Họ và Tên
: Phạm Vũ Bình
Lớp
: Khoa Học Máy Tính - K32
Môn
: Triết Học
GV
: PGS.TS Lê Hữu Ái
Bài 1: Từ quan điểm toàn diện trong Triết Học. Anh/ Chị giải thích vì
sao lựa chọn ngành học của mình.
Trong sự tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng đều có mối
liên hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập nhau.
Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ
nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải tính
đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc phục
quan điểm phiến diện
Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là mối liên hệ của bản thân thế giới
vật chất, không do bất cứ ai quy định và tồn tại độc lập với ý thức. Trên thế
giới này có rất nhiều mối liên hệ chẳng hạn như mối liên hệ giữa sự vật
và hiện tượng vật chất, giữa cái vật chất và cái tinh thần. Các mối liên hệ đều
là sự phản ánh những tác động qua lại, phản ánh sự quy định lẫn nhau giữa
các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan.
tác động qua lại giữa chúng, sự tác động qua lại của các yếu tố, kể cả khâu
trung gian, gián tiếp cấu thành sự vật đó, phải đặt nó trong một không gian,
thời gian cụ thể, nghiên cứu quá trình phát triển từ quá khứ, hiện tại và dự
đoán cho tương lai. Thế nhưng xem xét toàn diện không có nghĩa là xem
xét tràn lan mà phải xem xét từng yếu tố cụ thể nhưng có tính chọn lọc.
Có như thế chúng ta mới thực sự nắm được bản chất của sự vật.
Và cả khi nghiên cứu xã hội thì cũng rất cần đến quan điểm toàn diện vì các
mối quan hệ trong xã hội không cô lập nhau, tách rời nhau mà trái lại chúng
đan xen tác động qua lại với nhau .
Quan điểm toàn diện: đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
2
trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ
trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức
đúng về sự vật. Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa
học triết học, chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri
thức khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triết học
được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động của con người,
nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi phải NHÌN THẤY về sự vật như là một chỉnh
thể của tất cà các mặt, các thuộc tính, các mối liên hệ trong bản thân SVHT
và giữa SVHT đó với những SVHT khác, với môi trường xung quanh… Thực
chất của quan điểm toàn diện là trong khi chú ý xem xét tất cả các mặt của sự
vật, tư duy phải phát hiện được, phản ánh được những mặt chủ yếu, bản chất,
quan trọng nhất của sự vật một cách dãn đều bình quân, không biết đâu là bản
chất của sự vật.
Từ việc nắm được bản chất của sụ vật chúng ta cùng NHÌN THẤYcác mặt
khác của sự vật một cách sâu sắc trong chỉnh thể của tất cả các mặt.
chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau
để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu : “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta
phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ,
vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại.
Quyết định lựa chọn ngành công nghệ thông tin khi thi đại học của tôi được
đưa ra sau khi xem xét nhiều yếu tố, mà sau này mới nhận ra nó dựa trên quan
điểm toàn diện trong Triết học. Các yếu tố này có liên hệ và tác động qua lại
với nhau.
Để xác định bản thân mình phù hợp với ngành nghề nào, tôi đã bắt đầu từ sở
thích, tính cách và điều kiện của mình. Chọn ra những nghề nào thích hợp
nhất để nghiên cứu và loại bỏ dần. Tôi có thể thực hiện những bài trắc
nghiệm về nghề nghiệp. Dựa trên cơ sở năng lực, sở thích, quan điểm, nguyên
tắc sống của bạn..., các trắc nghiệm sẽ đưa ra những tư vấn và dự đoán về
4
nghề nghiệp hoặc nhóm ngành nghề phù hợp với tôi. Tiếp theo, tôi phải hiểu
được những điểm hạn chế, những mặt tiêu cực mà tôi không thể kiểm soát và
khó cải thiện, ví dụ hạn chế về kiến thức nganh nghề không sâu, sống thiếu
mục đích, kỹ năng kém, cá tính tiêu cực: thiếu ý chí vươn lên, thiếu nhẫn nại,
tính kỷ luật kém, không có khả năng lãnh đạo, làm việc nhóm…
Không nên tuyệt đối hóa việc chọn nghề qua việc làm bài trắc nghiệm. Việc
chọn nghề còn phải xét đủ những điều kiện vật chất, xã hội, kinh tế... ở xung
quanh ta. Sau khi đã hiểu rõ bản thân mình, tôi bắt đầu phân tích các yếu tố
bên ngoài trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến việc lên kế hoạch nghề
nghiệp của tôi. Tôi sẽ quan tâm đến các điều kiện tích cực bên ngoài mà tôi
không thể kiểm soát nhưng có thể tận dụng cơ hội phát triển, xu hướng tích
cực trong nghề nghiệp, cơ hội để tôi phát triển nghề nghiệp bằng cách nâng
1.
Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức.
Lê- Nin đã đưa ra một định nghĩa toàn diện sâu sắc và khoa học về phạm trù
vật chất “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại phản ánh và được tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Từ định nghĩa của Lê Nin đã khẳng định vật chất là thực tại khách quan vào
bộ não của con người thông qua tri giác và cảm giác. Thật vậy vật chất là
nguồn gốc của ý thức và quyết định nội dung của ý thức.
Thứ nhất, phải có bộ óc của con người phát triển ở trình độ cao thì mới có sự
ra đời của ý thức. Phải có thể giới xung quanh là tự nhiên và xã hội bên ngoài
con người mới tạo ra được ý thức, hay nói cách khác ý thức là sự tương tác
giữa bộ não con người và thế giới khách quan. Ta cứ thử giả dụ, nếu một
6
người nào đó sinh ra mà bộ não không hoạt động được hay không có bộ não
thì không thể có ý thức được. Cũng như câu chuyện cậu bé sống trong rừng
cùng bầy sói không được tiếp xúc với xã hội loài người thì hành động của cậu
ta sau khi trở về xã hội cũng chỉ giống như những con sói. Tức là hoàn toàn
không có ý thức.
Thứ hai, là phải có lao động và ngôn ngữ đây chính là nguồn gốc xã hội của ý
thức. Nhờ có lao động mà các giác quan của con người phát triển phản ánh
tinh tế hơn đối với hiện thực... ngôn ngữ là cần nối để trao đổi kinh nghiệm
tình cảm, hay là phương tiện thể hiện ý thức. Ở đây ta cũng nhận thấy rằng
nguồn gốc của xã hội có ý nghĩa quyết định hơn cho sự ra đời của ý thức.
Vật chất là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của ý thức nên khi vật chất thay
đổi thì ý thức cũng phải thay đổi theo.
thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới vật chất. Khi phản ánh
đúng hiện thực khách quan thì chúng ta hiểu bản chất quy luật vận động của
các sự vật hiện tượng trong thế giới quan.
VD1. Hiểu tính chất vật lý của thép là nóng chảy ở hơn 1000 0C thì con người
tạo ra các nhà máy gang thép để sản xuất cách loại thép với đủ các kích cỡ
chủng loại, chứ không phải bằng phương pháp thủ công xa xưa.
VD2. Từ nhận thức đúng về thực tại nền kinh tế của đất nước. Tư sản đại hội
VI, đảng ta chuyển nền kinh tế từ trị cung, tự cấp quan liêu sang nền kinh tế
thị trường, nhờ đó mà sau gần 20 năm đất mới bộ mặt đất nước ta đã thay đổi
hẳn.
Ý thức phản ánh không đúng hiện thực khách quan có thể kìm hãm hoạt động
thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo thế giới quan. VD. Nhà máy sử
lý rác thải của Đồng Tháp là một ví dụ điển hình, từ việc không khảo sát thực
tế khách quan hay đúng hơn nhận thức về việc sử lý rác vô cơ và rác hữu cơ
là chưa đầy đủ vì vậy khi vừa mới khai trương nhà máy này đã không sử lý
nổi và cho đến nay nó chỉ là một đống phế liệu cần được thanh lý.
Giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, thể hiện qua vai trò quyết
định của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tương đối, sự tác động trở lại
của ý thức đối với vật chất.
8
Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng, vật chất là cơ sở, cội nguồn
sản sinh ra ý thức. Vật chất là cái có trước, nó sinh ra ý thức, quyết định nội
dung và xu hướng phát triển của ý thức. Không có vật chất thì không thể có ý
thức bởi vì nguồn gốc của ý thức chính là vật chất trong đó bộ óc người là cơ
quan vật chất của ý thức, cơ quan phản ánh thế giới xung quanh, sự tác động
của thế giới khách quan vào bộ não người, tạo thành nguồn gốc tự nhiên của
ý thức. Lao động trong hoạt động thực tiễn, hoạt động sản xuất của cải vật
chất và ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết
khách quan, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, “phải lấy thực
thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình”. Tuy nhiên, việc
thực hiện nguyên tắc khách quan không có nghĩa là quan điểm khách quan
xem nhẹ, tính năng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòi hỏi phát phát huy
tính năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố chủ quan. Bởi vì quá trình đạt
tới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải phát huy tính năng động, sáng tạo
trong việc tìm ra những biện pháp, những con đường để từng bước thâm nhập
sâu vào bản chất của sự vật, trên cơ sở đó con người thực hiện sự biến đổi từ
cái “vật tự nó” (tức thực tại khách quan) thành cái phục vụ cho nhu cầu của
con người đồng thời sử dụng hiệu quả các điều kiện, sức mạnh vật chất khách
quan, sức mạnh của quy luật … để phục vụ cho các mục tiêu, mục đích khác
nhau của con người.
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức :
- Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức.Vật chất là cái có
trước,nó sinh ra và quyết định ý thức:
Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất : bộ não ngưòi – cơ quan phản ánh thế
giơí xung quanh,sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi,tạo thành
nguồn gốc tự nhiên .
Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói,chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với
nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành,tồn tại và phát triển của ý thức .
Mặt khác,ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Vật chất là đối
tượng,khách thể của ý thức,nó quy định nội dung,hình thức,khả năng và quá
trình vận động của ý thức .
10
-Tác động trở lại của ý thức
Ý thức do vật chất sinh ra và quy định,nhưng ý thức lại có tính độc lập tương
đối của nó.Hơn nữa,sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh
tinh thần,phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động,máy
Mặt khác, ý thức có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất,
cho nên trong nhận thức phải có tính toàn diện, phải xem xét đến vai trò của
nhân tố tinh thần.
Trong hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và
giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật.
Đồng thời cũng phải nâng cao nhận thức, sử dụng và phát huy vai trò năng
động của các nhân tố tinh thần,tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt
động của con người đạt hiệu quả cao.
Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái
độ tiêu cực thụ động, chờ đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan, duy ý
chí do tách rời và thổi từng vai trò của từng yếu tố vật chất hoặc ý thức.
12