tiểu luận cao học Tư tưởng HCM về vị trí vai trò, sứ mệnh lịch sử của đảng cộng sản việt nam - Pdf 38

I.

MỞ ĐẦU

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển mạnh sang giai
đoạn chủ nghĩa đế quốc. Chúng tiến hành vơ vét lợi nhuận độc quyền, bóc lột tàn
tệ giai cấp vô sản và những người lao động trong nước, đồng thời mở rộng việc
xâm chiếm thuộc địa, áp đặt và thực hiện chế độ thực dân đối với các nước nhỏ,
nghèo, kém phát triển ở châu Á, châu Phi và nhiều nơi khác nhằm mở rộng thị
trường, khai thác sức người, sức của vì lợi ích kinh tế và mưu đồ chính trị tàn bạo
của giai cấp tư sản của các nước đế quốc, thực dân.
Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc, thực dân,
phong trào yêu nước và cách mạng ở các nước thuộc địa trở thành một nội dung
lớn của thời đại.
Trong bối cảnh đó, loài người đã chứng kiến một sự kiện rung chuyển thế
giới - Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Đó là cuộc cách mạng vô sản do Đảng
Cộng sản Bônsêvích và Lênin lãnh đạo đã chặt đứt mắt xích yếu nhất trong chuỗi
xích của chủ nghĩa đế quốc, mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại - thời đại quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, hiện thực hóa lý luận của chủ nghĩa Mác, biến chủ nghĩa
xã hội từ khoa học thành hiện thực.
Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược từ năm 1858. Với việc ký hòa ước
Patơnốt (Patennôtre) với triều đình phong kiến nhà Nguyễn ngày 6/6/1884, thực
dân Pháp đã đặt được ách thống trị và biến Việt Nam thành thuộc địa của Pháp.
Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp ngày càng gay gắt, dẫn tới
bùng phát nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân giành độc lập suốt từ cuối
thế kỷ XIX và 30 năm đầu thế kỷ XX.

1


Tất cả các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp theo các xu hướng

mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu kết thúc môn
học .

II.Tính tất yếu,quy luật hình thành và vai trò của ĐCS,liên hệ với
tính tất yếu quy luật ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
1. Khái niệm Đảng Cộng Sản.
Đảng cộng sản là chính đảng của gai cấp công nhân.Nó là đội tiên phong,bộ
tham mưu chiến đấu,lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân,đại biểu trung thành
cho lợi ích giai cấp công nhân,của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng cộng
sản bao gồm những bộ phận tiên tiến của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân
dân lao động. Đảng cộng sản lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và
kim chỉ nam cho hành động,lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ
chức cơ bản của mình.

2. Tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng Sản
Đảng Cộng Sản ra đời là tất yếu lịch sử của phong trào đấu tranh của giai
cấp công nhân. Bởi vì, khi chưa có Đảng cộng sản lãnh đạo, giai cấp công nhân
chỉ có thể đấu tranh tự phát, đấu tranh vì mục đích kinh tế, vì cơm ăn áo mặc, cải
thiện sinh hoạt, chứ không phải đấu tranh với tư cách là một giai cấp nhằm thực
hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt tới trình độ tự
giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin
thì mới đưa cuộc đấu tranh tự phát lên cuộc đấu tranh tự giác, đấu tranh chính trị,
đấu tranh với tư cách là một giai cấp có thể thực hiện sứ mệnh của mình. Muốn

3


vậy, điều kiện quan trọng trược tiên là giai cấp công nhân phải tự xây dựng lên
chính Đảng chính trị của mình, đó là Đảng Cộng Sản.


Với một đảng cộng sản chân chính thì sự lãnh đạo của đảng chính là sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân. Đảng với giai cấp thống nhất,nhưng đảng có độ lý luận
và tổ chức cao nhất để lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc thực hiện sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.Để làm tròn vai trò đó,đảng cộng sản phải là
một đảng kiểu mới,một đảng Mácxít-Lêninnít .

5. Tính tất yếu và quy luật ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam:
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930. Do hoàn cảnh của Việt
Nam là một nước thuộc địa nửa phong kiến. Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sản
phẩm của sự kết hợp của chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước của ở nước ta. Đảng cộng sản Việt Nam đã đem lại yếu tố tự giác
vào phong trào công nhân,làm cho phong trào cách mạng nước ta có 1 bước nhảy
vọt về chất,lên 1 tầng cao mới.
Đảng cộng sản Việt Nam là một đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam.đại biểu trung thành của lợi ích của giai cấp công nhân,nhân dân lao động và
của dân tộc Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
tưởng hồ chí minh làm nền tảng tư tưởng,kim chỉ nam cho hành động,lây nguyên
tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản,lấy sự nghiệp giải phóng dân
tộc,giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm mục đích tối cao của
mình.
Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng cộng sản Việt Nam đã thể hiện vai trò lành
đo,tinh thần phụ trách trước giai cấp và dân tộc trong tiến trình cách mạng Việt
5


Nam. Trong từng giai đoạn cách mạng,đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối
chiến lược ,sách lược,phương pháp cách mạng và lãnh đạo nhân dân Việt Nam
hoàn thành từng mục tiêu của sứ nghiệp cách mạng,hoàn thành cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước và đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đảng cộng sản Việt Nam đã đề xướng và lãnh

do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo...Các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc tuy diễn ra
quyết liệt, song cuối cùng đều bị thất bại, vì thiếu một đường lối cứu nước đúng
đắn, thiếu một tổ chức lãnh đạo có khả năng tập hợp sức mạnh của toàn dân tộc.
Trong bối cảnh đó, tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất
Thành đã rời Tổ quốc ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Năm 1920
Nguyễn Tất Thành- Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin; đây không
chỉ là bước ngoặt đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, mà
còn là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã
soi rọi cho Nguyễn Ái Quốc: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc thì trước hết
phải có “Đảng cách mệnh” để “trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì
liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi”. Từ nhận thức đó Nguyễn
Ái Quốc ra sức chuẩn bị mọi mặt cho việc thành lập một chính đảng vô sản ở Việt
Nam, Người từng bước truyền bá có hệ thống chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong
nước, đưa phong trào công nhân chuyển dần từ trình độ tự phát lên tự giác; đưa
phong trào yêu nước chuyển dần sang lập trường cộng sản.
Tháng 3-1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập ở số nhà 5D, Hàm
Long, Hà Nội, gồm có Trần Văn Cung, Trịnh Đình Cửu, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức
Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Văn Tuân và Dương Hạc Đính.
7


Ngày 1-5-1929, tại Đại hội toàn quốc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh
niên ở Hương Cảng, đoàn đại biểu Bắc Kỳ đưa ra đề nghị thành lập Đảng Cộng
sản. Đề nghị đó không được chấp nhận, trở về nước, ngày 17-6-1929, những đảng
viên trong Chi bộ Cộng sản 5D Hàm Long đã tuyên bố thành lập Đông Dương
Cộng sản Đảng. Ngày 25-7-1929 An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam
Kỳ. Tháng 9-1929 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố
thành lập. Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của phong trào đấu tranh cách mạng ở
Việt Nam. Song sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một

Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ
giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.

2.Vị Trí của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
2.1 Theo Tư tưởng HCM.
Theo Người: Đảng Cộng sản là hạt nhân chính trị trung tâm là nhân tố quyết
định hàng đầu, để đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Thể hiện tư tưởng này,
Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng “ trước hết phải có Đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp
bức và vô sản giai cấp mọi nơi”.
Cách mạng là sự nghiệp của “ cả dân chúng chứ không phải của một hai
người”, nhưng sức mạnh của dân chúng chỉ trở thành vô địch, “ không một quân
lính, súng ống nào thắng nổi” khi được giác ngộ, được tổ chức, được lãnh đạo.
Khi thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam
là đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
có khả năng “tập hợp”, “lôi kéo” các tầng lớp nhân dân khác đoàn kết đứng lên
9


làm cách mạng. Khi Đảng ra hoạt động công khai với tên là Đảng Lao động Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã phát triển thêm: “Đảng Lao động Việt Nam là đảng của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc
Việt Nam”. Như vậy, Đảng “là đội tiên phong là bộ tham mưu của giai cấp vô sản,
của nhân dân lao động và của dân tộc”. Hơn nữa, nó còn là “đội tiền phong dũng
cảm và bộ tham mưu sáng suốt”, để xứng đáng với vai trò lãnh đạo cách mạng Việt
Nam trong thời kỳ lịch sử mới.
Hồ Chí Minh giải thích: “ Muốn thắng lợi thì cách mạng phải có một Đảng
lãnh đạo, Đảng phải làm cho quần chúng giác ngộ vì đâu mà họ bị áp bức bóc lột;
phải dạy cho quần chúng hiểu các quy luật phát triển của xã hội, để họ nhận rõ mục
đích gì mà đấu tranh, chỉ rõ con đường giải phóng cho quần chúng, cổ động cho

khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhưng, theo Người quần
chúng nhân dân phải được giác ngộ, được tổ chức, được lãnh đạo thì mới trở thành
lực lượng to lớn, như nhiều chiếc đũa bó thành một bó chứ không phải “mỗi chiếc
một nơi”. Đảng là người phải làm nhiệm vụ trọng đại đó. Hồ Chí Minh đã khẳng
định một vấn đề cốt tử nhất: Cách mạng trước hết phải có đảng cách mệnh để trong
thì vận động và tổ chức quần chúng, ngoài thì liên hệ với các dân tộc bị áp bức và
giai cấp vô sản mọi nơi. Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng đó phải là một đảng cách mạng chân
chính: Đảng Cộng sản.
Dù tên gọi của Đảng có lúc thay đổi, nhưng bản chất của Đảng vẫn là một.
Bao giờ Đảng cũng vẫn là đảng cách mạng chân chính, Đảng Mácxít–Lêninnít
chân chính. Bao giờ Đảng cũng tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân,
trung thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc. Ngoài lợi
ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có một lợi ích gì khác.
11


Độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho mỗi người, xây dựng đất
nước giàu mạnh đi lên chủ nghĩa xã hội, sống hòa bình hữu nghị với tất cả các dân
tộc. Đó là mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

3. Vai Trò của Đảng Cộng Sản Việt Nam
3.1 Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Theo Người. Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của cách mạng, đi
đầu lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động đấu tranh giành độc lập, vai
trò đó không phải tự nhiên mà có mà phải trải qua thực tiễn đấu tranh mới có được
từ khi mới ra đời Vai trò, vị trí lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đối với cách
mạng Việt Nam không phải tự nhiên được xác định. Đó là kết quả của quá trình
chuẩn bị công phu, khoa học về mọi mặt và sự trải nghiệm thực tiễn từ quá trình
đấu tranh cách mạng.

Sản Việt Nam.
Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo
của Đảng.
Hơn 7 thập kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân
ta đã vượt qua một chặng đường đấu tranh cách mạng cực kỳ khó khăn, gian khổ
nhưng đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang:
Một là, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và việc thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
mở ra một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội.
Hai là, thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

13


Ba là, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Trải qua nhiều tìm tòi, khảo nghiệm, tổng kết sáng kiến của nhân
dân, Đảng ta đã đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa
xã hội và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với thực tiễn Việt Nam và bối cảnh quốc tế mới.
Với những thắng lợi giành được trong thế kỷ XX, nước ta từ một nước thuộc
địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển kinh tế theo
con đường xã hội chủ nghĩa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan
trọng trong khu vực và trên thế giới. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành
người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Đất nước ta từ một nền kinh tế nghèo nàn,
lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam giành
được trong hơn 7 thập kỷ qua bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố hàng
đầu quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng ta- Đảng Cộng sản


1.Quan điểm của Hồ Chí Minh về sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng
Sản Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc
đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trong thời đại mới; là sản phẩm của sự kết
hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử; là kết

17


quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của các chiến sĩ
cách mạng đứng đầu là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng tỏ rằng: Giai cấp công nhân
Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đó cũng là cột mốc lớn
đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Cuộc khủng
hoảng về đường lối cứu nước kéo dài mấy chục năm đã được giải quyết. Từ đây,
cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một Đảng
Mác- Lênin chân chính với đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo là cơ sở lý
luận vững chắc đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đầy đủ
yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc phát triển của đất
nước.
Ngay từ khi mới ra đời đảng ta đã thể hiện rõ được sứ mệnh lịch sử của mình
bằng uy tín và kinh nghiệm cách mạng của mình, với sự phân tích sâu sắc của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc về vai trò, trách nhiệm của những người cộng sản trước vận
mệnh dân tộc đã đem lại sự đoàn kết nhất trí cho những người cộng sản Việt Nam,
hướng mọi chiến sĩ cách mạng về một mục tiêu chung.
Cương lĩnh cách mạng đầu tiên của Ðảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và
được Hội nghị hợp nhất thông qua tuy vắn tắt song đã nêu được những vấn đề cơ
bản về đường lối cách mạng Việt Nam. Ðó là lời tuyên bố về sự lựa chọn con

quyền cách mạng cũng như trong những giai đoạn cách mạng sau, nêu rõ các
nguyên tắc xây dựng Ðảng, các mặt của công tác xây dựng Ðảng và các quy luật
tồn tại và phát triển của Ðảng nhằm xây dựng Ðảng một cách toàn diện... Người đã
làm phong phú thêm lý luận về Ðảng và về xây dựng Ðảng của chủ nghĩa MácLênin.

19


2. Sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Namqua từng thời kỳ
đấu tranh cách mạng.
Đảng đã lãnh đạo đấu tranh và khởi nghĩa giành chính quyền
Tháng Tám năm 1945 .
Với đường lối cách mạng, cứu nước đúng đắn, Đảng ta đã quy tụ đoàn kết
xung quanh mình tất cả các giai cấp và tầng lớp yêu nước không phân biệt dân tộc,
tôn giáo xây dựng nên lực lượng cách mạng to lớn và rộng khắp trong cả nước, đấu
tranh chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai. Qua 15 năm
(1930-1945) lãnh đạo cách mạng, trải qua đấu tranh gian khổ, mặc dù gặp phải
những tổn thất hy sinh to lớn nhưng Đảng vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, kiên định
cách mạng, trung thành với mục tiêu lý tưởng của mình. Ba cao trào cách mạng lớn
(1930-1931; 1936-1939; 1939-1945) là ba cuộc tổng diễn tập cách mạng chuẩn bị
lực lượng, tạo cơ sở giành thắng lợi cho cuộc chiến đấu mới. Nắm chắc thời cơ lịch
sử, với một nghệ thuật lãnh đạo và tổ chức khởi nghĩa tài tình, Đảng ta đã lãnh đạo
cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công trọn vẹn. Chỉ
trong một thời gian ngắn, nhân dân Việt Nam đã vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ
của chế độ thực dân, lật nhào chế độ phong kiến tay sai, giành chính quyền về tay
nhân dân.
Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân, đưa dân tộc ta bước sang một kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập, tự do
tiến lên CNXH. Đánh giá ý nghĩa lịch sử của thắng lợi này, Chủ tịch Hồ Chí Minh

một Đảng thống nhất lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
22


chiến lược. Tuy mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ chiến lược khác nhau nhưng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó cách mạng miền Bắc giữ vai trò quyết
định nhất đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Cách mạng miền
Nam giữ vị trí quan trọng, tác động trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền
Nam thống nhất đất nước.
Hơn 20 năm cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, mặc dù gặp
nhiều khó khăn trở ngại chồng chất, đặc biệt từ năm 1965 trở đi miền Bắc phải trực
tiếp đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại rất ác liệt của đế quốc Mỹ, nhưng
dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc đã kiên cường trong sản xuất và
chiến đấu, giành được những thành tựu to lớn, đồng thời chi viện đắc lực cho miền
Nam...Hàng triệu tấn lương thực và vũ khí, trang bị; hàng vạn thanh niên nam nữ
hăng hái lên đường vào miền Nam chiến đấu. Miền Bắc đã dốc sức vào chiến tranh
cứu nước và giữ nước với toàn bộ sức mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã làm
tròn một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa của cách mạng cả nước, xứng đáng là
pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội.
Đế quốc Mỹ, đã dùng mọi thủ đoạn, thử nghiệm mọi chiến lược, sử dụng
mọi vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại trong cuộc chiến tranh xâm lược
Việt Nam. Qui mô, tính chất cũng như mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh mà nhân
dân ta phải đương đầu chịu đựng chưa từng có trong lịch sử. Song, nhân dân miền
Nam đã kiên cường chịu đựng gian khổ hy sinh, kiên quyết đánh thắng đế quốc Mỹ
xứng đáng với danh hiệu “Thành đồng Tổ quốc", sát cánh cùng đồng bào miền Bắc
đánh bại mọi âm mưu, chiến lược của đế quốc Mỹ, góp phần trực tiếp giải phóng
miền Nam thống nhất đất nước.
Trải qua 21 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân cả nước đã chiến đấu
kiên cường anh dũng với sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế; bằng cuộc Tổng
tiến công nổi dậy mùa xuân 1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân ta



mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn.
Trong 5 năm (1996-2001), thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, đất
nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng:
Kinh tế tăng trưởng khá. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân
hàng năm là 7%. Nông nghiệp phát triển liên tục. Giá trị sản xuất công nghiệp bình
quân hàng năm tăng 13,5%. Hệ thống kết cấu hạ tầng, các ngành dịch vụ, xuất
nhập khẩu đều phát triển.
Văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ có chuyển biến tích cực. Các hoạt động văn
hoá, văn nghệ, công tác chăm sóc sức khoẻ và những chính sách xã hội khác đều
được coi trọng, đạt những kết quả to lớn.
Tình hình chính trị - xã hội cơ bản được ổn định; quốc phòng, an ninh được
tăng cường, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Quan hệ đối ngoại ngày càng được mở rộng, hội nhập quốc tế được tiến hành
chủ động và đạt được nhiều kết quả, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày
càng được nâng cao.
Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được củng cố;
quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực được phát huy, một số chính sách và
quy chế dân chủ của nhân dân trước hết là ở cơ sở, bước đầu được thực hiện.
Những thành tựu tron hơn 25 năm (1966 – 2012) đã tăng cường sức mạnh tổng
hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống của nhân dân, củng cố vững
chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước
ta trên trường quốc tế.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status