con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam qua các văn kiện đại hội đảng từ đại hội i đến đại hội xi - Pdf 24

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 2
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1. Mục đích nghiên cứu: 4
3.2. Đối tượng nghiên cứu 5
3.3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài: 5
5. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn 5
6. Kết cấu của đề tài: 5
CHƢƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ TƢ
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƢỜNG
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 7
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội. 7
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - lênin về chủ nghĩa xã hội 7
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội. 16
1. 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội. 21
1.2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
21
1.2.2 Nhận thức của Hồ Chí Minh về tính tất yếu khách quan của chủ nghĩa
xã hội. 23
1.2.3 Quan điểm Hồ Chí Minh về bản chất và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.
25
1.2.4 Về con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 28
CHƢƠNG 2: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG TA VỀ CON ĐƢỜNG ĐI LÊN
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM QUA CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI
CỦA ĐẢNG (TỪ ĐẠI HỘI I ĐẾN ĐẠI HỘI XI), VÀ Ý NGHĨA TRONG

Trải qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử, ý tưởng đó được thể hiện dưới
nhiều hình thức và mức độ, phương pháp khác nhau, song đều góp phần làm
phong phú thêm kho tàng tư tưởng Xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng thức tỉnh
nhiều cuộc đấu tranh của nhân loại vì một xã hội tiến bộ và tốt đẹp hơn.
Giữa thế kỷ thứ XIX Mác-Ăngghen với sự vận dụng chủ nghĩa duy
vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng trên cơ sở phân tích sâu sắc mâu
thuẫn cơ bản của xã hội loài nguời, đặc biệt là những mâu thuẫn trong xã hội
tư bản chủ nghĩa, hai ông đã sáng lập ra một học thuyết khoa học và cách
mạng đó là lý tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học.
Lý tưởng về một xã hội mà ở đó "sự phát triển tự do của một người là
điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" vẫn là ngọn cờ tư
tưởng của hàng triệu, triệu con người đang phấn đấu xây dựng một cuộc sống
công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là một quy luật tất yếu, khách quan
Sự lựa chọn mục tiêu phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam
cũng không nằm ngoài sự tất yếu ấy. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là
mục tiêu bất biến mà nhân dân ta đã kiên trì phấn đấu hy sinh, theo đuổi suốt
hơn 80 năm qua duới sự lãnh đạo của Đảng. Bằng kinh nghiệm lịch sử của
mình, nhân dân ta đã thấm lới dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng '' nếu nước
được độc lập mà nhân dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập
cũng chẳng có nghĩa lý gì"
Tuy nhiên quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội không hề dơn giản,
con đường đi tới Chủ nghĩa xã hội không bằng phẳng, trơn tru, không ít khó

2
khăn và thậm trí mắc phải những sai lầm, thất bại, đặc biêt là sau khi mô hình
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì một số phần tử phản động,
dao động trong và ngoài nước đã gióng lên luận điệu xuyên tạc, lạc lõng, yêu
cầu chúng ta phải từ bỏ sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa. Nhưng với
sự kiên định của mình, Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt
Nam vững bước tiến lên trên con đường đã chọn. Và sự nghiệp đổi mới theo

quan trọng hàng đầu của bản chất của chủ nghĩa xã hội. Xóa bỏ bóc lột, xóa bỏ
phân hóa hai cực, cuối cùng tiến tới cùng giàu; giữ vững và hoàn thiện, phát triển
chế độ công hữu và phân phối theo lao động. Các tác giả còn cho rằng kinh tế kế
hoạch không phải là đặc trưng, bản chất của chủ nghĩa xã hội.
Ở Việt Nam trong những năm qua đã có rất nhiều cuộc hội thảo, nhiều
bài phát biểu của các nhà lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước, nhiều bài viết trên
sách, báo, tạp chí chuyên ngành bàn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (đặc biệt là trước và sau Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI của Đảng, sau khi công cuộc đổi mới đất nước thực hiện được
25 năm và 20 năm thực hiện cương lĩnh 1991) như: Đồng chí Tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu tại trường Đảng cao cấp Ni-cô-lô-pết –
Cu Ba đã đề cập tới vấn đề “chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội – nhìn từ thực tiến Việt Nam”. Trong bài phát biểu này đồng chí Tổng
bí thư đã tập trung trả lời các câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt
Nam lựa chọn con đường xẫ hội chủ nghĩa ? Làm cách nào và bằng cách nào
để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ? Thực tiễn công
cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong 25 năm qua có ý
nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì ?

4
Hay đề cập đến vấn đề “Từ thực tiễn đổi mới đến nhận thức lý luận mới
về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1986 - 2011)” GS.TS Hoàng Chí Bảo đã đưa
ra các tác động cảu tình hình thế giới và trong nước tới công cuộc đổi mới,
thời cơ, thách thức và những quan điểm chủ yếu của quá trình đổi mới tư duy
lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2011.
Trong cuốn “Những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm và PGS.TS Đỗ
Thị Thạch đã khái quát lại những vấn đề cơ bản trong nhận thức về chủ nghĩa
xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong 25 năm đổi mới và 20

chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp so sánh, hệ thống, lôgíc và lịch sử,
phân tích và tổng hợp lý thuyết từ các văn kiện đại hội.
Kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài trên các
sách, báo, tạp chí ở Việt Nam.
5. Đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn.
- Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí minh,
đề tài nghiên cứu một cách hệ thống nhất những quan điểm cơ bản của Đảng
ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội qua các kỳ đại hội từ Đại hội I đến
Đại hội XI.
- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu giúp cho việc học tập, giảng
dạy lý luận về chủ nghĩa xã hội cho sinh viên chuyên ngành chủ nghĩa xã hội
khoa học hoặc giáo dục chính trị
6. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
gồm có 2 chương, 5 tiết.

6
Chƣơng 1: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về chủ nghĩa xã hội và con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội
1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội
Chƣơng 2: Quan điểm của Đảng ta về con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam qua các văn kiện Đại hội của Đảng (Từ Đại hội I đến Đại hội
XI)- và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở nƣớc ta hiện nay.
2.1 Quan điểm của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam từ Đại hội I đến Đại hội V.
2.2 Quan điểm của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam từ Đại hội VI đến Đại hội XI

phẩm của nền đại công nghiệp cơ khí, chính vì thế, nếu không có kỹ thuật của tư

8
bản chủ nghĩa quy mô lớn được xây dựng trên cơ sở những phát minh mới nhất
của khoa học hiện đại thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được
Lênin cũng đánh giá cao những thành tựu của chủ nghĩa tư bản trong
lĩnh vực công nghiệp, đặc biệt là những thành tựu công nghiệp ở Đức và Mỹ.
Ông nhắc nhở mọi người phải chủ động học tập, tiếp thu, lấy những cái tốt
của nước ngoài như: trật tự đường sắt phổ với kỹ thuật và cách tổ chức của
các tờ rớt Mỹ
2.Chủ nghiã xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế
độ công hữu
Mác – Ăngghen quan niệm rằng mọi cuộc cách mạng xã hội nhằm lật
đổ chế độ cũ thiết lập chế độ xã hội mới bao giờ cũng phải “đưa vấn đề sở
hữu lên hàng đầu, coi đó là vấn đề cơ bản của phong trào, không kể nó đã
phát triển đến thế nào” [23; 646]
Chủ nghĩa xã hội là sự xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa,
xây dựng chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất. Mác - Ăngghen đã phân
tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: mâu thuẫn giữa lực lượng sản
xuất mang tính xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất; luận chứng tất yếu xã hội phải trực tiếp chiếm hữu tư liệu sản xuất. Vì
vậy xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng chế độ công hữu là tiêu chí đầu tiên
của chủ nghĩa xã hội. Mục đích của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ
hoàn toàn mọi thứ sở hữu; chủ nghĩa xã hội không tước bỏ quyền chiếm hữu
sản phẩm xã hội của những người lao động mà chỉ tước bỏ quyền dùng sự
chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác. Rõ ràng là đặc trưng của
chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung mà là xóa
bỏ chế độ sở hữu tư sản.
Theo hai ông xóa bỏ tư hữu tư bản vì nó là nguồn gốc đẻ ra mọi áp bức,
bóc lột, bất bình đẳng.

Cùng với việc xóa bỏ chế độ tư hữu của bọn địa chủ và tư sản là việc
thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các ông coi đó là mục tiêu của
chủ nghĩa xã hội, là kết quả hợp quy luật của sự phát triển xã hội. Vì thế
không phải ngẫu nhiên mà Lênin đã giải thích chủ nghĩa xã hội là chế độ
công hữu về tư liệu sản xuất “Từ chủ nghĩa tư bản, nhân loại chỉ có thể tiến
thẳng lên chủ nghĩa xã hội nghĩa là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất và
chế độ phân phối sản phẩm theo lao động của mỗi người” [15; 220]
Tóm lại thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, đồng thời thiết lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất là một trong những đặc trưng cơ bản, thậm trí
là cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội.
3. Chủ nghĩa xã hội điều tiết một cách có kế hoạch nền sản xuất xã hội
và nền sản xuất hàng hóa về cơ bản sẽ trở nên thừa
Mác - Ăngghen và Lênin đều khẳng định chế độ tư bản chủ nghĩa là
nguyên nhân dẫn tới tình trạng vô chính phủ, tự do, cạnh tranh, cá lớn nuốt cá
bé, để khắc phục tình trạng đó cần phải thủ tiêu chế độ tư hữu tư bản chủ
nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tu liệu sản xuất và sẽ tạo ra khả năng điều
khiển xã hội theo một kế hoạch chung và việc điều tiết nền sản xuất theo một
kế hoạch là một trong những đặc trưng cơ bản, là mục tiêu và thực chất của
chủ nghĩa xã hội
Quan niệm coi việc xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản thiết lập chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở để phát triển nền sản xuất có kế hoạch. Trong
các tác phẩm của mình Ănghen đã coi việc giải phóng tư liệu sản xuất khỏi
những siềng xích mà phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã trói buộc nó
là “điều kiện tiên quyết duy nhất, để bảo đảm cho lực lượng sản xuất phát
triển liên tục với tốc độ ngày càng nhanh và trên thực tế, cho chính ngay sản
xuất tăng lên vô hạn” do đó “việc xã hội chiến hữu tu liệu sản xuất không
những gạt bỏ được những xiềng xích nhân tạo hiện tại đang trói buộc sản xuất

11
mà còn xóa bỏ được sự lãng phí và sự phá hoại trực tiếp những lưc lượng sản

xã hội tạo ra năng xuất lao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản ngoài cơ sở
vật chất là nền đại công nghiệp hiện đại, còn do những yếu tố vốn có của chủ
nghĩa xã hội, đó là cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới. Nhưng
muốn có được cách tổ chức, quản lý cần phải học tập và tiếp thu những tiến
bộ mới nhất của chủ nghĩa tư bản .
Cả Mác - Ăngghen và Lênin đều khẳng định kỷ luật của chế độ nô lệ và
phong kiến là kỷ luật roi vọt, kỷ luật của chủ nghĩa tư bản là kỷ luật đói, kỷ
luật của chủ nghĩa xã hội là kỷ luật tự giác. Theo các ông, kiểu tổ chức lao
động xã hội của chủ nghĩa xã hội sở dĩ cao hơn so với kiểu tổ chức lao động
xã hội của chủ nghĩa tư bản là vì nó dựa vào và sẽ ngày càng dựa vào dựa vào
một kỷ luật tự giác, tự nguyện của chính ngay những người lao động. Song để
có được cách tổ chức lao động mới cần thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm soát
toàn dân, nếu không làm được việc đó thì không thể nào nói đến điều kiện vật
chất thứ hai đẻ bảo đảm việc thiết lập chủ nghĩa xã hội là nâng cao năng suất
lao động.
5. Chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động
Nguyên tắc phân phối theo lao động tức là việc phân phối tư liệu sinh
hoạt cho mỗi người sản xuất, “sẽ do thời gian lao động của người đó quyết
định”, bởi vì thời gian lao động là cái để do phần tham gia của cá nhân người sản
xuất vào lao động chung và do đó, cả cái phần tham dự của anh ta vào bộ phận
có thể sử dụng cho tiêu dùng cá nhân trong toàn bộ sản phẩm. Nhưng phương
thức phân phối đó sẽ thay đổi tùy theo bản thân loại cơ cấu sản xuất xã hội và
tùy theo trình độ phát triển lịch sử tương ứng của những người sản xuất.

13
Giải thích quan điểm của Mác - Ăngghen về phân phối dưới hủ nghĩa xã
hội, Lênin khẳng định, trong giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa,
tức là trong chủ nghĩa xã hội, tư liệu sản xuất không còn là của riêng cá nhân
nữa mà thuộc về toàn xã hội. Vì vậy mỗi thành viên trong xã hội khi đã hoàn
thành một phần lao động nào đó của lao động xã hội tất yếu, thì được xã hội

Lênin chỉ rõ sự ra đời của các giai cấp bắt nguồn từ chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất. Nói cách khác, chế độ tư hữu là nguyên nhân của sự phân chia
xã hội thành các giai cấp và áp bức giai cấp. Vì vậy việc thủ tiêu chế độ tư
hữu sẽ thủ tiêu tình trạng phân chia xã hội thành giai cấp.
Lênin nhận thấy xóa bỏ giai cấp là quá trình khó khăn, phức tạp, không
thể ngay một lúc mà xóa bỏ được. Người ta không thể giải quyết nhiệm vụ đó
bằng cách cải tạo lại toàn bộ nền kinh tế xã hội, bằng cách chuyển từ nền kinh
tế hàng hóa nhỏ cá nhân, riêng lẻ, sang nền kinh tê tập thể lớn.
7. Chủ nghĩa xã hội giải phóng con người khỏi mọi ách áp bức, bóc lột
tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng, giai cấp vô sản ở tất cả các nước
đều chung một mục đích – xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, công
bằng và bình đẳng, một xã hội không có áp bức, bóc lột, đều cùng chung
một lợi ích và cùng đứng trước cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản
trên phạm vi toàn thế giới.
Ănghen coi thắng lợi của giai cấp vô sản đối với giai cấp tư sản là dấu
hiệu giải phóng tất cả các dân tộc bị áp bức và khẳng định: không một dân tộc
nào có thể trở thành tự do trong khi còn tiếp tục áp bức những dân tộc khác.
Xóa bỏ nạn người bóc lột người thì “nạn dân tộc này áp bức dân tộc khác”
mới cỏ thể được xóa bỏ, nhưng muốn vậy thì phải gắn liền với vấn đề giải
phóng dân tộc.

15
Tiếp thu tư tưởng của Mác – Ăngghen, Lênin khẳng định áp bức, bóc
lột là tai họa lơn đối với người lao động. Sự thay thế của các xã hội trước chủ
nghĩa xã hội chẳng qua chỉ là sự thay thế của các hình thức áp bức bóc lột đối
với người lao động. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có khả năng giải phóng con
người khỏi các hình thức áp bức bóc lột đó.
Ngay từ những năm trước cách mạng tháng 10, Lênin đã khẳng định
mục đích của chủ nghĩa xã hội không chỉ là xóa bỏ tình trạng nhân loại phân

trị là do sự phân chia giai cấp gây ra. Để xóa bỏ mọi bất bình đẳng xã hội và
bất bình đẳng chính trị cần xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp và chỉ có
chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được vấn đề đó. Tuy nhiên dưới chủ nghĩa xã
hội, bình đẳng không có nghĩa là ngang nhau về mọi phương diên mà phải luôn
hiểu rằng đó là sự bình đăng xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội của con người.
1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đƣờng đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Nói về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin đã
chỉ rõ, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vừa có tính phổ biến vừa mang nét
đặc thù, các dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không hoàn toàn giống nhau mà
mang theo đặc điểm của dân tộc mình.
Ngay trong Lời tựa cho bản tiêng Đức Tuyên Ngôn Của Đảng cộng sản
xuất bản năm 1872, Mác - Ăngghen đã nêu “…Chính ngay “Tuyên ngôn” cũng
đã giải thích rõ ràng bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, việc áp dụng những nguyên
lý đó phải tùy theo hoàn cảnh lịch sử đương thời, và do đấy, không nên quá câu
nệ vào những biện pháp cách mạng nêu ra ở cuối chương II ” [24; 128]
Kế thừa tư tưởng đó Lênin cũng nêu luận điểm có giá trị lớn về mặt
phương pháp luận về quan hệ giữa tính phổ biến và tính chất đặc thù của con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã

17
hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ
nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa
đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ,
vào loại hình nàu hay loại hình khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ
này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác
nhau của đời sống xã hội ” [14;160]
Những phác thảo ban đầu về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội khác về
chất so với các xã hội trước đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng bước đầu nêu ra
một số cách thức, biện pháp để đi lên chủ nghĩa xã hội.

chính của giai cấp vô sản
Là thời kỳ sinh đẻ lâu dài và đau đớn
Cụ thể hóa và làm phong phú thêm quan điểm của Mác, Lênin đã đưa
ra một định nghĩa về thời kỳ quá độ: “…Danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận
dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành
phần, những bộ phận, những mảnh của cải của chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa
xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có” [17;362]. Tiếp sau đó
Lênin lại nói rõ thêm: “Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ
nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định. Thời kỳ
đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết
cấu kinh tế - xã hội ấy. Trong thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải
một thời kỳ đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản đang giãy chết và chủ nghĩa cộng
sản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa chủ nghĩa tư bản đã bị đánh
bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và chủ nghĩa cộng sản đang phát sinh nhưng
vẫn còn rất non yếu” [ 20;309-310].
Căn cứ vào những luận điểm về phạm trù thời kỳ quá độ của C.Mác nêu
trong “Phê phán cương lĩnh Gôta”, Lênin đã phân chia quá trình hình thành và
phát triển của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thành ba giai đoạn:

19
Giai đoạn 1. “Những cơn đau đẻ kéo dài”;
Giai đoạn 2. “Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa “
Giai đoạn 3. “Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa.”[ 16;223]
Lênin cho rằng “những cơn đau đẻ kéo dài” chính là thời kỳ quá độ từ
chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy thời kỳ quá độ có vị trí độc
lập tương đối, không nằm trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản. Nhận
thức rõ như vậy mới xác định được phạm vi của nó từ đâu đến đâu. Do tính
chất lâu dài của thời kỳ quá độ, Lênin còn phân chia thời kỳ quá độ thành
những bước quá độ nhỏ hơn với mục đích bắc những chiếc cầu nhỏ để đi lên
chủ nghĩa xã hội .

luận điểm có giá trị và kế thừa những thành tựu trong văn hóa tư sản, kế thừa
những giá trị quý báu mà nhân loại đã có được trong thời kỳ phát triển Tư bản
chủ nghĩa. Lênin đã đưa ra công thức:
“Chính quyền xô viết + trật tự đường sắt phổ + kỹ thuật và cách tổ chức
các tờ rớt ở Mỹ + ngành giáo dục quốc dân Mỹ etc.etc. ++ = ∑ = Chủ nghĩa
xã hội ” [ 17;684]
Sáu là, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản – nhân tố quyết định thành
công con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mác - Ăngghen đã phân tích về mối quan hệ giữa những người vô sản
với những người cộng sản, chỉ rõ vai trò lãnh đạo của những người cộng sản
đối với cuộc cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Phát triển tư tưởng đó, Lênin đã
luôn khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản là nhân tố quyết định
thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội “Chỉ có Đảng cộng sản, nếu nó thực sự là đội tiên
phong của giai cấp cách mạng, nếu nó bao gồm những đại biểu ưu tú nhất của
giai cấp đó, nếu nó bao gồm tất cả những chiến sĩ cộng sản hoàn toàn có ý

21
thức và trung thành, có học vấn và được tôi luyện bằng kinh nghiệm đấu tranh
cách mạng bền bỉ, nếu nó biết gắn liền với toàn bộ cuộc sống của giai cấp
mình và thông qua giai cấp gắn liền với tất cả quần chúng đó tin tưởng hoàn
toàn vào mình, chỉ có một đảng như vậy mới có thể được lãnh đạo giai cấp vô
sản trong cuộc đấu tranh cuối cùng, kiên quyết, thẳng tay nhất chống lại tất cả
mọi thế lực của chủ nghĩa tư bản ” [21; 227 ]
1. 2 Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đƣờng đi
lên chủ nghĩa xã hội.
Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới ở thế kỷ XX. Đại hội VII
của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1991 ghi nhận: “ Cùng với chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam của
Đảng ta”. Thực tiến và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta hơn 80

thành chủ nghĩa yêu nước truyền thống; là nước nông nghiệp, lấy đất và nước
làm nền tảng với chế độ công điền hình thành cộng đồng bền chặt. Tất cả điều
này là giá trị cơ bản của tinh thần và tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam:
Tinh thần yêu nước, yêu thương đùng bọc trong hoạn nạn đấu tranh, cố kết
cộng đồng quốc gia dân tộc.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ truyền thống văn hóa lâu đời,
bản sắc riêng. Đó là nền văn hóa lấy nhân nghĩa làm gốc, trừ độc, trừ tham,
trọng đạo lý; nền văn hóa mang tính dân chủ; có tính chất khoan dung; một
dân tộc trọng hiền tài, hiếu học. Hồ Chí Minh đã quan niệm Chủ nghĩa xã hội
là thống nhất với văn hóa, chủ nghĩa xã hội là giai đoạn phát triển cao hơn so
với chủ nghĩa tư bản về mặt văn hóa và giải phóng con người.
Hồ Chí Minh còn tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ tư duy triết học phương
Đông: Coi trọng hòa đồng, đạo đức nhân nghĩa.

23
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ yêu cầu thực tiến của cách
mạng Việt Nam và xu hướng phát triển của thời đại.
Cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ thứ XX đặt ra yêu câu khách quan là
tìm một ý thức hệ mới đủ sức vạch ra đường lối và phương pháp cách mạng
đúng đắn đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Cách mạng Việt Nam
đòi hỏi có một giai cấp tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất mới, có hệ
tư tưởng độc lập, có ý thức tổ chức và trở thành giai cấp tự giác đứng lên làm
cách mạng. Hồ Chí Minh đã nhận thấy phong trào yêu nước Việt Nam đang
rơi vào khủng hoảng về đường lối, vì vậy cách mạng giải phóng dân tộc chưa
thành công được.
Trong khi đó thắng lợi của cách mạng tháng 10 Nga đã mở ra con
đường hiện thực giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, đó là thực tiễn đã mở
ra cho cách mạng Việt Nam.
Nhận thức về chủ nghĩa xã hội ở Hồ Chí Minh là kết quả tác động tổng
hợp của các nhân tố truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế; kinh tế,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status