TIỂU LUẬN
Đề tài:
Quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng
về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
TP.HCM – 2016
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU.........................................................................................................................................2
I. Lý do chọn đề tài...........................................................................................................................2
II. Mục đích......................................................................................................................................3
III. Mục tiêu......................................................................................................................................4
B. NỘI DUNG......................................................................................................................................4
I. Nền tảng của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.........................................................4
I.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội............................................................................................................................................4
I.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - lênin về chủ nghĩa xã hội.............................................4
I.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội................9
I.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đườngg đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta.................................................................................................................................................11
I.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...................11
I.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam............................12
II. Tính tất yếu và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam...............................................13
II.1. Tính tất yếu của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta..........................................13
II.2 Con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.................................................................14
III. Quá trình hình thành hệ thống quan điểm của Đảng về con đường chủ nghĩa xã hội ở nước ta
........................................................................................................................................................16
bước ta phải đi theo, nó là một sự tất yếu. Nắm bắt được điều đó Chỉ tịch Hồ Chí
minh đã lựa chọn cho cách mạng Việt Nam đi theo Chủ nghĩa xã hội dựa trên tư
tưởng của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có sự nghiên cứu để phù
hợp với tình hình của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tuy nhiên quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng về con
đường chủ nghĩa xã hội không hề đơn giản. Nó là một quá trình xuyên suốt gắn liền
với tình hình lịch sử và gắn liền với các đại hội của nước ta. Các quan điểm ấy được
thể hiện bằng các văn kiện trong các kỳ đại hội của Đảng từ khi thành lập đến nay.
Trên con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội Đảng ta gặp không ít khó khăn do
nước ta xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu lại trải qua nhiều cuộc đấu tranh
bảo vệ đất nước. Nhưng Đảng ta luôn luôn kiên định giữ vững lập trường không từ bỏ
con đường mà Bác Hồ đã chọn, cố gắng đưa đất nước từ từ đi lên.
Đến nay Đảng và nhà nước ta đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đạt được thành quả đó trước hết là nhờ sự lựa chọn đúng
đắn của Đảng và Bác Hồ, tiếp đến là sự nỗ lực trong quá trình xây dựng các hệ thống
quan điểm vững vàng, cẩn trọng trong từng đường đi nước bước. Vì vậy việc nghiên
cứu Quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng về con đường đi lên Chủ
nghĩa xã hội là rất quan trọng, để nâng cao một bước nhận thức lý luận và củng cố
niềm tin và thắng lợi xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
II. Mục đích
Hiểu được nền tảng các quan điểm của hệ thống chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nắm được quá trình hình thành các hệ thống quan điểm của Đảng thông qua
các kỳ đại hội Đảng và một số văn kiện quan trọng.
III. Mục tiêu
Tìm hiểu một số vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về Chủ nghĩa xã hội.
Tìm hiểu quá trình hình thành hệ thống quan điểm của Đảng và các kỳ đại hội
đổ chế độ cũ thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải “đưa vấn đề sở
hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào, không kể nó đã
phát triển đến thế nào”.
Chủ nghĩa xã hội là sự xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, xây dựng
chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất. Mác - Ăngghen đã phân tích mâu thuẫn cơ
bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mang tính xã hội hóa
cao với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; luận chứng tất yếu xã hội phải
trực tiếp chiếm hữu tư liệu sản xuất. Vì vậy xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng chế độ
công hữu là tiêu chí đầu tiên của chủ nghĩa xã hội. Mục đích của chủ nghĩa cộng sản
không phải là xóa bỏ hoàn toàn mọi thứ sở hữu; chủ nghĩa xã hội không tước bỏ
quyền chiếm hữu sản phẩm xã hội của những người lao động mà chỉ tước bỏ quyền
dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. Rõ ràng là đặc trưng của
chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xóa bỏ chế
độ sở hữu tư sản. Theo hai ông xóa bỏ tư hữu tư bản vì nó là nguồn gốc đẻ ra mọi áp
bức, bóc lột, bất bình đẳng.
Kế thừa những tư tưởng trên, LêNin nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc xóa
bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Mặc dù không gọi việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư
bản chủ nghĩa là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, song Lênin cũng cho rằng chế độ sở
hữu tư bản chủ nghĩa là nguồn gôc gây ra mọi đau khổ của quần chúng nhân dân lao
động. Vì vậy để giải phóng người lao động cần phải xóa bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ
nghĩa. Xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất là việc làm cần
thiết và coi đó là mục tiêu đấu tranh của giai cấp vô sản là biến mọi tư liệu sản xuất
trở thành sở hữu xã hội. Chỉ có chấm dứt nạn tư bản bóc lột nhân dân lao động, tưc là
xóa bỏ chế độ tư hữu về công cụ lao động, trao tất cả các công xưởng, nhà máy và
hầm mỏ cho toàn xã hội thì người lao động mới được hưởng sản phẩm lao động do
tập thể làm ra.
Cùng với việc xóa bỏ chế độ tư hữu của bọn địa chủ và tư sản là việc thiết lập
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các ông coi đó là mục tiêu của chủ nghĩa xã
mọi thành viên trong xã hội thì việc quản lý các ngành sản xuất không thể là công
việc của tất cả các thành viên trong xã hội. Kế thừa những quan điểm đó Lênin còn
nêu rõ nguyên nhân chủ nghĩa xã hội tạo ra năng xuất lao động cao hơn so với chủ
nghĩa tư bản ngoài cơ sở vật chất là nền đại công nghiệp hiện đại, còn do những yếu
tố vốn có của chủ nghĩa xã hội, đó là cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới.
Nhưng muốn có được cách tổ chức, quản lý cần phải học tập và tiếp thu những tiến
bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản.
5. Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động
Nguyên tắc phân phối theo lao động tức là việc phân phối tư liệu sinh hoạt cho
mỗi người sản xuất, “sẽ do thời gian lao động của người đó quyết định”, bởi vì thời
gian lao động là cái để do phần tham gia của cá nhân người sản xuất vào lao động
chung và do đó, cả cái phần tham dự của anh ta vào bộ phận có thể sử dụng cho tiêu
dùng cá nhân trong toàn bộ sản phẩm. Nhưng phương thức phân phối đó sẽ thay đổi
tùy theo bản thân loại cơ cấu sản xuất xã hội và tùy theo trình độ phát triển lịch sử
tương ứng của những người sản xuất. Phân phối theo động là cách thức phân phối
trong giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cách thức này hợp với chủ nghĩa
xã hội vì:
Thứ nhất: trong chủ nghĩa xã hội của cải làm ra chưa đạt đến mức thật dồi
dào, lao động còn là nghĩa vụ, là phương tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu
cầu bậc nhất của đời sống nhu dưới chủ nghĩa cộng sản.
Thứ hai: Chủ nghĩa xã hội ra đời và phát triển chưa phải là dựa trên những cơ
sở riêng của bản thân nó mà là thoát thai từ xã hội cũ, cho nên vẫn còn những dấu vết
của xã hội cũ.
Thứ ba: Dưới chủ nghĩa xã hội vẫn còn những người trốn tránh lao động,
muốn làm ít hưởng nhiều, tránh việc nặng tìm việc nhẹ. Vì thế Lênin cho rằng xã hội
phải kiểm tra, kiểm soát nghiêm mức độ lao động và tiêu dùng của từng người.
6. Chủ nghĩa xã hội khi đã xây dựng xong, Chủ nghĩa cộng sản được thực hiện thì xã
hội sẽ không còn giai cấp
Lênin khẳng định cuộc cách mạng của giai cấp vô sản sẽ hoàn toàn xóa bỏ sự
phân chia xã hội thành giai cấp và do đó sẽ xóa bỏ mọi sự bất bình đẳng xã hội và bất
bình đẳng chính trị do sự phân chia đó gây ra. Nói cách khác, cơ sở của mọi sự bất
bình đẳng xã hội và bất bình đẳng chính trị là do sự phân chia giai cấp gây ra. Để xóa
bỏ mọi bất bình đẳng xã hội và bất bình đẳng chính trị cần xóa bỏ sự phân chia xã hội
thành giai cấp và chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được vấn đề đó. Tuy nhiên
dưới chủ nghĩa xã hội, bình đẳng không có nghĩa là ngang nhau về mọi phương diên
mà phải luôn hiểu rằng đó là sự bình đăng xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội của con
người.
I.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Nói về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ,
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa có tính phổ biến vừa mang nét đặc thù, các
dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau mà mang theo đặc
điểm của dân tộc mình.
Những phác thảo ban đầu về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội khác về chất so
với các xã hội trước đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng bước đầu nêu ra một số cách
thức, biện pháp để đi lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ nhất, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cơ sở kinh tế,
chính trị, xã hội, và đời sống tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Khi khẳng định sự sụp
đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu, Mác - Ăngghen cũng
khẳng định tính tất yếu của cuộc cách mạng cộng sản, cách mạng công nhân, cách
mạng vô sản, thực chất là cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Hai là, xác định rõ thực chất, nội dung, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, các hình thưc quá độ phù hợp với từng quốc gia.
Căn cứ vào những luận điểm về phạm trù thời kỳ quá độ của C.Mác nêu trong
“Phê phán cương lĩnh Gôta”, Lênin đã phân chia quá trình hình thành và phát triển
của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1. “Những cơn đau đẻ kéo dài”
“không phải quốc gia dân tộc nào cũng đều trải qua các bước phát triển tuần tự như
vậy”. Người sớm đến với tư tưởng quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải
qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ đặc điểm lịch sử truyền thống dân
tộc: nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mang đậm dấu ấn phong kiến
phương đông, mâu thuẫn giai cấp không gay gắt, quyết liệt, kéo dài, như ở phương
Tây, do đó hình thành quốc gia dân tộc từ sớm; ngay từ buổi đầu dựng nước, chúng ta
liên tục phải đấu tranh chống ngoại xâm, hình thành chủ nghĩa yêu nước truyền
thống; là nước nông nghiệp, lấy đất và nước làm nền tảng với chế độ công điền hình
thành cộng đồng bền chặt. Tất cả điều này là giá trị cơ bản của tinh thần và tư tưởng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Tinh thần yêu nước, yêu thương đùng bọc trong hoạn
nạn đấu tranh, cố kết cộng đồng quốc gia dân tộc.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ truyền thống văn hóa lâu đời, bản
sắc riêng. Đó là nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, trừ độc, trừ tham, trọng đạo lý;
nền văn hóa mang tính dân chủ; có tính chất khoan dung; một dân tộc trọng hiền tài,
hiếu học. Hồ Chí Minh đã quan niệm Chủ nghĩa xã hội là thống nhất với văn hóa, chủ
nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn so với chủ nghĩa tư bản về mặt văn hóa
và giải phóng con người.
Hồ Chí Minh còn tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ tư duy triết học phương
Đông: Coi trọng hòa đồng, đạo đức nhân nghĩa.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ yêu cầu thực tiến của cách mạng
Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại.
Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ thứ XX đặt ra yêu câu khách quan là tìm một
ý thức hệ mới đủ sức vạch ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn đem lại
thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Trong khi đó thắng lợi của cách mạng tháng 10
Nga đã mở ra con đường hiện thực giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, đó là thực
tiễn đã mở ra cho cách mạng Việt Nam.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh là kết quả tác động tổng hợp
khoa học, hoàn chỉnh, hệ thống, dựa trên học thuyết hình thái kinh tế -xã hội của
Mác, đồng thời có bổ sung thêm một số đặc trưng khác phản ánh truyền thống, đặc
điểm của Việt Nam. Những đặc trưng này đã bao quát tất cả các mặt của đời sống xã
hội và chứa đựng trong đó một hệ thống các giá trị đặc thù, mà giá trị trung tâm là
con người với các lợi ích của nó. Đây là mô hình cấu trúc chủ nghĩa xã hội theo quan
niệm Hồ Chí Minh.
II. Tính tất yếu và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
II.1. Tính tất yếu của con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi
quốc tế là quy luật phát triển của xã hội loài người.
Dựa vào học thuyết hình thái kinh tế - xã hội Người khẳng định, sự ra đời của chủ
nghĩa xã hội là một tất yếu kinh tế, nguyên nhân sâu xa là sự phát triển của sức sản
xuất xã hội. Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là do nhu cầu giải phóng con người một
cách triệt để (theo 3 trình độ từ thấp đến cao: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng từng cá nhân để hình thành những nhân cách phát triển toàn diện).Sự ra đời
của chủ nghĩa xã hội là một tất yếu đạo đức xã hội (Người lý giải theo quy luật đấu
tranh giữa thiện - ác, tốt - xấu và quy luật chung là cái thiện, cái tốt nhất định sẽ chiến
thắng cái ác, cái xấu).
Trong Thường thức chính trị Người viết: “Chủ nghiac cộng sản ra đời thì lúc đó
mọi người đều sống có đạo đức”.Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là một tất yếu của văn
minh nhân loại.
Chủ nghĩa xã hội ra đời là do tác động của tất cả các nhân tố: kinh tế, chính trị,
đạo đức, xã hội, văn hoá. Do vậy, sự ra đời của nó là không cưỡng lại được. Người nói:
Không có một lực lượng nào ngăn trở được mặt trời mọc. Không có một lực lượng nào
ngăn trở được xã hội loài người tiến lên. Không có một lực lượng nào ngăn trở Chủ
nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, sự ra đời của CNXH ở Việt Nam cũng là một sản phẩm tất
yếu của quá trình phát triển lịch sử. Bởi vì:
có tính chất khác nhau, trong đó Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản
của thời kỳ quá độ. Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu
hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém.
Thứ hai: Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa có hòa bình,
vừa có chiến tranh; đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục hoàn thành Cách mạng dân tộc, dân
chủ nhân dân ở miền Nam. Hai cuộc cách mạng này quan hệ chặt chẽ với nhau, phản
ảnh đúng thực chất và quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba: Về phương diện quốc tế sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Chủ nghĩa xã hội đã thành công ở một loạt
nước, chúng ta nhận được sự hỗ trợ, hợp tác mạnh mẽ từ bên ngoài, theo tinh thần
quốc tế chân chính, nhưng mặt khác lại luôn luôn bị chủ nghĩa đế quốc tìm cách phá
hoại công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó buộc chúng ta phải có ý
thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, hạn
chế những khó khăn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Về nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
bao gồm hai nội dung lớn:
Thứ nhất: Xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây
dựng các tiền đề kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội để chủ
nghĩa xã hội có thể phát triển trên cơ sở chính nó.
Thứ hai: Cải tạo xã hội, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng,
trong đó lấy xây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài.
Trong tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chí Minh về bước đi của thời kỳ quá độ ở Việt
Nam là phải qua nhiều bước, “bước ngắn, bước dài, tùy theo hoàn cảnh”, nhưng chớ
ham làm mau, ham rầm rộ…Đi bước nào vững chắc bước ấy, cứ tiến dần dần.
Về phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam, Người luôn nhắc nhở phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo,
Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 5 (3/1948) đã nêu lên những
quan điểm sau đây: Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội, các nước dân chủ mới cần có 3
điều kiện:
- Quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản ngày một vững chắc.
- Thành phần kinh tế xã hội hóa ngày một rộng lớn mà có thể lấn dần kinh tế tư
nhân.
- Được các nước xã hội chủ nghĩa thành công và các nước dân chủ khác giúp
đỡ.
Quá trình tiến dần từ dân chủ mới lên chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh
lâu dài, khó khăn, về quân sự chính trị, kinh tế và hành chính, văn hóa giáo dục. Nhờ
Liên Xô và các nước dân chủ mới giúp sức, nhờ chính quyền nhân dân do công nhân
lãnh đạo ngày một củng cố có thể bước tới chủ nghĩa xã hội.
III.1.2. Quan điểm của Đảng trong đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng(2/1951)
Những quan điểm sau đây đã được nêu lên trong Chính cương của Đảng Lao
động Việt Nam.
Cách mạng Việt Nam mang tính chất một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, có nhiệm vụ phản đế, phản phong phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Những nhiệm vụ đó quan hệ khăng khít với nhau, nhưng
trước mắt, tập chung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Trong quá trình chủ yếu của nó, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt
Nam chưa vượt quá khuôn khổ dân chủ tư sản. Nhưng phát triển đến một mức nào đó
thì cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân sẽ chuyển thành cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Thực chất cuộc cách mạng này là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới tiến triển
thành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Con đường đi lên của cách mạng này là con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường đấu tranh lâu dài, trải qua 3 giai
đoạn.
Giai đoạn 1: Nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc.
Giai đoạn 2: Nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ tàn tích phong kiến, thực hiện người
đã hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, lực lượng xã hội chủ nghĩa trên thế giới
đang lớn mạnh. Đại hội đã đề ra đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa
trong giai đoạn mới: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể
của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan
hệ sản xuất; cách mạng về khoa học kỹ thuật; cách mạng về tư tưởng văn hóa, trong
đó cách mạng về quan hệ khoa học kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa
xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột
người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác; thường xuyên
củng cố quốc phòng; giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành
công tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần
tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện đường kinh tế đó, chúng ta đã đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối
với công thương nghiệp tư bản tư doanh, đối với tiểu công nghiệp và thủ công
nghiệp, đối với thương nghiệp nhỏ ở miền Nam. Song kết quả của cải tạo xã hội chủ
nghĩa lại làm cho nền kinh tế đất nước rơi vào khủng hoảng .Trong bối cảnh đó, Hội
nghị trung ương lần thứ 6 khóa IV đã tập trung tìm mọi cách cho sản xuất “bung ra”-
mà trước hết là tạo sự phát triển vượt bậc của nông nghiệp là tiêu điểm đáng chú ý
của Hội nghị này.
Trên lĩnh vực công nghiệp, chủ trương “ba phần kế hoạch và mở rộng hình
thức trả lương khóa, lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các
đơn vị sản xuất, kinh doanh của Nhà nước được áp dụng.Trên lĩnh vực cải tạo xã hội
chủ nghĩa, vấn đề tận dụng sức mạnh của các thành phần kinh tế đã được đặt ra; xuất
phát từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức sản xuất thích
hợp; chính sách đối với thành kinh tế các thể từng bước được mềm hóa cho đúng thực
tế hơn.
quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật khách quan là
iều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Ba là: Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong
điều kiện mới.
Bốn là: Phải xây dựng Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị của một Đảng
ầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động với tư cách là động lực
của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó công tác vận động quần chúng,
phải quán triệt sâu sắc các nguyên tắc chỉ đạo sau:
Một là: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân, vì dân.
Hai là: Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực
của nhân dân và kết hợp hài hòa các mục tiêu, thống nhất quyền lợi Vi nghĩa vụ công
dân.
Ba là: Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng
Bốn là: Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và các đoàn
thể.
Những quan niệm nhận thức của Đảng ở Đại hội VI đặt cơ sở cho sự hình
thành lý luận đổi mới, mà còn xây dựng những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thông qua đổi mới, như một cuộc cảibiến
cách mạng lâu dài, toàn diện và triệt để có kế thừa và có phát triển.
III.2.2. Quan điểm của Đảng trong đại hội VII (6/1991)
Đảng ta đã xác định phương hướng để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội đó là:
- Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân, do
giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp tri thức làm nền tăng dưới sự lãnh
đạo của Đảng.
- Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đai,
gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm nhằm
từng bước xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng
Nét nổi bật của Đại hội VIII của Đảng là khẳng định mạnh mẽ, kiên định con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội phê phán nghiêm khắc những khuyết điểm lệch lạc lớn
và kéo dài, đẫn đến chệch hướng mà hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ (khóa VIII) đã
nêu ra là nguy cơ không thể xem nhẹ.
Ý nghĩa lịch sử trọng đại của Đại hội VIII của Đảng là đề ra nục tiêu cho một
giai đoạn tương đối dài của đất nước đến năm 2020: hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ
biến nước ta thành một nước công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, với nội dung cơ bản là có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm chăm lo phát triển nguồn lực con
người và thức hiện công bằng xã hội; trong đó nổi bật là vấn đề phát huy trí tuệ người
Việt Nam thể hiện trong khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo. Đó là một bước
phát triển quan trọng về lý luận và thực tiễn cách mạng ở nước ta.
Cùng với sự phát triển kinh tế, gắn với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
trong cả các khâu phân phối lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát huy khả năng của
người lao động, giải quyết các vấn đề xã hội để làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến
tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, được học
hành, chữa bệnh, từng bước thực hiện điều mong ước của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.Tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, pháy huy vai trò làm chủ của nhân dân,
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Đại hội VIII
của Đảng phát triển cao hơn một bước.
Xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa,
xây dựng cơ chế làm chủ của nhân dân, bao gồm làm chủ gián tiếp, làm chủ trực tiếp
cùng các hình thức tự quản ở cơ sở là bước phát triển và cụ thể hóa tư tưởng dân chủ
của Cương lĩnh. Trên con đường đi tới năm 2020, giai đoạn 1996 – 2000 đóng vai trò
quan trọng, đạt nền móng co việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các giai
biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực.
Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt
Nam là con đường rút ngắn và cần phải áp dụng phương thức qua độ gián tiếp, tiến
dần từng bước.
* Về mô hình kinh tế tổng quát
Lần này Đại hội IX đưa ra khái niệm: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa” với nội hàm vẫn là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, nhưng có một bước phát triển mới so với các Đại hội VI, VII, VIII. Đó là đã
khái quát được các đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa.
* Về đấu tranh giai cấp và động lực phát triển đất nước
Đại hội IX khẳng định: Trong thời kỳ quá độ có nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội
khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp đã thay đổi nhiều cùng với
những biến đổi to lớn về kinh tế xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp
xã hội là mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác
lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Lợi ích cơ bản lâu dài của các giai cấp thống nhất với lợi ích của dân tộc trong
mục tiêu chung là độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đảng ta đã chỉ rõ động lực chủ yếu để phát triển
đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân