tiểu luận cao học quá trình nhận thức của đảng cộng sản việt nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (1986 – 2010 - Pdf 37

MỞ ĐẦU
Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng
gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên cũng không có lực lượng gì ngăn
trở đườc chủ nghĩa xã hội phát triển. Sự lựa chọn mục tiêu phát triển của
Việt Nam xét từ mọi góc độ không nằm ngoài tất yếu ấy. Đây là một tiền
trình lựa chọn kép đầy khắc nghiệt của lịch sử. Từ những cái đã, đang có và
chúng ta vận động trong đời sống nhân loại tiền bộ, được diễn ra trong
không khí chính trị , xã hội Việt Nam ngột ngạt, tiềm tàng đầy giông bão ở
những năm 20 của thế kỷ XX. Với tình hình đó bằng nhiều con đường dội
vào và thấm sâu vào mảnh đất Việt Nam nơi mà chính “sự tàn bạo của Chủ
nghĩa Tư bản đã chuẩn bị đất rồi chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm việc là
gieo hạt của công cuộc giải phóng nữa thôi”. Hơn ai hết Nguyễn Ái Quốc đã
đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với Chủ nghĩa xã hội. Ở Người chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam đã gặp chủ nghĩa Mac – Lênin. Với kỳ công của Nguyễn
Ái Quốc chủ nghĩa Mac – Lênin kết hợp với phong trào yêu nước và phong
trào công nhân Việt Nam. Năm 1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời đánh
dấu bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh năm 1930 đã
chỉ rõ : “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản” .
Chủ nghĩa xã hội ngay từ lúc đó không chỉ là mục tiêu lựa chọn mà đã
thực sự là động lực thúc đẩy lịch sử Việt Nam. “Chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những
người lao động trên thế giới thoát khỏi ách nô lệ. Chỉ có chủ nghĩa cộng sản
mới cứu nhân loại đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và
nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái. ấm no, việc làm cho mọi người và vì
mọi người, niềm vui, hoà bình, hạnh phúc”. Mục tiêu chủ nghĩa xã hội của
Đảng ta và nhân dân ta là tất yếu khách quan phù hợp với sự vận động của
cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại .

1


chủ nghĩa xây dựng chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất
Thứ ba:Chủ nghĩa xã hội được chia thành hai giai đoạn phát triển từ thấp
đến cao từ sở hữu chung với nhiều hình thức đến một hình thức chiếm hữu
tư liệu sản xuất. Sở hữu toàn dân, từ phân phối theo lao động đến phân
phyối theo nhu cầu.
Thứ tư: Khi chủ nghĩa xã hội đã xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản đã
đựơc thực hiện thì xã hội sẽ không còn giai cấp,khôntg còn nhà nước,chủ
3


nghĩa cộng sản là liên hiệp những người tự do.Mac Ănghen nhiều lần nêu
lên:trong xã hội tương lai con người đươc phát triển tự do toàn diện trên cơ
sở sự phát triển cao của lực lượng sản xuất. Sự phát triển tự do của mỗi
người là điều kiện cho sự phát triển tự do củ tất cả mọi người” “Liên hiệp
của những người tự do” sẽ thay thế xã hội cũ đối lập giai cấp
Lênin phân chia quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa xã hội và
cộng sản chủ nghĩa thành ba giai đoạn:
1. Những cơn đau đẻ kéo dài
2. Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa
3. Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa
Lênin cho rằng “những cơn đau đẻ kéo dài” chính là thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Theo Lênin xã hội xã hội chủ nghĩa
giai đoạn đầu xã hội cộng sản chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau: Cơ
sở vật chất của chủ nghĩa xã hội được xây dựng mở ra khả năng hết sức
rộng rãi để các lực lượng sản xuất phát triển bền vững. Năng suất lao động
tăng ngày càng cao tạo điều kiện cho phúc lợi xã hội. Tư liệu sản xuất không
còn của riêng cá nhân nữa mà thuộc về toàn thể xã hội. Chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất, chế độ bóc lột người….bị thủ tiêu. Thực hiện nguyên tắc làm
theo năng lực hưởng theo lao động, mọi người có quyền bình đẳng trong
việc hưởng các phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, sử dụng nhà ở, những

mạnh mẽ mọi người lao động đang nung nấu khát vọng giải phóng. Với câu
hỏi “Chủ nghĩa xã hội là gì?” Người trả lời “ xã hội ngày càng tiến, vật chất
ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt đó là chủ nghĩa xã hội”
Người cụ thể hoá thêm: “Chủ nghĩa xã hội là cái gì? Là mọi người được
ăn no mặc ấm sung sướng tự do”. Chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người
dân được ấm no hạnh phúc và học hành tiến bộ. “Chủ nghĩa xã hội là tất cả
mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung
sướng”. Nói một cách tóm tắt, mộc mạc chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm
cho mọi người có công ăn việc làm được ấm no và sống một đời hạnh phúc
“Chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu nước mạnh”. Hồ Chí Minh khám phá

5


chủ nghĩa xã hội bằng cách xác lập mục tiêu cụ thể trên các bình diện tạo nên
diện mạo cơ bản của chủ nghĩa xã hội về chính trị, kinh tế, văn hoá …
Về chính trị, Người xác định rõ xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội mà
nhân dân lao động làm chủ.
Trong xã hội đó:
Bao nhiêu lợi ích đều của dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Quyền hạn và lực lượng đều ở nhân dân.
Người nói rõ hơn chế độ của ta là chế độ dan chủ Đảng ta và chính phủ ta
chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân Đảng “phải xứng đáng là người lãnh đạo
là người đầy tớ trung thành của nhân dân” tất cả các cơ quan nhà nước phải
dựa vào dân lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Về phương diện kinh tế Người chỉ rõ: “ nhiệm vụ quan trọng nhất của
Đảng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghủ nghĩa
xã hội”. Xây dựng một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với công

7


Chương II
Quá trình nhận thức của Đảng cộng sản Việt Nam
về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (1986 - 2010)
Sự hình thành các quan điểm lý luận của đảng về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội được gắn liền với đặc điểm tình hình của mỗi giai đoạn khác
nhau của cách mạng Việt Nam. Trong cương lĩnh đầu tiên của mình Đảng ta
đã xây dựng con đương phát triển đất nước là độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội. Tại các kì đại hội, Đảng ta kiên định con đường đó và từng
bứoc nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội , từng bước điều chỉnh chính
sách, bước đi phù hợp vơii sự vận động khách quan của thưc tiễn trong nước
và quốc tế.
Chủ nghĩa xã hội và con đưòng đi lên chủ nghĩa xxã hội ở nước ta là vấn
đề lí luận và thực tiễn rất cơ bản ,trọng yếu liên quan trực tiếp đến đưòng lối
chính tri của Đảng , phương hướng phát triển của đất nước. Đây là vấn đề
trọng tâm cốt lõi trong đương lối cách mạng của nước ta, Nó chi phối toàn
bộ các hoạt động chính trị, văn hoá-xã hội, đối ngoại, an ninh quốc phòng,
xây dựng Đảng…
2.1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI của Đảng (12 – 1986)
Đại hộc VI (12/1986) có ý nghĩa lịch sử lớn lao đánh dấu bước ngoặt
quan trọng trong quá trinh hình thành những quan điểm của Đảng về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, nó mãi đi vào lịch sử
quang vinh của Đảng ta như một mốc son trên bước trưởng thành qua nhiều
giai đoạn hoạt động của Đảng.
- Đảng ta lãnh đạo nhân dân tiến tới đại hội lần thứ VI trong một tình thế
nhiều gay go thử thách ,nhưng với long quyết tâm và những tích luỹ kinh
nghiệm quý báo của nhiều thập kỉ lãnh đạo công cuộc xây dựng đất nước
trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau

của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Những quan điểm đó là những nguyên tắc chung định hướng cho công
cuộc đổi mới.
9


2.2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991)
Thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Văn kiện đại hội lần thứ VII đã giải quyết hai vấn đề cơ bản
nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay . Đó là quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Việt Nam với những đặc
trưng cơ bản phản ánh quy luật khách quan phù hợp với điều kiện thực tiễn
Việt Nam và những hình thức, con đường và biện pháp thực hiện thành công
chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Cương lĩnh của Đảng do đại hội VII thông qua đề ra những đặc trưng của
xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta sẽ xây dựng. những đặc trưng này
xuất phát từ nguyên lý cơ bản của chủ nghiã Mác – Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, từ những thành tựu đã được tổng kết qua các
kỳ đại hội, nhân dân lao động làm chủ xã hội có một nền kinh tế phát triển
cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất chủ yếu, có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, con người
được giải phóng khỏi ách áp bức bất công, làm theo năng lực, hưởng theo
lao động, có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện cá nhân các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước
trên thế giới. Thực chất của những đặc trưng nói trên là cụ thể hoá thêm một
bước nữa mục tiêu, lý tưởng được đề ra từ khi thành lập Đảng thể hiện một
cách sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thể hiện sự nhận
thức sâu sắc hơn về thời kỳ quá độ, thời kỳ chuyển biến cách mạng lên chủ

đề phát triển trí tuệ người Việt Nam thể hiện trong khoa học công nghệ và
giáo dục đào tạo. Đó là một bước phát triển quan trong về lí luận và thực
tiễn cách mạng ở nước ta.
Cùng với sự phát triển kinh tế, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội trong cả các khâu phân phối lực lượng sản xuất, kết quả sản xuất tạo
điều kiện phát huy khả năng của người lao động, giải quyết các vấn đề xã
hội để làm cho mọi người mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no hạnh phúc,
11


ai cũng có việc làm, cơm ăn áo mặc, được học hành…từng bước thực hiện
sự mong mỏi của chủ tịch Hồ Chí Minh. Tăng cường khối đại đoàn kết dân
tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, xây dựng hoàn thiện nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được đại hội VIII cuả Đảng phát triển cao hơn
một bước. Lấy đại nghĩa dân tộc làm điểm tương đồng đồng thời chấp nhận
những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc
Cùng nhau xoá bỏ định kiến, mặc cảm hướng tới tương lai, xây dựng tinh
thần đại đoàn kết cởi mở, tin cậy. Đó thực sự là sự phát triển trong chiến
lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới.
Xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ xã hội chủ
nghĩa, xây dựng cơ chế làm chủ của dân bao gồm làm chủ gián tiếp, làm chủ
trực tiếp cùng các hình thức tự quản ở cơ sở là bước phát triển và cụ thể hoá
tư tưởng dân chủ của cương lĩnh.
Những quan điểm của Đại hội VIII của Đảng đã đi vào cuộc sống nó sẽ
được tiếp tục phát triển bổ sung, ngày càng làm rõ hơn con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội của đất nước ta.
2.4. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001)
Qua mỗi chặng đường cách mạng của mình Đảng và nhân dân ta nhận
thức ngày càng sâu sắc đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội.Những nội dung về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên

văn minh”. Như vậy so với giai đoạn trước các đại hội trước, đại hội IX đã
bổ sung thêm từ “dân chủ” vào trong mục tiêu để phản ánh đầy đủ hơn, rõ
rang hơn nhận thức của chúng ta về vấn đề dân chủ, vấn đề bản chất của chủ
nghĩa xã hội
*Về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phát triển quá độ lên
chủ nghĩa xã hội bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu kế thừa những thành
tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản, đặc biệt là về khoa học công
nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất xây dựng nền kinh tế hiện đại.

13


Đồng thời từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp định
hướng xã hội chủ nghĩa
Trong thời kì quá từng bước tạo ra những nhân tố mới tiến bộ tạo ra sự
biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực. Đây là thời kỳ khó khăn
phức tạp có sự đan xen quyết liệt giữa cái mới và cái cũ giữa những nhân tố
của chủ nghĩa xã hội với cái không phải là chủ nghĩa xã hội cho nên tất yếu
thời kỳ quá độ phải lâu dài, nhiều chặng nhiều hình thức tổ chức kinh tế có
tinh chất quá độ
Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở
Việt Nam là con đường rút ngắn và cần phải áp dụng phương thức quá độ
gián tiếp tiến dần từng bước.
Phát triển rút ngắn là kiểu phát triển không tuần tự đối với một quốc gia
dân tộc trong những hoàn cảnh điều kiện lìch sử cụ thể nhất định để đi tới
chủ nghĩa xã hội, không phải trải qua giai đoan phát triển tư bản chủ nghĩa.
Phát triển rút ngắn là hình thức đặc thù dân tộc của tính phổ biến thế giới do
thời đại mới của lịch sử quy định. Đó chính là thời đại quá độ từ chủ nghĩa

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đặc trưng thứ nhất: Mục đích của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
là phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại gắn liền với quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản
lý và phân phối.
Đặc trưng thứ hai: Thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu, những
sở hữu công cộng (công hữu) về tư liệu sản xuất chủ yếu từng bước được
xác lập và chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã hội được xây dựng xong
về cơ bản.
Đặc trưng thứ ba: Có nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc.
Đặc trưng thứ tư: Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng kinh tế thị trường để
15


kích thích sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế, khắc phục mặt tiêu
cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động của toàn
thể nhân dân.
Đặc trưng thứ năm: Thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế, phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác và sản
xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
Đặc trưng thứ sáu: Tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và
công bằng trong từng bước phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát
triển văn hoá, giáo dục, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ
vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân , nâng cao dân trí, giáo
dục và đào tạo con người, xây dựng và phát triển nguồn lực của đất nước.

* Nền tảng tư tưởng của Đảng và nhân dân ta
Đại hội IX tiếp tục khẳng định:chủ nghĩa Mac-lênin và tư tưỏng Hồ Chí
Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách
mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước
ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hoá của nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người về độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa
xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về sức mạnh của
nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc về quyền làm chủ của nhân dân, xây
dựn nhà nước thực sự của dân do dân và vì dân, về quốc phòng toàn dân,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân về phát triển kinh tế và văn hoá,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, về đạo
đức cách mạng cho đời sau, về xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, cán
bộ đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ thật trung thành của nhân
dân. Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta
giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta. Trên đây
17


là những nội dung chủ yếu liên quan trực tiếp đến lý luận và thực tiễn về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được đại hội Đảng lần IX làm
sáng tỏ và bổ sung.
Với những kết quả này rõ ràng đại hội IX thực hiện được một yêu cầu rất
quan trọng là làm sang tỏ hơn nữa về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta chỉ ra những điều đã rõ, đã sang tỏ hơn và cả những
điều cần phải tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vừa khẳng định cương
lĩnh đường lối, quan điểm đúng đắn của Đảng đã được vạch ra tại các đại hội

Văn kiện Ðại hội X đã cụ thể hóa những phương hướng trên đây thành
các nội dung sau:
- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ðây là
một đột phá lý luận rất sáng tạo của Ðảng ta. Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam.
Dựa trên thành quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn những năm qua,
Văn kiện Ðại hội X đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm "định hướng xã hội
chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường", qua đó bác bỏ quan điểm phủ nhận
định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường.
Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường có
nghĩa là:
+ Thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh"; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất,
nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích
mọi người vươn lên làm giàu chính đáng...
+ Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong
đó có kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
+ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng
chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế,
giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,
19


đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua
phúc lợi xã hội.
+ Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý,
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự

- Phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyềnxã hội
chủ nghĩa. Phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là mục
tiêu và bản chất của chế độ ta. Ðể thực hiện mục tiêu đó, vấn đề trung tâm là
phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thật sự của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ
yếu bằng nhà nước, thông qua nhà nước dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Nhà
nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện
Ðại hội X đã nhấn mạnh vấn đề "xây dựng một xã hội dân chủ"; xây dựng
cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng,
hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi
mới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên
quyết chống tham nhũng, lãng phí.
- Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Trong điều kiện mới phải nhận thức sâu sắc mối quan hệ
này cũng như quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh - đối ngoại,
giữa thế trận quốc phòng với thế trận an ninh; nhận thức sâu sắc và toàn diện
hơn khái niệm "an ninh quốc gia" và khái niệm "bảo vệ Tổ quốc", từ đó đề
ra các chủ trương, chính sách phù hợp.
- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là đường lối chiến
lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết
định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Văn kiện Ðại hội X đã nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục đổi mới phương
thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc
tế. Văn kiện Ðại hội X đã nêu bật đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa,
21



mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sau khi
hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thì Việt Nam sẽ tiến ngay
lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa. Nhất quán tinh thần đó miền Bắc tiến hành xây dựng xã hội chủ
nghĩa từ tháng 7 năm 1954 và sau thắng lợi lịch sử mùa xuân 1975 cả nước
ta bước vào thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là thời kỳ mà bên
cạnh tàn dư của xã hội cũ thì những nhân tố của xã hội mới- xã hội chủ
nghĩa từng bước được hoàn thành, hoàn thiện
Trong thời đại ngày nay, sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
của Đảng và nhân dân ta là duy nhất đúng đắn. Tính đúng đắn đó thể hiện ở
chỗ sự lựa chọn đó vừa phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử vừa phù
hợp với thực tiễn của cách mạng Việt Nam

23


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
1996.
2/ Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội 1995
3/Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng lao động Việt
Nam
4/ Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
V, nhà xuất bản sự thật Hà Nội, 1982
5/ Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI, nhà xuất bản sự thật Hà Nội 1987
6/ Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, nhà xuất bản sự thật Hà Nội 1991
7/ Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, 1996


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status