theo sự điều khiển song hành, tức là sự tác
động cùng một lúc của hai yếu tố, hai bàn tay: vô hình và hữu hình cơ

22



Nhóm 3: gồm những doanh nghiệp sản xuất thua lỗ kéo dài, không trả đợc nợ đến hạn, không nộp đủ thuế. Những doanh nghiệp này nếu do thiếu thuế
hoặc năng lực quản lý yếu kém thì có thể duy trì nhng cần thay cán bộ lãnh
đạo, hoặc có thể phải bán đấu giá, giải thể và phá sản.

23


24

Ba là: Tổ chức sản xuất, hiểu theo nghĩa rộng, trên phạm vi ngành, lãnh
thổ, đơn vị cơ sở, phải bắt đầu từ việc xác định cơ cấu sản xuất.
- Xác định trình độ tích tụ sản xuất (quy mô sản xuất - kinh doanh).
- Xác định phạm vi chuyên mộn hoá sản xuất - kinh doanh một hay nhiều
sản phẩm, dịch vụ và phạm vi, mức độ kinh doanh tổng hợp.
- Xác định các mối liên hệ hợp tác sản xuất, liên kết liên doanh giữa các
ngành, các đơn vị sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Xác định các hình thức tổ chức liên hợp sản xuất từ thấp đến cao, liên
hiệp giữa các xí nghiệp cùng loại sản phẩm hay khác loại: liên hiệp giữa các
khâu từ sản xuất, cung ứng vật t, tiêu thụ xuất nhập khẩu; liên hiệp giữa khoa
học - sản xuất - đời sống.
- Sắp xếp dây chuyền sản xuất theo quy trình công nghệ đã chọn và đảm
bảo kỹ thuật, chất lợng sản phẩm, bố trí hợp lý và cân đối các điều kiện sản
xuất và lực lợng lao động nhằm đạt năng suất cao.
- Sắp xếp quy trình hoạt động của các khâu tổ chức: dự trữ sản xuất, sản
xuất, sản xuất chế biến, tiêu thụ với các yếu tố sản xuất một cách thông suốt,
gắn sản xuất với thị trờng.
Nh vậy, trong việc sản xuất kinh doanh phải đợc xác định rất rõ ràng,
Nhà nớc đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sản xuất của các doanh
nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đợc sản xuất liên tục trong nền
kinh tế thị trờng. Đồng thời lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật không bị nhàn

quản lý. Đến năm 1998 trên toàn quốc chỉ có 18 doanh nghiệp chuyển sang
công ty cổ phần. Cổ phần hoá là hình thức tích tụ vốn một cách nhanh nhất
C.Mác đã viết Nếu nh cứ phải chờ cho đến tích luỹ làmcho một số nhà t bản
riêng lẻ lớn lên tới mức có thể đảm đơng đợc việc xây dựng đờng sắt, thì có lẽ
đến ngày nay (thế kỷ 19) thế giới vẫn cha có đờng sắt. Ngợc lại qua các công
ty cổ phần sự tập trung đã thực hiện đợc việc đó trong nháy mắt. Trong điều
kiện hiện nay với chủ trơng, đa dạng hoá các hình thức sở hữu ngay ở từng cơ
sở, cổ phần hoá sẽ giúp các doanh nghiệp nhà nớc thẩm thấu vào các thành
phần kinh tế khác qua việc mua cổ phần của các doanh nghiệp đó, từ đó phát
huy tác dụng định hớng cho các thành phần khác.
Xuất phát từ chủ trơng xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm chính
phủ phát huy vai trò ngời cầm lái đối với doanh nghiệp, đã đặt t tởng và pháp
lý cho một phong cách và một thể chế làm việc mới: Chính phủ hợp tác đối
thoại thẳng thắn, bình đẳng với doanh nghiệp, cải tiến tổ chức các doanh
nghiệp và xác định rõ các quyền tự chủ để trao đổi lại cho doanh nghiệp, sẽ
tạo ra sự gắn bó mới, sự đồng tâm nhất trí mới, động lực mới cho cả hai bên ngời cầm lái và ngời chèo thuyền.
Hơn 10 năm qua, các loại hình doanh nghiệp ở nớc ta phát triển một cách
nhanh chóng cả về số lợng lẫn chất lợng, đã góp phần to lớn vào sự phát triển
một cách nhanh chóng cả về số lợng lẫn chất lợng, đã góp phần to lớn vào sự
phát triển kinh tế và xã hội của đất nớc. Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status